Verse 9 & 10 – Kệ Ngôn 9 và 10 (Kinh Pháp Cú - Song Ngữ)

The Story of Devadatta (was offered the precious robe) (Devadattassa Kāsāvalabha vatthu) Tích truyện Devadatta được cúng dường y quý

The Story of Devadatta (was offered the precious robe) (Devadattassa Kāsāvalabha vatthu) Tích truyện Devadatta được cúng dường y quý

 

 

9. anikkasāvo kāsāvaṃ yo vatthaṃ paridahessati

    apeto damasaccena   na so kāsāva marahati //

 

 

                    Ai mặc áo cà sa

          Tâm chưa rời uế trược

    Không tự chế, không thực

     Không xứng áo cà sa.

 

Who is impure,

(and) will put on a yellow robe,

devoid of restraint and truth,

he does not deserve the yellow

(robe).

 

 

3. yo ca vantakasāvassa sīlesu susamāhito

    upeto damasaccena  sa ve kāsāvamarahati //

 

 

                Ai rời bỏ uế trược

 

     Giới luật khéo nghiêm trì

    Tự chế, sống chơn thực

           Thật xứng áo cà sa.

 

       

(TK Thích Minh Châu)

Whosoever would get rid of

defilement,

well-settled in virtues,

endowed with restraint and truth,

he indeed deserves the yellow  

(robe).

 

Story                                                      Tích truyện

While residing at the Jetavana monastery in Sāvatthi, the Buddha uttered the Verses 9 and 10 with reference to Devadatta.

 

Once the two Chief Disciples, the Venerable Sāriputta and the Venerable Mahā Moggallāna, went from Sāvatthi to Rājagaha. There, the people of Rājagaha invited them, with their one thousand followers, to a morning meal.

 

On occasion, a certain householder presented a perfumed yellow robe worth a hundred thousand pieces of money, saying, “If your combined alms prove insufficient, sell this and devote the proceeds to supplying the deficiency; if they are sufficient, you may give it to whatever monk you please.”

 

It so happened that there was no shortage of anything and the cloth was to be offered to one of the theras. Since the two Chief Disciples visited Rājagaha only occasionally, the cloth was offered to Devadatta, who was a permanent residentof Rājagaha on festival days and on ordinary days.

 

Devadatta promptly made the cloth into robes and moved about pompously, wearing them. Then, a certain bhikkhu from Rājagaha came to Sāvatthi to pay homage to the Buddha, and told him about Devadatta and the robe, made out of cloth worth one hundred thousand.

 

The Buddha then said that it was not the first time that Devadatta was wearing robes that he did not deserve. The Buddha then related the following story.

 

Devadatta was an elephant hunter in one of his previous existences. At that time, in a certain forest, there lived a large number of elephants. One day, the hunter noticed that these elephants knelt down on their knees before the Paccekabuddhas before proceeding on their way.

 

Having observed that, the hunter stole an upper part of a yellow robe and covered his body and hands with it. Then holding a spear in his hand, he waited for the elephants on their usual route.The elephants came, and taking him for a Paccekabuddha , paid obeisance to him, and then went their way. They easily fell a prey to the hunter. Thus, one by one, he killed the last elephant in the row with his sharp spear for many days.

 

The Bodhisatta (The Buddha-to-be) was then the leader of the herd. Noticing the dwindling number of his followers he decided to investigate and followed his herd at the end of the line. He was alert, and was therefore able to evade the spear. He caught hold of the hunter in his trunk and was about to dash him against the ground, when he saw the yellow robe. Seeing the yellow robe, he desisted and spared the life of the hunter.

 

The hunter was rebuked for killing under cover of the yellow robe which become those who are free from the passions and had committed a grievous sin such a deed as this .

 

Then the Buddha spoke in verses as mentioned above.

 

At the end of the discourse, many bhikkhuswere established in Sotāpatti Fruition.

Khi ngụ ở tịnh thất Jetavana tại thành Sāvatthi, Đức Phật nói lên hai bài kệ Pháp cú 9 và 10, nội dung liên quan đến Devadatta.

 Một dịp nọ, hai vị Thượng thủ Thinh văn, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Tôn giả Mahā Moggallāna (Mục-kiền-liên) đi từ Sāvatthi đến Rājagaha (Vương xá). Dân chúng thành Rājagaha thỉnh các Ngài với một ngàn tỳ khưu tùy tùng cúng dường đặt bát.

 

Nhân dịp này, có một Trưởng giả đã hùn phước một xấp vải may y vàng quý trị giá trăm ngàn đồng , nói rằng, “ Nếu việc góp vật thí không đủ, hãy bán vải y này gộp vào cho đủ; nếu như đã đủ thì các vị muốn dâng cúng vải y này đến vị tỳ khưu nào thì tùy ý.”

 

 

Việc góp vật thí diễn ra không thiếu bất cứ món gì và tấm vải y được dâng đến một trong những Trưởng lão . Vì hai vị Thượng thủ Thinh văn chỉ thỉnh thoảng ghé đến Rājagaha, còn Devadatta là người thường xuyên có mặt ở thành phố Rājagaha vào những ngày lễ hội cũng như ngày thường nên tấm y được dâng cho Devadatta.

 

Devadatta may tấm vải thành bộ y rồi khoác vào, đi tới lui một cách tự đắc.  Khi ấy, có một vị tỳ khưu từ Rājagaha đến Sāvatthi đảnh lễ Đức Phật và bạch với Ngài về Devadatta với chiếc y quý trị giá trăm ngàn đồng.

 

Đức Phật nói rằng đây không phải lần đầu tiên Devadatta khoác y quý mà không xứng đáng.

Ngài kể câu chuyện  tiền thân liên quan sau:

 

Devadatta, trong một tiền kiếp xa xưa là thợ săn voi. Lúc ấy, trong một khu rừng có một đàn voi rất lớn đang sinh sống.  Một hôm, người thợ săn chú ý những con voi này đều quỳ xuống đảnh lễ chư Phật Độc Giác trước khi chúng tiếp tục đi.

 

Sau khi quan sát, người thợ săn đánh cắp chiếc y thượng rồi đắp lên người. Tay cầm cây lao nhọn, hắn chờ đàn voi trên con đường chúng vẫn thường qua. Đàn voi đi đến, lầm tưởng hắn là vị Phật Độc Giác nên quỳ xuống đảnh lễ rồi tiếp tục đi. Đàn voi trở thành con mồi cho gã thợ  săn một cách dễ dàng. Như vậy, ngày qua ngày, hắn đã giết con voi nào đi cuối cùng với cây lao bén nhọn suốt nhiều ngày qua.

 

 

Khi ấy, Bồ tát (Đức Phật đương lai) là tượng chúa của đàn voi. Ngài chú ý thấy số lượng đàn voi hao hụt dần nên quyết định tìm hiểu và đi theo sau đàn voi ở cuối hàng. Ngài đã cảnh giác vì vậy có thể tránh được cây lao. Ngài dùng vòi bắt lấy tên thợ săn và sắp  ném hắn xuống đất thì ngài nhìn thấy chiếc y vàng. Nhìn thấy chiếc y vàng, ngài dừng lại và tha mạng cho tên thợ săn.

 

 

Tên thợ săn bị quở trách vì sát sanh mà khoác y vàng của các bậc đã dứt trừ tham dục và do hành động như vậy, hắn đã tạo nên một ác nghiệp nghiêm trọng.

 

 Rồi Đức Phật đã nói lên các bài kệ trên.

 

 

Thời pháp vừa dứt, nhiều vị tỳ khưu chứng đắc quả vị Nhập Lưu.

Vocabulary

1

 

2

3

4

5

6

 

7

 

8

 

 

9

 

 

10

11

 

 

12

13

14

 

15

16

 

17

 

18

19

 

20

21

22

23

 

24

 

25

26

 

27

28

 

Devadattassa

Kāsāvalabha vatthu

to deserve

whosoever (pron.)

to get rid of

defilement  (n)

to get well-settled in

virtues

a permanent resident

 

to move about

pompously (adv)

 

to pay homage to

to pay obeisance

 

to be made out of

previous existences

 

 

to kneel down

the Paccekabuddha

an upper part of

yellow robe

to fell a prey to

The Boddhisatta

The Buddha-to-be

to dwindle

 

the dwindling

number

 

alert (a/ n/ v)

to evade

to be about to

to desist from

 

to spare someone’s

life

 depravity (n)

an act of depravity

 

The Buddha Sāsanā

the moral

defilements

 

 

[di’zə:v]

[,hu:sou’evə]

 

[di’failmənt]

 

 

 [ə‘pə:mənənt ‘reʒidənt]

 

 

[‘pɔmpəsli]

 

[pei ‘hɒmiʤ]

[ ou’ beisəns]

 

 

pri:viəs 

ig’zistənsis]

[ni:l daun]

 

 

 

 

 

 

 

[‘dwindl]

 

 

 

[ə’lə:t]

[i’veid]

 

 

di’zist]

[speə]

 

 

 

[di’præviti]

 

 

 kilesa

  

Tích Devadatta được y

quý

xứng đáng

bất cứ ai

to give up

ô nhiễm, uế trược

khéo nghiêm trì giới

hạnh

cư dân thường trực

 

đi tới đi lui

một cách tự đắc

 

đảnh lễ

 

 

chế tạo từ (may từ)

 những kiếp quá khứ

quỳ xuống

Đức Phật Độc Giác

y thượng

 

trở thành con mồi

Bồ Tát

Đức Phật đương lai

hao hụt, giảm

 

số hao hụt, giảm bớt

 

tỉnh giác, cảnh báo

avoid; tránh

 

sắp sửa (làm gì)

ngừng, thôi, nghỉ

 

 

 

tha mạng cho ai

 

sự xấu xa

 hành động xấu xa

 

Giáo Pháp

phiền não

29  the alms giving ceremony                     lễ trai Tăng, đặt bát

30  The two Chief Disciples,                       Hai vị Đại Thinh Văn

      The Venerable Sāriputta                        Tôn giả Xá-lợi-Phất

       The Venerable Mahā                             Tôn giả Mục-kiền-Liên

          Moggallāna 


www.daophatngaynay.com
Từ khóa:
Ý kiến phản hồi


 Refresh

Các tin khác

Từ khóa tìm kiếm