Ý thức và trách nhiệm

Ý thức hệ trong mỗi con người là một loại thức ăn rất quan trọng gọi là Thức thực. Thân thể chúng ta được hình thành ngày hôm nay đẹp hay xấu là do tác động của ý thức, trong đó gồm có Chánh báo và Y báo. Chánh báo thân thể này gồm có thân và tâm. Y báo thuộc hoàn cảnh chung quanh ta đang sống. Vì thói quen được huân tập lâu ngày từ nhiều kiếp xa xưa nên bây giờ ta có Chánh báo và Y báo tốt hoặc xấu.

Chánh báo và y báo là chỉ chung cho tất cả chúng sinh, đặc biệt là con người vì có hiểu biết và sự phân biệt đúng sai. Không có loài hữu tình nào có trí khôn và thông minh hơn loài người. Nói cho dễ hiểu hơn, chánh báo thuộc về con người tức thân và tâm. Y báo thuộc vể môi trường hoàn cảnh, sự vật chung quanh.

Chính vì thế, chánh báo và y báo có sự sống liên quan mật thiết với nhau. Nhưng chánh báo là chủ động tạo tác, còn y báo là phụ thuộc vào con người. Như những thứ: nhà cửa, xe cộ, vườn tượt, cây cối, ao hồ, đất đá, sông biển v.v… tất cả đều thuộc về y báo.

Một chánh báo tốt đẹp, thì y báo cũng nương theo đó mà được trang nghiêm tốt đẹp. Muốn cho hoàn cảnh môi trường chung quanh được  tốt đẹp và an ổn lành mạnh, trước hết chúng ta phải giáo dục xây dựng con người biết cách hoàn thiện về chính mình. Chúng ta xây dựng con ngườitrước tiên phải tin sâu nhân quả, biết hướng thiện, sống đạo đức cả hai phương diện về thể chất cũng như tinh thần.

Muốn biết một quốc gia có mức sống tiến bộ cao hay thấp, chúng ta hãy nhìn vào hoàn cảnh môi trường sống chung quanh của quốc gia đó, thì sẽ biết ngay. Nhất là những nơi sinh hoạtchính của trung tâm đầu não như: phố thị, bến xe, đường xá, cầu xí, v.v…Chúng ta không cần phải tìm hiểu ở đâu xa. Cứ nhìn vào những nhu cầu tín ngưỡng dân gian, ai cũng có thể biết được chánh báo tốt hay xấu.

Chánh báo của cá nhân cũng dựa vào nguyên lý này mà ta có thể biết được họ là hạng người nào. Dựa theo nguyên lý nầy, chúng ta khéo biết ứng dụng vào trong đời sống hằng ngày rấtcó nhiều lợi ích thiết thực. Sự tu hành của mỗi người, trước tiên là ta phải biết làm chủ thân miệng ý của mình.

Nếu thân tâm của ta có được phước đức đầy đủ, thì hoàn cảnh chung quanh ta nương theo đó mà sung túc đủ đầy và an ổn tốt đẹp. Ðó là chúng ta khéo biết xây dựng và tu sửa chính mình.Tâm là cái gốc sinh ra bao điều tốt đẹp, khi tâm vững chắc lành mạnh tốt đẹp rồi, thì mọi thứ xung quanh cũng theo đó mà có nhiều ảnh hưởng tốt đẹp theo. Bởi vì tất cả hoàn cảnh sự vật tốt đẹp đều do chính con người tạo ra.

Chánh báo và Y báo đều là sự biểu hiện của tâm thức được hình thành qua nền tảng nhân quả. Loại thức ăn này rất quan trọng vì nó là phần tinh thần và quyết định cuộc đời tốt xấu của ta. Tâm tư sáng suốt, hành động lương thiện sẽ giúp chúng ta tiếp nhận các món ăn trong sáng, từ bi và trí tuệ. Nếu trong quá khứ tâm thức đã tiếp nhận thức ăn độc hại quá nhiều thì ngày nay tâm thức ta biểu hiện ra Chánh báo, Y báo không lành mạnh mà còn tối tăm, mờ mịt.

Những gì ta suy tư trong thấy-nghe-ngửi-nếm và tưởng tượng là những thứ được cất giữ trong kho chứa tâm thức. Nếu kho tâm thức này chứa vô minh, tham lam, ích kỷ, oán giận, thù hằn và phiền muộn, khổ đau thì khi đủ duyên chúng sẽ phát sinh.

Chính vì vậy, chúng ta phải biết phân loại những thức ăn đưa vào kho tâm thức, phải nên đưa từ-bi-hỷ-xả, lòng bao dung độ lượng, giúp đỡ và sẻ chia, yêu thương và hiểu biết bằng tình người trong cuộc sống để nuôi dưỡng tâm thức mỗi ngày.

Đức Phật đã dùng phương tiện hình ảnh một người tử tù đang bị vua hành hình để nói về Thức thực. Buổi sáng vua ra lệnh lấy 300 cây kim đâm vào thân thể người tử tội, đến chiều tối vua hỏi, “kẻ tử tù đó bây giờ ra sao?” Viên cai ngục trả lời, “tâu bệ hạ, nó vẫn còn sống nhưng rên la thê thảm lắm!” Phật dùng ví dụ này để nhắc nhở chúng ta đừng nên hành hạ tâm thức của mình y như thế, đừng đâm 300 mũi kim của độc tố tham lam, giận dữ, si mê, ganh ghét, tật đố, hận thù, bạo động và sợ hãi vào kho tâm thức của chúng ta mỗi ngày.

Bốn thí dụ trên được ghi lại trong Kinh Tử Nhục. Tử Nhục là thịt của đứa con. Hai vợ chồng và đứa con cùng đi qua sa mạc nhưng nửa đường hết thức ăn, nếu không có cả ba đều chịu chết, cuối cùng hai người đành phải giết con để ăn mà vượt khỏi sa mạc. Bốn ví dụ nghe rất khiếp đảm và ghê sợ, mục đích chính nhằm răn bảo chúng ta phải sáng suốt gìn giữ thân-miệng-ý để đừng làm tổn hại cho mình và người.

Ăn uống là nhu cầu chính yếu hằng ngày, khi ăn ta phải tỉnh giác biết rõ thức ăn nào không làm tổn hại thân tâm, trong khi ăn phải biết mình đang ăn, thức ăn ngon hay dở đều biết rõ; mặn, lạt, chua, cay ta đều biết nhưng không để tâm bị lôi kéo về quá khứ hay mơ mộng đến tương lai hoặc quá lo lắng mà đánh mất mình trong hiện tại.

Trước khi ăn mọi người nên quán tưởng như sau: Cơm ngày ba bữa thường nhớ công khó nhọc của kẻ nông phu. Thân mặc ba y hằng xét nghĩ sự nhọc nhằn của người may dệt. Thuốc thang giường chõng bởi do sự nhín ăn bớt mặc của tín thí khắp nơi. Học đạo tiến tu nhờ lòng từ dạy răn của thầy Tổ. Nguyện cho thí chủ và tất cả chúng sinh phước huệ song tu, nhân tròn quả giác, kẻ mất người còn đều trọn thành Phật đạo.

Trước khi ăn ta quán tưởng như thế để tâm hằng nhớ ghi huân vào kho tâm thức, do đó khi đưa thức ăn vào miệng ta nhìn thấy rõ thức ăn ấy với con mắt tỉnh giác. Ta ăn để mà sống, ăn vì thành tựu đạo nghiệp chứ không phải sống để mà ăn.

Khi ăn ta nhìn miếng đậu hũ như một dược liệu thuốc thang để chữa bệnh đói khát, nhờ vậy ta thấy rau cải, nước tương là đại sứ của đất trời đến với ta để nuôi dưỡng thân này. Lòng ta tràn đầy niềm biết ơn và hoan hỷ, vui vẻ với những người đã gieo mầm sống để chúng ta dưỡng thân mà tu tập. Khi nhai ta nhai trong ý thức, ta biết rằng mình đang tiếp xúc với những chất liệu trong sáng, lành mạnh.

Thường khi ăn nếu không tỉnh giác ta sẽ nhai những buồn thương, giận ghét, phải quấy, tốt xấu, hơn thua và lo lắng. Vô tình ta đang nhai quá khứ và tương lai mà đánh mất mình trong hiện tại. Ta nhai đều đặn thức ăn rau cải được trộn chung với cơm sẽ trở thành chất loãng, nhờ vậy rất dễ tiêu và bổ dưỡng, không bị bón kiết. Như thế ta không cần phải ăn quá nhiều mà dinh dưỡng vẫn đầy đủ để nuôi dưỡng thân khỏe, tâm an.

Phương cách tốt nhất giúp ta tỉnh giác khi hành Thiền là ta biết giữ hơi thở trong tâm. Chúng ta có thể kiềm chế không cho nó phát khởi khi ta có đề mục Thiền quán làm chỗ nương trú trong tâm. Chỗ nương trú bên ngoài của tâm là thân, gồm các yếu tố vật chất. Quay về với thực tại chính mình cũng là chỗ nương trú bên trong của tâm, điều này giúp tâm không chạy lang thang theo suy nghĩ này, vọng tưởng nọ.

Chúng ta đừng để tâm chạy theo những mối ưu tư của nó giống như những người bình thường chưa biết quán sát hơi thở là gì. Một khi ta đã có chỗ an trú để giữ con khỉ tâm thức thì nó ngày càng bớt ngang ngạnh và từ từ bớt rong rủi chạy tìm.

Bây giờ ta nói đến phương cách thực hành Thiền quán hơi thở. Các Kinh sách dạy rằng, thở vô mình biết thở vô, thở ra mình biết thở ra, thở vô dài và sâu, thở ra dài và nhẹ nhàng. Đó là những bước khởi đầu trong việc thực hành quán hơi thở.

Khi thực tập một thời gian và bắt đầu có sức định tĩnh ta không còn chú tâm đến độ dài-sâu-ngắn của hơi thở nữa mà chuyển sang bước kế tiếp. Chúng ta sẽ tập trung ý thức để nhìn hơi thở ngay nơi lỗ mũi của mình và tiếp tục làm như thế cho đến khi tâm lắng dịu, trong sáng, nhẹ nhàng.

Khi tâm đã yên lắng chúng ta sẽ tập trung vào sự tĩnh lặng của tâm, đơn giản là ta trụ nơi tâm thanh tịnh nhưng quán sát nó với mỗi hơi thở vào ra như các bước sau:

Tâm: Tập trung ý thức chú tâm vào hơi thở, theo dõi hơi thở vô ra hoặc trụ hơi thở tại mũi hay môi trên. Nếu cảm thấy khó chịu hay căng thẳng quá, chúng ta có thể chuyển sự chú tâm vào vùng dưới rốn nơi huyệt đan điền. Sự chú tâm và theo dõi trong lúc ngồi Thiền phải đầy đủ ba yếu tố ý thức, chú tâm và tỉnh giác. 

Hơi thở: Chúng ta cứ để hơi thở vô ra tự nhiên, không cố làm cho hơi thở dài thêm hay ngắn lại. Thở đều đặn, nhẹ nhàng một cách tự nhiên và chỉ cần theo dõi hơi thở vô ra là đối tượng duy nhất trong suốt thời gian hành Thiền. Thỉnh thoảng, nếu nghĩ đến chuyện khác chúng ta chỉ kiên trì, bền chí quay lại theo dõi hơi thở ra vô mà thôi.

Khi bắt đầu Thiền quán sát hơi thở, việc đầu tiên chúng ta cần nhớ là phải ngồi giữ lưng cho thẳng và giữ mình trong tỉnh giác, thở vô ta biết mình đang thở vô, thở ra ta biết mình đang thở ra. Hãy giữ hơi thở êm ái, nhẹ nhàng; đừng gồng tay chân hay bất cứ cơ khớp nào; giữ thân ở tư thế phù hợp với hơi thở. 

Chúng ta chỉ làm một việc duy nhất là chỉ đơn thuần theo dõi và nhận biết hơi thở rõ ràng, thở vô mình biết mình đang thở vô, thở ra mình biết mình đang thở ra. Hơi thở dài hay ngắn là tùy theo khả năng của mỗi người.

Chúng ta phải biết rõ sự vận hành của từng hơi thở một cách cụ thể để giữ tâm tỉnh giác, không suy nghĩ lung tung bởi các tạp niệm buồn thương, giận ghét và cuối cùng đạt đến sự định đĩnh. Khi tâm trở nên yên tịnh, trong sáng và hơi thở trở nên nhẹ nhàng ta sẽ cảm giác toàn thân được tịnh lạc.

Hành giả duy trì trạng thái tỉnh giác về hơi thở một cách rõ ràng thì chỉ nhìn hơi thở mà không cần sự chú tâm, cảm giác thân tâm an ổn, nhẹ nhàng. Lúc này, hơi thở thường trở nên rất vi tế, khó nhận diện, có lúc nó dường như không hiện hữu, nhưng đấy chỉ là cảm giác an tịnh của hơi thở.

Có 5 chướng ngại lớn trong việc thực tập Thiền định là:

Dục: còn gọi là các loại tham muốn, luyến ái.

Sân: còn gọi là nóng giận, bực tức, khó chịu.

Hôn trầm: còn gọi là sự lừ đừ, buồn ngủ; tâm mê mờ, dã dượi. 

Trạo hối: còn gọi là tâm dao động, bất an.

Nghi: sự nghi ngờ không biết pháp mình đang tu có thật sự an lạc không. 

Chúng ta có thể ứng dụng các bước thực tập Thiền niệm hơi thở vào đời sống hàng ngày trong mọi lúc, mọi nơi như đi-đứng-nằm-ngồi. Ta nên nhớ quán niệm hơi thở là nền tảng của thực tại nhiệm mầu giúp mỗi hành giả cảm nhận bình yên, hạnh phúc, an ổn, nhẹ nhàng.

Khi thực tập phép quán sát hơi thở, mỗi hành giả từng bước ý thức được mạng sống trong hơi thở mà biết cách buông xả phiền não tham-sân-si và dần hồi thành tựu được bốn lĩnh vực quán niệm về thân-thọ-tâm-pháp. 

Khi hành giả thở vào biết mình thở vào hoặc thở ra biết mình thở ra. Hơi thở dài hay ngắn mà ta có ý thức về hơi thở đang vận hành trong thân sẽ cảm thấy toàn thân an tịnh, biết rõ và nhận diện từng tâm niệm thương-ghét. Đó là lĩnh vực quán niệm thứ nhất - quán thân chỉ là thân. 

Khi mỗi hành giả thở vào hoặc thở ra mà cảm nhận được niềm vui trong an ổn, nhẹ nhàng, vui thích trong niềm vui đó thì mọi tâm tư chán ghét hay ưu phiền tự nhiên tan biến. Những cảm thọ được chứng nghiệm trong hơi thở có ý thức ấy thuộc lĩnh vực quán niệm thứ hai là cảm thọ. 

Khi hành giả thở vào hoặc thở ra làm cho tâm ý an tịnh sẽ tạo ra sự phỉ lạc trong tâm cảm, nhận được tâm ý tự do, giải thoát, không bị giới hạn bởi một sự ràng buộc nào. Không quán niệm về hơi thở thì sẽ không phát triển được tuệ giác và sự hiểu biết chân chính. Đây là bước thứ ba - tập trung vào việc hơi thở ảnh hưởng đến toàn thân như thế nào bằng cách quán sát tất cả những cảm nhận về hơi thở ở các bộ phận của thân, đặc biệt là những cảm nhận liên quan đến hơi thở vô ra.

Khi hành giả thở vào hoặc thở ra mà quán chiếu về tính cách vô thường, hoặc tính cách không đáng tham cầu, vướng mắc của vạn pháp về bản chất không sinh diệt và về sự buông bỏ thì hành giả khi ấy thấy rõ bóng dáng của sáu trần cảnh chỉ là ảo giác không thật. Thân tâm sẽ tự nhất như rồi thể nhập tính biết sáng suốt, nương nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý mà thành tựu viên mãn pháp quán hơi thở.

www.daophatngaynay.com
Từ khóa:
Ý kiến phản hồi


 Refresh

Các tin khác

Từ khóa tìm kiếm