Dù trên phương diện nào, sát sanh ddều bắt nguồn từ sân hận

Theo Vi diệu pháp (Abhidhamma), việc sát sanh luôn luôn được thực hiện với tâm sân hận hoặc tức giận. Thông thường, dù bất cứ động lực nào thúc đẩy để sát sanh, thì việc giết hại ấy đều gắn liền với tâm sân hận. Ở đâu có sân hận (paṭigha) thì ở đó có sự bất mãn hay không toại ý (domanassa). Ở đâu, có sự bất mãn thì ở đó có sân hận dù trên phương diện vi tế hoặc thô thiển.
image

Ví dụ, giả thiết cho rằng một đứa trẻ không thể phân biệt được giữa cái đúng và cái sai nên rất vui khi giết một con kiến. Nó không biết rằng mình đang gây ra nghiệp sát sanh mà chỉ đùa nghịch vui chơi vậy thôi. Vậy, lúc đó, đứa bé ấy có khởi ác ý với con kiến không? Đứa bé có bất cứ cảm thọ bực tức hoặc giận dữ với việc làm của mình? Điều này rất khó nói loại tâm nào mà đứa bé kinh qua trong thời điểm đó? Đó không thể là loại tâm thứ 9 và thứ 10, bởi vì đứa bé chỉ ngây thơ thực hiện hành động ấy trong niềm ưa thích và trìu mến con kiến. Có thể đó là loại tâm thứ ba được bắt nguồn từ căn tham (lobha)?

Một người lớn đi săn và xem đó là trò giải trí, như vậy, người ấy đã khởi tâm thứ 9 hoặc thứ 10. Người ấy có ác ý ngay trong thời điểm dương súng muốn bắn chết con thú.

Vậy, về vấn đề này, chúng ta nghĩ gì với khoa giải phẩu cơ thể sinh vật? Nhà khoa  học mổ xẻ một sinh vật mà hoàn toàn không có sự ăn năn do dự nào. Động cơ chính yếu của ông ta có lẽ là nghiên cứu khoa học vì giảm bớt sự đau khổ của nhân loại. Tuy nhiên, vẫn có ý tưởng sát sanh trong việc làm này.

Chúng ta có khởi ác ý khi giết một con vật đang quằn quại đau khổ vì vết thương nặng? Do lòng từ bi, chúng ta có thể thực hiện như thế. Nhưng, vẫn có ác ý khi giết, bởi vì chắc chắn có ác cảm huwowngks về đối tượng bị giết. Nếu hành động như vậy phù hợp với đạo đức, thì chúng ta có phản đối việc một ai đó giết một người mắc bệnh nan y phải chịu đựng khổ đau tột cùng vì không chữa trị được?

Như đã trình bày ở trên, nếu nơi nào có ác ý, thì nơi đó có buồn phiền. Ví dụ, khi thi rớt, chúng ta cảm thấy sầu muộn. Vậy, chúng ta có bực tức trong thời điểm đó? Nếu suy sét kỉ ý nghĩa của thuật ngữ sân hận (pañigha), thì chúng ta sẽ thấy câu trả lời rất rõ ràng. Điều này không còn nghi ngờ gì nữa, như khi nhận một tin buồn, thì chắc chắn loại cảm giác bất mãn này sẽ sanh khởi. Nó cũng giống trường hợp một người khóc lóc thảm thiết khi người thân của mình vĩnh biệt cuộc đời, bởi vì đó là một sự kiện vô cùng đau buồn. Cấp bực A-na-hàm[1](Anàgàmãs) và A-la-hán[2](Arahants) không bao giờ cảm thấy buồn rầu hay sầu não, bởi vì các ngài đã tận diệt sân hận (pañigha).

Khi Thế Tôn nhập niết-bàn, ngài A-nan (Ananda) vô cùng đau buồn thương tiếc, vì khi ấy ngài mới chứng quả vị Tu-đà-hoàn[3](Sotàpanna), nhưng các bậc A-la-hán (Arahants) và A-na-hàm (Anàgàmãs) như ngài Ca-diếp (Kassapa) và A-nậu-lâu-đà (Anuruddha) đã thực tập pháp xã ly hoàn hảo nên không hề rơi lệ sầu thương. 



[1] A-na-hàm còn được gọi là Bất lai, nghĩa là Không trở lại nữa, xuất hiện nơi vị đã diệt sạch hai kiết sử Tham và Sân. Nhân duyên làm chúng ta cứ bị liên lụy với cõi đời này chính là do tham lam, tham dục, hận thù, ganh ghét. Hết hai kiết sử Tham và Sân rồi thì nhân duyên với thế gian này cũng hết. Do vậy, một vị chứng A-na-hàm thì không còn bị tái sinh về cõi này nữa, sẽ hóa sinh giữa cõi trời Sắc cứu kính, sau một thời gian không nhất định, sẽ chứng Niết bàn tại đây.

Chúng ta cũng không nghe nói là phải chứng được mức thiền nào thì chứng A-na-hàm, mà chỉ theo lời Phật dạy để biết rằng ai có thể diệt trừ năm kiết sử từ Thân kiến, Giới cấm thủ, Nghi, Tham và Sân thì đạt được đệ Tam Thánh quả.

[2] A-la-hán là quả vị Thánh cao siêu cuối cùng, thật sự giải thoát, giác ngộ viên mãn. Vị A-la-hán tự tại phi thường, tuổi thọ vượt hơn người bình thường, không còn bị cuốn vào luân hồi sinh tử nữa, muốn chết (viên tịch) lúc nào cũng được.Một vị A La Hán sẽ có đủ Tam Minh và Lục Thông, không thể có chuyện một vị đã chứng A La Hán nhưng không có đủ Tam Minh và Lục Thông được.Tuy nhiên, do phước duyên mỗi vị khác nhau, mức độ về Thần Thông có thể khác nhau và Đức Phật thường không khuyến khích sử dụng thần thông vì tránh chúng sinh lấy đây làm mục tiêu tu hành, vì đạo của Ngài là đạo Giải Thoát, không phải đạo của thần thông.

Sự vĩ đại của một bậc A-la-hán thì không một ngôn từ nào có thể diễn tả được. Mỗi người chỉ tùy theo nhân duyên và trí tuệ của riêng mình để hiểu một phần nho nhỏ nào đó mà thôi. Nếu trong vô lượng kiếp quá khứ chúng ta xả thân làm lợi ích cho chúng sinh, thực hành Bồ tát hạnh, tôn kính bậc đáng kính, giữ tâm khiêm hạ thì đến khi đủ phước duyên để đắc đạo, ta sẽ chứng được một quả vị A-la-hán cao siêu tột bậc. Đức Phật cũng tự xem mình là một vị A La Hán, tuy nhiên, do phước duyên của Ngài đã đạt tới viên mãn, hoàn hảo, nên Ngài đã chứng được Phật quả. Một vị đã chứng Phật quả có nhiều khả năng phi thường tột cùng hơn một vị A La Hán.

Khi bản ngã đã hết, vị A-la-hán không còn bị ràng buộc bởi sức mạnh nào đối với luân hồi sinh tử nên hoàn toàn giải thoát. Sau khi phá luôn năm kiết sử cuối cùng, một vị A-na-hàm sẽ chứng A-la-hán, nghĩa là đạo đức đã trở thành tuyệt đối hoàn hảo. Không một thần Thánh thiên tử trừ Đức Phật nào có thể tìm thấy lỗi lầm của một vị A-la-hán nữa. Nơi đây, đương nhiên một vị A-la-hán cũng có thẽ thành tựu Tứ thiền sắc giới và bốn mức thiền vô sắc giớiTứ thiền và Tứ Thánh quả đều hiện diện đầy đủ nơi vị A-la-hán như thế.

[3] Tu-đà-hoàn còn gọi là Nhập lưu, nghĩa là bắt đầu nhập vào dòng Thánh. Đây là Thánh vị đầu tiên sau khi đệ tử Phật phá được bakiết sử Thân kiến, Giới cấm thủ, và nghi.

Một vị chứng Sơ quả thì có thể có trình độ thiền của Chánh niệm, hoặc Sơ thiền, thậm chí Nhị thiền. Nhưng ngược lại, một vị chứng thiền định như thế thì chưa chắc chứng được quả Thánh nào. Đó là lý do tại sao nhiều hành giả có thể chứng thiền định rất sâu, có thần thông nhưng không thể chứng Thánh quả là vậy. Thánh quả khác với thiền định ở chỗ đòi hỏi trí tuệ, đạo đức và công đức. Thiền định chỉ cần tâm vắng lặng là đủ mặc dù tâm đi vào vắng lặng lại phải có Công đứcĐạo đứclàm căn bản.

Hầu hết những vị chứng Thánh quả đều có nguyên nhân từ kiếp xa xưa đã từng hết lòng tôn kính một vị Thánh giác ngộ nào đó. Điều này giống như Thánh nối tiếp Thánh thành một dòng bất tận. Còn việc thành tựu thiền định thì chỉ đòi hỏi công đức đem được nhiều niềm an vui cho nhiều người.

Điều khác nhau giữa Thánh quả và bốn mức thiền là sự bảo toàn ở vị lai. Đối với các mức thiền, nếu không đạt được Tứ thiền ngay trong kiếp này, hoặc không lập nguyện, thề ước với Phật sẽ tu hành đời đời kiếp kiếp, thì khi sang kiếp sau hành giả có nguy cơ quên mất, quay lại với kiếp người bình thường,thậm chí là 3 ác đạo . Còn đối với Thánh quả thì có bảo chứng cho sự giải thoát hoàn toàn ở vị lai theo từng quả vị khác nhau. Ở Sơ quả Tu đà hoàn, Phật ấn chứng rằng vị này chắc chắn sẽ giải thoát luân hồi và đưa ra thời gian cụ thể là không quá 7 kiếp . Vị đó có thể vẫn sống như người bình thường, tuy rằng sẽ không bao giờ rớt vào ba đường ác đạo (xem Lục đạo), rồi sẽ tu hành để chứng A-la-hán.

www.daophatngaynay.com
Từ khóa:
Ý kiến phản hồi


 Refresh

Các tin khác

Từ khóa tìm kiếm