Ngày tu an lạc tháng mười một năm Đinh Dậu

Ngày 03 tháng 01 năm 2018, nhằm ngày 17 tháng 11 năm Đinh Dậu, đông đảo nhân dân Phật tử đã cùng vân tập về chùa Bằng (Linh Tiên tự) để tham dự ngày tu bát quan trai theo lịch tu học hàng tháng.
Đặc biệt, trong ngày tu này, toàn thể đại chúng hướng lòng thành kính kỉ niệm ngày khánh đản Đức Từ Bi Phụ A Di Đà. Đồng thời, đối với Phật tử Đạo tràng Pháp Hoa, đây cũng là ngày bắt đầu vào mùa tu gia hạnh theo sự chỉ dạy của Hòa thượng tôn sư Thích Trí Quảng – Phó Pháp chủ GHPGVN. Hàng năm, Phật tử bắt đầu vào mùa tu gia hạnh vào ngày khánh đản Đức Phật A Di Đà 17 – 11 âm lịch và kết thúc mùa tu gia hạnh vào ngày 8 – 12 âm lịch kính mừng ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác.

Đúng 7h30' sáng, Thượng tọa Thích Chiếu Tuệ - Trưởng Ban hoằng pháp GHPGVN thành phố Hà Nội đã làm lễ niêm hương bạch Phật và đăng đàn truyền giới cho hành giả tu tập Bát Quan Trai giới.

  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
Nhân dịp này, Hòa thượng trụ trì và chư tôn đức Tăng bản tự cùng đại diện Phật tử Đạo tràng Pháp Hoa miền Bắc đã có lẵng hoa chúc mừng Thượng tọa Thích Chiếu Tuệ được Giáo hội tấn phong giáo phẩm Thượng tọa
  
  
  

Sau đó, đại chúng đã nhất tâm cung thỉnh Hòa thượng trụ trì Thích Bảo Nghiêm quang lâm pháp tòa và có thời pháp thoại với chủ đề “Ý nghĩa cửu phẩm Liên Hoa”.
Mở đầu thời pháp thoại, Hòa thượng chia sẻ “Trong hệ thống kinh tạng sau này, chư Tổ chia làm 12 loại bộ kinh, trong đó giáo lý về Tịnh độ thuộc về giáo lý vô vấn tự thuyết, đó là bản kinh Phật thuyết về Phật A Di Đà. Dựa vào đó, tôn giả Ma Ha Ca Diếp đã thực hiện các lần kết tập kinh điển và giáo pháp Phật được hoằng tuyền tất cả mọi nơi. Trong đó, lịch đại Tổ sư cho tới chư tôn đức hiện tại cùng quý vị Phật tử đã hoằng truyền, triển khai tinh thần giáo lý Tịnh độ mà Đức Phật đã dậy để thành một tông phái riêng, chuyên trì Hồng danh Đức Phật A Di Đà, tin tưởng rằng ở cõi Cực lạc ở Phương Tây có Đức Phật A Di Đà đang thuyết pháp, một thế giới cực lạc tất cả mọi người hướng về. Sau khi xả bỏ báo thân này, lúc sinh thời tu nhân tích đức, ăn hiền ở lành, chuyên tâm tu hành giới luật, trì tụng kinh văn sẽ được Phật A Di Đà, Bồ Tát Quán Âm, Bồ Tát Thế Chí, đón về cõi Cực Lạc phương Tây. Pháp môn tu niệm Phật và vãng sinh Tây Phương Cực lạc coi như một pháp môn dễ tu, dễ chứng, phổ cập, phổ thông, tất cả mọi tầng lớp, ở bất cứ nơi đâu, đi đứng, nằm ngồi đều trì niệm hồng danh của Phật A Di Đà được.
Trong quá khứ, chư Tổ đã hoằng tuyền Tịnh độ rất hữu hiệu. Sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật đã được phổ cập trong dân gian, dù là những người tu tập theo pháp môn Tịnh Độ hay các pháp môn khác, tới những người tín ngưỡng trong dân gian, đến những người bắt đầu có duyên lành, ảnh hưởng của Phật giáo, bắt đầu đến chùa, cho tới nơi đình, đền, miếu mạo, nơi thờ cúng công cộng, bàn thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ cũng niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Sáu chữ đó nó trở thành thân quen, xuất phát từ miệng và đi tới trái tim của tất cả mọi người. Đến chùa, chư tôn đức chào nhau, Phật tử chào Chư Tôn đức, Chư Tôn đức chào quý Phật tử cũng đều Nam Mô A Di Đà Phật. 
Nguyện sinh Tây phương Tịnh độ chung
Cửu phẩm Liên hoa vi phụ mẫu
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sinh
Bất thoái Bồ tát vi bạn lữ
Hôm nay trong ngày tu an lạc mừng khánh đản Đức Phật A Di Đà, chúng tôi trích yếu ý nghĩa của Cửu Phẩm Liên Hoa mà giáo lý Tịnh độ thường nhắc tới. Trong bài giảng này chúng tôi muốn giới thiệu với Đại Chúng tinh thần Cửu Phẩm Liên Hoa trong bộ Nhị khóa hợp giải của tổ Hưng Từ đã chú giải, để chúng ta từ đó chiêm nghiệm, đánh giá xem mình giờ phút này lên được phẩm nào, tầng thứ mấy, để trong những giây phút còn lại của hiện tại, ta nguyện tiếp tục tu tập để lên tới tận cùng của cửu phẩm liên hoa là Thượng Phẩm Thượng Sinh. Tầng 1, tầng 2, tầng 3 là Hạ Phẩm. Phẩm này dành cho những người chuyên môn làm việc ác. Tầng 4, tầng 5, tầng 6 là Trung Phẩm. Phẩm này dành cho những người chuyên làm việc thiện. Tầng 7, tầng 8, tầng 9 là Thượng Phẩm. Phẩm này dành cho các vị chuyên tu Đại Thừa giáo”.
Sau đó, Hòa thượng đã giảng giải cho đại chúng về từng tầng của cửu phẩm Liên Hoa.
Tầng thứ nhất, Hạ phẩm Hạ sinh. Những người khi còn sinh thời tạo 5 tội ngũ nghịch (giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, phá hòa hợp Tăng, làm thân Phât chảy máu) và 10 điều ác ( sát sinh, trộm cắp, tà hạnh, nói dối, nói lời độc ác, nói lưỡi 2 chiều, nói lời thêu dệt, tham, sân và si), khi họ chết đi, cảnh địa ngục A Tỳ hiện ra. May mắn rằng trong giờ phút chuẩn bị lâm chung, người đó gặp được Thiện tri thức, người Phật tử niệm Phật chân chính, chỉ bảo rằng” Trong đời sống anh/chị đã làm những điều ác nghịch, trong giờ phút hấp hối này phải biết ăn năn, hối lỗi và nguyện vãng sinh Tây Phương Tịnh độ”.  Những ai biết làm theo như vậy thì tội được tiêu trừ, ngồi trong đài sen ở thế bên kia, nhưng phải trải qua 12 đại kiếp hoa mới nở, được thấy 2 bậc thánh nói cho Pháp môn niệm Phật, nhìn ra thực tướng, người đó phát tâm Bồ Đề, nguyện thành Chính giác. Việc có một thiện tri thức khai thị cho người sắp mất, đây là một tư tưởng rất nhân văn của giáo lý Tịnh độ. Dù người đó làm thiện hay làm ác, chỉ cần nhất tâm sẽ được vãng sinh.
Tầng thứ 2, Hạ phẩm Trung sinh. Những người khi còn sống phá giới, phạm trai, ăn trộm của thường trụ Tam Bảo, bất tịnh thuyết pháp. Những người đó khi chuẩn bị lâm chung, nhìn thấy tất cả các điều ác ngay trước mắt. Trong lúc bàng hoàng nhớ lại những điều tội lỗi đó, tâm tưởng ăn năn, hỗi lỗi. Những lúc như thế, gặp được người thiện tri thức, khuyên giải về công đức của việc trì giới, khuyên người đó sám hối những việc đã làm, khuyên người đó tán thán công đức của Đức Phật A Di Đà. Người bệnh đó tuy nhìn như không biết gì nhưng thần thức người đó vẫn nghe thấy, nghe công đức của Đức Phật và nghe công năng tu tập ba vô lậu học – Giới, Định Tuệ học, nghe lời khuyên niệm Phật thì tuy miệng không mấp máy môi nhưng trong tâm thức người đó vẫn niệm Phật theo lời khuyên của những người thiện tri thức, được tiêu trừ 80 ức kiếp tội lỗi, được chư Thiên rải hoa, thấy hóa thân của các Đức Phât, Bồ Tát đến. Trong giây lát nhất tâm niệm Phật được thấy các bậc đại Thánh tu Đại thừa rồi được vãng sinh Tây Phương. 
Tuy tạo tội nhưng đến giờ phút lâm chung, biết ăn năn hỗi lỗi vẫn chuyển hóa được để được vãng sinh. Tuy nhiên, không vì thế mà ta quan niệm rằng bây giờ cứ phóng túng, cứ gây tội lỗi rồi đến phút lâm chung, ăn năn sám hối để được vãng sinh. Chúng ta đã biết đến Phật Pháp, được thụ trì giới pháp thì phải giữ gìn giới pháp, tinh tân niệm Phật, tự mình tu tập chứ không đợi chờ vào người khác đến trợ niệm. Chúng ta phải tự mình chính niệm như khi ta còn khỏe, tự ăn tự uống mới hấp thu được nhiều chất dinh dưỡng. Đợi đến khi người khác phải bón cho ăn, cho uống thì chỉ được một ít cơm, ít cháo, không thấm được bao nhiêu.
Tầng thứ 3, Hạ phẩm Thượng sinh. Những ai lúc sinh thời tuy không phạm trai, phá giới, không phỉ báng Phật pháp nhưng chuyên làm điều ác nghiệp, tâm địa độc ác. Lúc lâm chung gặp được bậc thiện tri thức khuyên bảo người đó ăn năn hối lỗi, buông bỏ muôn duyên, cùng theo đại chúng nhất tâm niệm Phật, thì trừ được 1000 ức kiếp sinh tử trọng tội rồi gặp Phật, chư tôn Bồ Tát,  Thánh Chúng đến để tiếp dẫn về Tây Phương.
Tầng thứ 4, Trung phẩm Hạ sinh. Những người tu tập theo pháp thế gian, những người sơ cơ, chưa được thánh thiện nhưng không làm ác, biết hiếu kính, thương yêu, nhân từ với mọi người. Khi lâm chung gặp được bậc thiện tri thức giảng dạy về công đức của Phật A Di Đà, tán thán công đức của cõi Cực Lạc, nghe 48 đại nguyện của Phật Di Đà. Trong giờ phút đó được hóa sinh trong hoa sen. Bảy ngày bảy đêm thì hoa nở, người đó được chứng về cõi Cực Lạc Phương Tây và tu tập thêm 1 tiểu kiếp thì chứng quả A La Hán. Quý vị Phật tử, hằng ngày sống đời sống chính kiến, tu tập mọi pháp lành, nghe pháp, niệm Phật, không phạm vào các giới cấm và các điều ác thì chúng ta hãy tin tưởng rằng, sau này khi lâm chung, chúng ta sẽ được sinh về Tây phương Cực lạc, ít nhất cũng phải được tầng thứ 4, Trung phẩm Hạ sinh.
Tầng thứ 5, Trung phẩm Trung sinh. Nếu người nào một ngày một đêm nghiêm trì bát quan trai giới, hoặc thụ 10 giới Sa Di hoặc xuất gia thụ giới Cụ túc. Đem công đức hồi hướng về Tây Phương Cực Lạc, khi lâm chung được Phật phóng hào quang sáng rực, ngồi trên hoa sen 7 báu. Tự nhiên hoa sen cụp lại, người đó hóa sinh về ao thất bảo. Sau bảy ngày sen nở, người đó lễ Phật, chứng quả đầu tiên Tu Đà Hoàn rồi tinh tấn tu hành trong nửa tiểu kiếp thì chứng được quả vị A La Hán. 
Tầng thứ 6, Trung phẩm Thượng sinh. Người nào thụ trì trai giới trọn đời, hồi hướng về Tây Phương Cực lạc. Khi lâm chung thấy Phật A Di Đà phóng hào quang vàng, nghe Phật thuyết về Tam pháp ấn, khổ, không, vô thường, vô ngã. Người đó được lên đài hoa sen, học hạnh Đầu đà rồi vãng sinh về Tây phương Cực lạc. Quý vị Phật tử giữ gìn trai giới, không sát sinh, ăn chay, niệm Phật. Tuy nhiên ăn chay nhưng tâm cũng phải trai tịnh, tránh khoe khoang, hám danh, hám lợi. Ăn chay, không phải nín nhịn, nước dãi thèm thuồng rồi ngày mai ăn bù. Ăn chay cốt sao tâm cũng phải giữ gìn trai tịnh đó mới có ý nghĩa thật sự. 
Tầng thứ 7, Thượng phẩm Hạ sinh. Những ai tin theo giáo pháp đại thừa rồi tu tập theo luật nhân quả, phát tâm vô thượng bồ đề. Thấy điều thiện phải làm, thấy điều ác phải tránh, đem công đức đó hồi hướng về Tây Phương Cực lạc. Khi lâm chung được thấy một lúc 500 hóa Phật, chư vị Bồ tát và thánh chúng tiếp dẫn về cõi Tây Phương Cực Lạc. Người hành giả tự lực của mình mà vãng sinh, không cần dựa vào tha lực của những bậc thiện tri thức, của quý Thầy và quý vị Phật tử hộ niệm. Có hộ niệm thì như hổ mọc thêm vuốt nhưng không có người hộ niệm ta vẫn vãng sinh Tây phương. Các Phật tử đâu biết trước, khi ta lâm chung, liệu có gặp được các bậc thiện tri thức, có người hộ niệm hay không gặp được những người trợ niệm giúp mình. Vậy phải cố gắng phấn đấu đạt được tầng thứ 7 để tự sức mình bước đi trên hành trình về cõi Cực lạc. 
Tầng thứ 8, Thượng Phẩm Trung sinh. Những ai hằng ngày được nghe giảng giải, đọc tụng, xiển dương Giáo Pháp Đại thừa, tin tưởng vào Giáo Pháp của Phật. Khi lâm chung được thấy 1000 hóa Phật, chư vị Bồ tát và thánh chúng, tự chứng lên đài sen vàng, sinh về Tây Phương Cực lạc.
Tầng thứ 9, Thượng phẩm Thượng sinh là Tam tâm viên phát (Thân tín tâm, Chí thành tâm và Hồi hướng phát nguyện tâm). 
Tâm tâm tịnh độ tưởng liền
Dốc lòng cứ niệm thường xuyên Di Đà
Thời hiện tại không xa gang tấc
Ngay chốn này Cực lạc rồi đây
Ta phát chí thành tâm, lúc nào cũng nhớ đến cõi Cực lạc, tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, tin có cõi Tịnh giới. Làm mọi điều phước lành và nguyện đem tất cả công đức hồi hướng về cõi Tây Phương Cực Lạc. Khi lâm chung, được thấy vô số vô lượng hóa thân của chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh tăng. Tự thân mình ngồi trên hoa sen báu, trong giây lát, hoa sen nở, được chứng vô sinh pháp nhẫn, được 10 phương chư Phật thụ ký rồi nương theo bản nguyện của mình, quay trở lại thế giới Ta Bà để tiếp tục phổ độ quần sinh.
Những người tu Tịnh độ chúng ta, ai cũng phải tin sâu giáo pháp, tinh tấn niêm Phật và mong muốn phát nguyện rằng khi về Tây Phương Cực Lạc, tu thành đạo quả rồi thì phải quay trở về cõi Ta Bà này để cùng với các bậc thiện tri thức hoằng truyền chính pháp. Giúp đỡ chúng sinh cũng được vãng sinh Tịnh độ như mình.
Cuối cùng, Hòa thượng mong rằng toàn thể đại chúng hãy tinh tiến tu tập, nhất tâm niệm Phật, thực hành theo những lời Đức Phật chỉ dạy, chuyển hóa thân tâm để cuộc sống hiện tại an lạc, sau sẽ được vãng sinh vào cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà.

  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  

Sau thời pháp thoại ý nghĩa của Hòa thượng trụ trì, dưới sự chủ lễ của chư tôn đức Tăng bản tự, đại chúng tiếp tục trì tụng Kinh A Di Đà nguyện cầu thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc.

  
  

Buổi trưa, đại chúng thực hiện nghi thức Cúng Quá Đường, dùng cơm chay trong chính niệm tỉnh thức và an lạc.

  
  
  

Đầu giờ chiều, dưới sự chủ lễ của Hòa thượng trụ trì, đại chúng đã lễ 48 lời đại nguyện của Đức Phật A Di Đà và niệm 6 chữ hồng danh “Nam Mô A Di Đà Phật”, sau đó tụng thời kinh A Di Đà khép lại ngày tu an lạc.

  
  
  
  

chuabang.com
Từ khóa:
Ý kiến phản hồi


 Refresh

Các tin khác

Từ khóa tìm kiếm