Văn hóa Phật giáo và xã hội hài hòa:Thông qua “tín ngưỡng” để thúc đẩy xã hội hài hòa

Tóm tắt Tín ngưỡng là “linh hồn” của đời sông tinh thần con người, cũng là bộ phận cấu thành quan trọng của một xã hội hài hòa. Bởi vì sự hài hòa của xã hội không chỉ là sự giàu có về mặt vật chất, mà quan trọng hơn cả là sự giàu có trên mặt tinh thần; chỉ khi văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần đạt được sự phát triển đồng bộ,

  mới có thể xây dựng được xã hội hài hòa thực sự. Văn hóa tinh thần của con người chủ yếu là chỉ cho sự lành mạnh trong tâm lý và sự nâng cao phẩm đức tư tưởng. Trong khi đó, “tín ngưỡng” chính là giáo dục tăng cường phẩm đức tư tưởng và hướng dẫn sự lành mạnh tâm lý của con người có hiệu quả trực tiếp nhất. Cho nên “tín ngưỡng” không chỉ là tín ngưỡng trong ý nghĩa tôn giáo, mà còn là một hình thức giáo dục phẩm đức tư tưởng xã hội có hiệu quả nhất. Nếu chúng ta khéo biết vận dụng “tín ngưỡng” một cách hiệu quả để nâng cao và làm tăng thêm phẩm đức tư tưởng của con người, thì sẽ có tác dụng tích cực to lớn cho việc xây dưng xã hội hài hòa. Bài viết sẽ trình bày thông qua bốn điểm tinh thần của tín ngưỡng Phật giáo, gồm: một là thực hành ngủ giới –bỏ xấu theo tốt; hai là tu tập tứ nhiếp – phục vụ xã hội; ba là từ bi hỷ xả – lợi ích chúng sinh; bốn là tinh thần lục hòa – tiêu chí của sự hài hòa.

Lời mở đầu

Xây dựng xã hội hài hòa là mục tiêu chính của chính phủ nước ta hiện nay, cũng là xu hướng chung của cộng đồng quốc tế. Theo đà phát triển của xã hội, đời sống vật chất của con người mặc dù đã được nâng cao, song xã hội chúng ta đang tồn tại ngày này lại không hòa bình, phát sinh tai nạn và chiến tranh liên miên, sinh mệnh con người lúc nào cũng bị uy hiếp, đe dọa. Do vậy, việc xây dựng một xã hội hài hòa đối với chúng ta ngày nay là cực kỳ trọng yếu. Nhưng “xã hội hài hòa” là một khái niệm mang tính đa nguyên (nhiều thực thể trong đó) và nhiều phương diện (nhiều mặt, khía cạnh), không phải chỉ dùng một chế độ, chính trị, văn hóa, vật chất nào đó, hoặc kể cả dùng vũ lực để có thể đạt tới, mà là đòi hỏi sự “hài hòa” chung của các khía cạnh và lĩnh vực của xã hội mới có thể hiển bày; điều quan trọng hơn nữa là sự “hài hòa” này không chỉ là sự ổn định, an toàn có thể biểu đạt trên bề mặt hiện tượng, mà là đòi hỏi sinh khởi tư tưởng hòa bình trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau và giúp đỡ lẫn nhau từ nội tâm bên trong chúng ta. Chỉ có xây dựng nên sự tin cậy lẫn nhau giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia; xây dựng nên ý thức hài hòa giữa con người với tự nhiên, giữa con người với xã hội, chúng ta mới có thể xây dựng nên một “xã hội hài hòa” ý nghĩa thật sự.

Mà “tín ngưỡng” được coi là một loại văn hóa tinh thần vừa xa xưa lại truyền thống, có thể tạo ra ảnh hưởng rất lớn đối với ý thức tâm lý của con người. Con người nương vào “tín ngưỡng” để tịnh hóa tâm hồn của mình, đào thải một số tâm lý hoặc tư tưởng, tình cảm thâm căn cố đế của mình, nâng cao phẩm đức của mình, thông qua việc tịnh hóa tâm linh xây dựng nên sự hài hòa của xã hội. “Tín ngưỡng” là giáo dục xã hội mang tính quốc tế, không phải là một tín ngưỡng tôn giáo thuần túy trong một ý nghĩa nào đó nữa. Đặc biệt là tín ngưỡng của Phật giáo chứa đựng văn hóa Phật giáo và giáo dục tư tưởng vô cùng phong phú, con người thông qua giáo dục văn hóa Phật giáo uyên thâm sâu sắc ấy, thúc đẩy, phát triển phẩm đức tư tưởng của con người và hoàn thiện giáo dục đạo đức xã hội. Chỉ có sự nâng cao tố chất đạo đức của con người và sự gia tăng giáo dục đạo đức, mới có thể xây dựng nên một xã hội hài hòa thực sự toàn diện. Ví dụ một tín đồ Phật giáo trước hết phải phụng hành ngũ giới thập thiện, mà tư tưởng chủ yếu của ngũ giới thập thiện chính là hạn chế con người không nên đi làm những việc hại người lợi mình, lấy điều này thể hiện phẩm đức chỉ ác dương thiện của Phật giáo; thứ đến cần phải tu tập tứ nhiếp lục độ, mà tinh thần chủ yếu của tứ nhiếp lục độ ở chỗ dạy dỗ con người cần phải vô tư phụng hiến, lấy điều này biểu đạt, nói lên tín đồ Phật giáo không phải tự tư tự lợi mà là tinh thần phục vụ xã hội; và cuối cùng là dưỡng thành phẩm đức cao thượng từ bi hỷ xả, mà tinh thần chủ yếu của từ bi hỷ xả của Phật giáo là phổ độ chúng sinh, lấy điều này thể hiện tinh thần đại vô úy (không sợ hãi) lợi ích chúng sinh của Phật giáo; ngoài ra, tinh thần lục hòa của Phật giáo cũng là tượng trưng cho sự hài hòa, Phật giáo lấy tinh thần lục hòa này xây dựng nên Tăng đoàn hòa hợp. Từ đây có thể thấy rằng, tinh thần “tín ngưỡng” trong văn hóa Phật giáo đối với việc xây dựng một xã hội hài hòa ngày nay của chúng ta chắc chắn có tác dụng thúc đẩy phát triển rất to lớn.  

I. Thực hành ngũ giới bỏ xấu theo tốt

Phật giáo mặc dù có rất nhiều giới điều, nhưng cơ bản nhất vẫn là ngũ giới (năm giới), tức không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu[1]. Tác dụng tích cực của năm giới này đối với sự hài hòa của xã hội ít nhất trên ba phương diện: một là tính trách nhiệm xã hội; hai là quan niệm đạo đức luân lý; ba là ý thức ngay thật. Do vì sự phát triển của kinh tế thị trường và sự gia tăng ý thức kinh tế của con người, mặc dù đời sống vật chất của con người đạt được sự sung túc, nhưng đời sống tinh thần của họ trái lại, ngày càng rỗng tuếch. Rất nhiều người chỉ biết thu lấy lợi ích từ trong xã hội, mà đã bỏ qua trách nhiệm của mình đối với xã hội; do sự quyến rũ, cám dỗ của đồng tiền và danh dự, con người đã quên đi luân lý đạo đức: tình thân, tình bạn; biến thành kẻ chỉ biết theo đuổi lợi ích, không màng đến chuyện khác, ngay cả lục thân (sáu người thân: cha, mẹ, anh, em, vợ, con) cũng không nhận, đã đánh mất luân lý đạo đức tối thiểu nhất: sự tin cậy lẫn nhau, sự hiểu biết lẫn nhau giữa người với người; càng nghiêm trọng hơn là có người còn vì “danh” và “lợi”, mà dùng mọi thủ đoạn, a dua nịnh hót, thậm chí thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật như đút lót nhận hối lộ, mất đi ý thức chân thành cơ bản nhất trong việc giao tế qua lại giữa người với người.

Thiết lập xã hội hài hòa, cần phải ổn định môi trường xã hội có trật tự. Mà gia đình là tế bào của xã hội, sự hài hòa của xã hội dĩ nhiên bắt đầu từ sự hài hòa từ trong gia đình, điều này đòi hỏi con người cần phải gánh vác trách nhiệm đối với gia đình và xã hội, thực hiện nghĩa vụ hết mình đối với gia đình và xã hội. Xã hội ngày nay rất đề cao tinh thần trách nhiệm của gia đình và xã hội. Tục ngữ nói: “Gia hòa vạn sự hưng” (家和萬事興/ Gia đình hòa thuận thì mọi việc đều hưng thịnh), chỉ có ngôi nhà nhỏ an bình hài hòa mới có thể xây dựng được đại gia đình xã hội hài hòa. Giới “Bất thâu đạo” (không trộm cắp) trong năm giới của Phật giáo chính là thể hiện ý thức trách nhiệm của tín đồ nhà Phật đối với xã hội, Phật giáo yêu cầu mọi người cần phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với gia đình và xã hội, cần phải quên mình vì người, giúp đỡ người khác, phổ độ chúng sinh, không phải thuộc những thứ của mình thì không được chiếm lấy của riêng, không được làm những việc có hại cho người khác, tổn hại lợi ích xã hội. Nếu mọi người ai ai cũng có tinh thần trách nhiệm này, thì xã hội chúng ta sẽ không thể có các vụ án cướp giật, trộm cắp, phá hoại đến sinh mệnh và tài sản của người khác, cũng có thể thiết lập được sự hài hòa của xã hội. “Bất vọng ngữ” (giới không được nói dối, nói năng xằng bậy) thể hiện ý thức thành thật, trung thực của Phật giáo đối với xã hội. Phật giáo yêu cầu mọi người cư xử nhau chân thành, giúp đỡ mọi người làm điều tốt, những điều mình không muốn, thì đừng làm cho người khác. Có thành thật mới có thể thiết lập được mối quan hệ hòa hợp, hài hòa và thân thiện. Thành thật là tiêu chí quan trọng của xã hội hài hòa. Xã hội thiếu vắng sự chân thành và thân mật tất sẽ tạo nên sự căng thẳng và đối lập trong lòng người, khiến con người ngày càng trở nên thờ ơ và lạnh nhạt. “Bất tà dâm” (giới không dâm dật) thể hiện cái nhìn đạo đức luân lý của Phật giáo. Phật giáo quy định mọi người không được có các mối quan hệ nam nữ bất chính ngoài vợ chồng hợp pháp, không chỉ bảo vệ, gìn giữ chung sống hòa thuận giữa vợ chồng, đồng thời cũng xây dựng nên quan niệm luân lý đạo đức xã hội. Không dâm dật bừa bãi không chỉ là tôn trọng lẫn nhau giữa đôi vợ chồng, mà còn bảo đảm căn bản ổn định gia đình, là bộ phận cấu thành quan trọng của luân lý đạo đức xã hội.

Từ đây đủ thấy, mọi người nếu có thể thực hành theo “năm giới” của Phật giáo, mức tối thiểu nhất có thể mang đến nếp sống lành mạnh cho xã hội như tinh thần trách nhiệm, luân lý đạo đức, ý thức thành thật, thông qua “năm giới” của Phật giáo, thúc đẩy và hoàn thiện giáo dục đạo đức xã hội. Xã hội chúng ta đòi hỏi mỗi một người đều có một phần ý thức trách nhiệm, cần có tình bằng hữu, tình thân thuộc, cần phải xây dựng ý thức tin tưởng lẫn nhau giữa người với người. Từ việc thiết lập lý tưởng hài hòa xã hội, có thể thấy rằng tinh thần trong năm giới của Phật giáo rõ ràng có những ảnh hưởng tích cực đối với xã hội của chúng ta, và hẳn nhiên những giới luật ấy không phải chỉ dành riêng cho tín đồ Phật giáo, cũng không đi ngược lại với khoa học, giáo dục, chính trị, pháp quy; cái nhìn lệch lạc này được hình thành là do sự nhận thức và lý giải về văn hóa Phật giáo thiếu độ chính xác. Hy vọng thông qua văn hóa, phương tiện truyền thông, cho đến các hình thức tuyên truyền chính thống liên quan, làm cho văn hóa Phật giáo có được những tác dụng tích cực đối với giáo dục xã hội và sự hài hòa xã hội chúng ta.

II. Tu tập tứ nhiếp - phục vụ xã hội

“Tứ nhiếp” là tinh thần cơ bản mà tín đồ Phật giáo dùng để tu Bồ-tát đạo, cũng là chuẩn tắc hành vi của một tín đồ Phật giáo làm các hoạt động xã hội. Cũng có nghĩa là, được xem là một tín đồ Phật giáo ở trong xã hội này, thì bất luận là lúc nào ở đâu cũng đều phải lấy “tứ nhiếp” để thúc liễm chính mình, vận dụng “tứ nhiếp” để phổ độ chúng sinh, phục vụ xã hội. Nội dung “tứ nhiếp”[2] của Phật giáo chủ yếu là Bố thí nhiếp, Ái ngữ nhiếp, Lợi hành nhiếp, và Đồng sự nhiếp. Trong “tứ nhiếp” này, “Bố thí” là thuộc sự nghiệp phúc lợi xã hội; “Ái ngữ” là thuộc sự nghiệp giáo dục xã hội; “Lợi hành” là thuộc sự nghiệp công ích xã hội; “Đồng sự” là thuộc quản lý xí nghiệp xã hội. Cho nên căn cứ theo “tứ nhiếp” của Phật giáo, có thể thấy được khi một tín đồ Phật giáo “phục vụ xã hội” chính là hành Bồ-tát đạo. Trong vòng gần hai mươi mấy năm trở lại đây, ở nước ta cùng với sự chu đáo trong chính sách tự do tín ngưỡng tôn giáo, các hạng mục sự nghiệp văn hóa của Phật giáo đã có những bước phát triển nhanh chóng, xây dựng xã hội hài hòa cũng đã có những hiệu quả tích cực.

“Tứ nhiếp” của Phật giáo đối với sự hài hòa của xã hội cũng có tác dụng tích cực trên ba phương diện: một là sự nghiệp phúc lợi xã hội; hai là giáo dục văn minh xã hội; ba là sự nghiệp công ích xã hội. Từ tinh thần “bố thí” của Phật giáo, chúng ta có thể thấy ra rằng tác dụng của Phật giáo đối với sự nghiệp phúc lợi xã hội. Các đoàn thể trong giới Phật giáo trong và ngoài nước bây giờ đều vô cùng chú trọng đến sự phát triển sự nghiệp phúc lợi xã hội. Lúc con người phải gánh chịu những thiệt hại thiên tai, mỗi lần như thế thì hầu như đều có sự quyên góp tài vật của đoàn thể Phật giáo. Đến thời điểm này, chỉ nội trong nước Trung Quốc đại lục đã có tới trên trăm hội quỹ phúc lợi từ thiện Phật giáo, đóng góp tài vật, giúp nghèo cứu khó, phò nguy cứu khốn; những sự nghiệp phúc lợi đã cống hiến cho xã hội là không thể kể xiết; hàng ngàn hàng vạn người đã nhận được sự giúp đỡ từ sự nghiệp từ thiện của Phật giáo. Như đầu năm 2005, khi ở Đông Nam Á bị sóng thần, hàng ngàn Tăng nhân của Trung Quốc đại lục, Hồng Kông, Ma-cao, Đài Loan ở dưới tháp Phật Nha chùa Linh Quang tại Bắc Kinh cử hành long trọng Pháp hội cầu nguyện tiêu trừ tai nạn, đồng thời phát động nghi thức quyên tiền từ tứ chúng đệ tử, ngay tại chỗ này đã quyên góp được số tiền mặt lên tới trên 1290 vạn Nhân dân tệ (tiền Trung Quốc)[3]. Sự phát triển của sự nghiệp từ thiện Phật giáo, có ảnh hưởng tích cực đối với công cuộc xây dựng xã hội hài hòa của chúng ta. Tinh thần “lợi hành” của Phật giáo là thể hiện chủ yếu sự nghiệp công ích xã hội. Công ích xã hội chủ yếu là dùng sự nghiệp có thể giúp đỡ tha nhân. Xã hội loài người đòi hỏi giữa những con người với nhau phải biết giúp đỡ, ủng hộ lẫn nhau. Chính bởi vì xã hội của chúng ta còn tồn tại rất nhiều người thế yếu lực cô cần có sự giúp đỡ của xã hội, cho nên cũng đã hình thành nên sự nghiệp công ích xã hội. Mà ở phương diện này giới Phật giáo đã có những cống hiến nổi bật, ví dụ như “Hội công đức Từ Tế”[4] Đài Loan, đến nay đã là hội từ thiện nổi tiếng trên khắp thế giới, là tổ chức dẫn đầu sự nghiệp từ thiện Phật giáo. Trong “Giải thưởng từ thiện Trung Hoa”[5] vào năm 2006, Hội từ thiện đó cũng đã có tên trong danh sách. Những điều này đủ để nói rõ rằng sự nghiệp công ích Phật giáo có vai trò to lớn đối với sự hài hòa xã hội. “Ái ngữ nhiếp” của Phật giáo là thể hiện cụ thể giáo dục văn minh xã hội, đối với việc giáo dục đạo đức tư tưởng ngày hôm nay chúng ta có vai trò hướng dẫn rất lớn. Văn minh là một trong những tiêu chí chính của sự tiến bộ xã hội. “Ái ngữ” Phật giáo chủ yếu chính là muốn dùng ngôn ngữ hiền thiện, thân mật, dịu dàng để dẫn dắt người khác, không nói những lời thô ác, chửi rủa và gièm pha tha nhân, nên tán thán công đức của người khác. Tinh thần “đồng sự” của Phật giáo chủ yếu thể hiện qua sự nghiệp phát triển xã hội, có vai trò thúc đẩy rất lớn trong việc quản lý xí nghiệp của chúng ta. Điều quan trọng nhất trong quản lý xí nghiệp là tinh thần xí nghiệp; tinh thần xí nghiệp chính là làm cho công nhân viên đoàn kết nhất trí, để xí nghiệp làm nhiều công đức cho xã hội. “Đồng sự” nhiếp của Phật giáo tức thể hiện sự đoàn kết hòa thuận giữa Tăng đoàn, khiến tinh thần đoàn kết này phát huy tác dụng quan trọng ở trong quản lý xí nghiệp của chúng ta.

Chúng ta có thể xây dựng xã hội hài hòa từ trong tinh thần “tứ nhiếp” của Phật giáo như trên, vận dụng tinh thần “tứ nhiếp” Phật giáo để thúc đẩy tiến trình xây dựng xã hội hài hòa. Như tư tưởng “Nhân sinh Phật giáo” của Đại sư Thái Hư (1889-1947), chính là biểu hiện cụ thể của một xã hội hài hòa, cho rằng mỗi người đều cần phải đi phục vụ xã hội, mưu cầu lợi ích cho xã hội, lấy nhân cách cá nhân gây ảnh hưởng tốt đẹp đến xã hội, phục vụ nhân quần. Cư sĩ Triệu Phác Sơ (1907-2000), lãnh tụ Phật giáo trác việt, nhà thư pháp kiệt xuất, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng cũng đề xướng tư tưởng “Nhân gian Phật giáo” (人間佛教), cho rằng dùng phụng hành Ngũ giới, Thập thiện tịnh hóa bản thân, nỗ lực tu tập Tứ nhiếp, Lục độ làm ích lợi cho chúng sinh. Trong “Thế giới Phật giáo luận đàn” (Diễn đàn Phật giáo thế giới), Pháp sư Giác Quang (1919-), lãnh tụ tôn giáo Hồng Kông nói rằng[6]: Phật giáo có trách nhiệm phục vụ xã hội, triển khai từ thiện phúc lợi, thúc đẩy xã hội cứu giúp, Phật giáo tích cực tham gia và thúc tiến sự nghiệp xã hội phát triển, tiếp tục duy trì thâm nhập phát triển sự nghiệp phúc lợi xã hội, không ngừng mở rộng quy mô đến nhiều tầng lớp, hy vọng đều nhận được lợi ích, có vai trò xúc tiến lành mạnh đối với việc đẩy mạnh cứu trợ xã hội, kiến tạo bầu không khí hành thiện toàn dân.   

III. Từ bi hỷ xả - lợi ích chúng sinh

“Từ bi hỷ xả” là biện pháp và phương sách chủ yếu hành Bồ-tát đạo của tín đồ Phật giáo, cũng là con đường chủ yếu Phật giáo phát huy vai trò đối với xã hội. “Từ” có thể cho chúng sinh niềm vui, “bi” có thể bạt trừ khổ não, “hỷ” có thể làm cho chúng sinh vui vẻ, “xả” có thể xả bỏ phiền não chúng sinh. “Từ-bi-hỷ-xả” được gọi là Tứ vô lượng tâm, là nói Bồ-tát lấy bốn phương pháp này để cứu độ khổ nạn chúng sinh, khiến chúng sinh có thể thoát ly phiền não đạt được giải thoát thực sự. Nhiệm vụ chủ yếu của Bồ-tát ở đời chính là cứu độ chúng sinh ra khỏi bể khổ, Phật giáo cho rằng thế gian nơi mà chúng sinh đang sinh tồn là bể khổ sinh tử luân hồi, thì cần phải đạt được giải thoát ra khỏi khổ hải sinh tử bước tới Niết-bàn bờ bên kia. Cho nên “từ-bi-hỷ-xả” là hành động cao thượng làm cho chúng sinh được lợi ích.

Tinh thần của “từ-bi-hỷ-xả” này có tác dụng trên ba phương diện đối với sự hài hòa xã hội: một là có thể làm cho con người phụng hiến lòng yêu thương, giúp đỡ người yếu đuối trong xã hội; hai là có thể làm cho con người có tâm lý lành mạnh, buông bỏ đời sống sầu muộn. Do vì sự tiến bộ của kỷ thuật hiện đại hóa và sự phát triển công nghiệp hiện đại hóa, xã hội xuất hiện hiện tượng phân phối không đồng đều và chênh lệch giàu nghèo, mặc dù có rất nhiều người đi trên con đường giàu có - sung túc, nhưng vẫn còn không ít người vẫn sống trong giai đoạn nghèo khó, cách mức sống bậc trung có một khoảng cách nhất định, vẫn cần đến sự giúp đỡ xã hội và tâm yêu thương phụng hiến. Mà tinh thần “từ bi” của Phật giáo chủ yếu thể hiện ở chỗ phụng hiến vô tư đối với xã hội, đi giúp đỡ tất cả những ai cần được giúp đỡ, có một vai trò quan trọng đối với sự hài hòa xã hội của chúng ta. Kinh hoa Nghiêm nói: “Thường hành nhu hòa nhẫn nhục pháp, an trú từ bi hỷ xả trung” (常行柔和忍辱法,安住慈悲喜捨中/ Thường hành pháp nhu hòa và nhẫn nhục, thì được an trú trong từ, bi, hỷ và xả). Trong luận Đại trí độ cũng nói: “Đại từ dữ nhất thiết chúng sinh lạc, đại bi bạt nhất thiết chúng sinh khổ; đại từ dĩ hỷ lạc nhân duyên dữ chúng sinh, đại bi dĩ ly khổ nhân duyên dữ chúng sinh”[7] (大慈與一切眾生樂,大悲拔一切眾生苦;大慈以喜樂因緣與眾生,大悲以離苦因緣與眾生/ Đại từ là làm vui cho tất cả chúng sinh, đại bi là cứu giúp khổ nạn của hết thảy chúng sinh; đại từ lấy nhân duyên hỷ lạc cho chúng sinh, đại bi lấy nhân duyên ly khổ cho chúng sinh). Điều này chính là biểu hiện của tinh thần cứu đời từ bi Phật giáo, lấy tinh thần xuất thế của Phật giáo làm sự nghiệp nhập thế hài hòa xã hội. Trong sự cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, áp lực tâm lý của con người ngày càng lớn, rất nhiều người xuất hiện bệnh tâm lý ở mức độ khác nhau, khiến mấy năm gần đây tâm lý học ở Trung Quốc bỗng nhiên trở nên “nóng”. Tuy vậy, vẫn không thể giải quyết căn bản áp lực tâm lý của con người. Thông qua “tín ngưỡng” của Phật giáo có thể giải quyết nỗi sầu muộn và bất an trong tâm mọi người, giảm bớt áp lực do căng thẳng trong công việc của con người hình thành, khiến tâm tình nhẹ nhõm, đạt được sự hòa dịu ở mức nhất định. Phật giáo thông qua việc hành thiền và tụng kinh để xoa dịu tâm trạng quá căng thẳng của con người. Có không ít nhà tâm lý học muốn thông qua lý luận uyên bác thâm sâu của Phật giáo, để hoàn thiện tâm lý học khiến nó có thể đạt được không gian phát triển rộng lớn tại Trung Quốc. Cho nên nói “tín ngưỡng” có lẽ chính là lương dược tốt nhất cho căn bệnh tâm lý con người.

Từ đây có thể thấy rõ rằng tinh thần từ-bi-hỷ-xả của Phật giáo đối với con người ngày nay là quan trọng xiết bao. Nếu mỗi một người đều gìn giữ có một tín ngưỡng chánh tín, có lẽ xã hội chúng ta sẽ càng thêm ổn định hài hòa, đây chính là cống hiến của tín ngưỡng của chúng ta đối với sự hài hòa của xã hội. Như những điều trong kinh Niết-bàn nói: “Vi chư chúng sinh vô lượng lợi ích, thị danh đại từ; dục dữ chúng sinh vô lượng lợi lạc, thị danh đại bi; vu chư chúng sinh tâm sinh hoan hỷ, thị danh đại hỷ; tự xả kỷ lạc thí dữ tha nhân, thị danh đại xả[8] (為諸眾生無量利益,是名大慈;欲與眾生無量利樂,是名大悲;於諸眾生心生歡喜,是名大喜;自捨己樂施與他人,是名大捨”/ Làm cho chúng sinh được vô lượng lợi ích, gọi là đại từ; muốn cho chúng sinh vô lượng lợi lạc, gọi là đại bi; tâm khởi lên niềm hoàn hỷ với chúng sinh, là đại hỷ; quên mình vì tha nhân, gọi là đại xả). Đây chính là tinh thần từ-bi-hỷ-xả “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi” trong Phật giáo, chúng ta thật tâm hy vọng thông qua tinh thần từ-bi-hỷ-xả này của Phật giáo, thúc đẩy tiến trình xã hội hài hòa.

IV. Tinh thần Lục hòa - tiêu chí hài hòa

Tinh thần “Lục hòa” của Phật giáo là phương pháp và phương tiện chủ yếu quản lý Tăng đoàn Phật giáo, cũng là tiêu chí chủ yếu thể hiện xã hội hài hòa. “Lục hòa” của Phật giáo cũng gọi là Lục hòa hợp, hoặc Lục hòa kính, tức người tu học Phật pháp thì cần phải thể hiện tình đoàn kết thân mật, kính trọng lẫn nhau. Một là Thân hòa đồng trú: tức mọi người cùng ở chung với nhau, phải sống chung hòa bình; hai là Khẩu hòa vô tránh: tức khi mọi người cùng làm việc chung với nhau, phải hài hòa không tranh tụng; ba là Ý hòa đồng duyệt: tức mọi người khi cùng làm việc chung với nhau, phải thống nhất tư tưởng; bốn là Giới hòa đồng tu: tức mọi người khi cùng làm việc với nhau, phải thống nhất chế độ; năm là Kiến hòa đồng giải: tức mọi người khi cùng làm việc với nhau, cần quan điểm nhất trí; sáu là Lợi hòa đồng quân: tức mọi người khi cùng làm việc với nhau, thì lợi ích phải chia đều nhau. Tăng đoàn Phật giáo nhờ thực hành theo phép “Lục hòa kính” này mới có hài hòa thanh tịnh. Chúng ta vận dụng tinh thần “Lục hòa” Phật giáo vào xã hội hài hòa, nếu như một gia đình có thể thực hành Phật pháp, cùng hành trì Lục hòa kính, khiến cho gia đình hài hòa mỹ mãn; nếu như cả xã hội có thể hành theo Phật pháp, cùng hành trì Lục hòa kính, có thể khiến xã hội ổn định đoàn kết; nếu như một nhà có thể phụng hành Phật pháp, hành trì Lục hòa kính, có thể khiến quốc gia giàu mạnh hòa bình.

Thế giới mà chúng ta đang sinh sống hiện nay vốn không hòa bình, khắp nơi đầy rẫy chiến tranh và tai nạn, sự tranh chấp lẫn nhau giữa người với người, nước này với nước kia, đồng nghiệp, bạn bè thường hằng xảy ra. Sự cạnh tranh và chiến tranh như vậy, làm cuộc sống con người trở nên rối ren bất an. Con người kỳ vọng thế giới hòa bình, xã hội ổn định, nhân dân an cư lạc nghiệp, Phật giáo giáo hóa và dẫn dắt người đời thành tâm hướng thiện, chủ trương với tôn chỉ “tịnh hóa thân tâm, lợi lạc hữu tình”, mong muốn thông qua giáo dục tư tưởng Phật giáo để thúc đẩy sự hài hòa xã hội. Lúc đầu Đức Phật thành lập Tăng đoàn có nói rõ về Lục hòa kính. Tinh thần “Lục hòa” này chắc chắn là lương dược tốt nhất. Vì vậy, “Lục hòa” không chỉ là thiết lập nên cơ sở quan trọng của Tăng đoàn, mà cũng là nền tảng căn bản của hòa bình thế giới nhân loại. Gọi là Thân hòa đồng trú, là phải sống chung hòa bình, giữa đồng sự phải sống hài hòa với nhau, không nên tranh đấu lẫn nhau, tàn hại lẫn nhau, mà nên giúp đỡ lẫn nhau, ủng hộ lẫn nhau, cùng nhau hoàn thành những mục tiêu muốn theo đuổi. Gọi là Khẩu hòa vô tránh, là trong lời ăn tiếng nói phải ôn hòa nhã nhặn, không gây tranh cãi lẫn nhau. Ngôn ngữ là dùng để truyền đạt và biểu đạt những tư tưởng, suy tư trong cõi lòng mình, là phương tiện nhằm giao lưu, trao đổi lẫn nhau giữa mọi người, mà không phải là vũ khí dùng để tranh luận nhau, hủy báng nhau. Gọi là Ý hòa đồng duyệt, là trên ý thức tư tưởng cần có ý thức chung, giữa các mối quan hệ qua lại cần có một ý thức ký kết ngầm. Gọi là Giới hòa đồng tu, là chỉ hệ thống điều lệ pháp quy, pháp luật của giới luật cần phải cùng nhau tuân thủ, như thế mới có thể khiến con người đứng trước pháp luật ai ai cũng được bình đẳng. Thông qua hệ thông điều lệ khiến tất cả mọi người tuân thủ chế ước chung. Gọi là Kiến hòa đồng giải, là trong ý kiến và kiến giải phải đạt được nhất trí, mới có thể khiến xí nghiệp hoặc đoàn thể đạt được sự ổn định có trật tự. Nếu trong một sự kiện bất kỳ nào đó kiến giải không thể đạt được thống nhất, vậy thì không thể đồng tâm hiệp lực hoàn thành sự nghiệp. Gọi là Lợi hòa đồng quân, là trong lợi ích toàn thể công nhân viên phải thực hiện chế độ hưởng theo thành quả lao động bình đẳng.

Tinh thần “Lục hòa” trong Tăng đoàn Phật giáo được trình bày trên đây, có thể có ba tác dụng tích cực đối với sự hài hòa xã hội: Một là tự giác tuân thủ chế độ pháp quy quốc gia; hai là xây dựng nguyên tắc phân phối hợp lý công bình; ba là xây dựng ý thức tư tưởng và nguyên tắc hành vi thống nhất. Tiêu chí xã hội hài hòa là đa phương diện, đòi hỏi sự hài hòa các mặt như giáo dục văn hóa xã hội, tư tưởng đạo đức, tôn trọng pháp luật và kỷ luật, văn minh tinh thần, đoàn kết dân tộc. Mà tinh thần “Lục hòa” Phật giáo có thể hướng dẫn con người tự giác tuân thủ pháp luật kỷ cương, là thể hiện cụ thể của giới hòa đồng tu; hình thành nên nguyên tắc phân phối hợp lý công bằng xã hội, là thể hiện cụ thể lợi hòa đồng quân; ý thức tư tưởng và chuẩn tắc hành vi thống nhất, là thể hiện cụ thể của thân hòa cộng trú, kiến hòa đồng giải, khẩu hòa vô tránh, ý hòa đồng duyệt. Cho nên nói tinh thần “Lục hòa” Phật giáo, có vai trò tích cực rất to lớn trong việc xây dựng nên xã hội hài hòa.

Kết luận

Những ví dụ được nêu trên đây có thể cho biết rõ rằng văn hóa Phật giáo có đầy đủ các mặt tích cực đối với việc kiến thiết nên một xã hội hài hòa; đồng thời cũng cho biết rằng “tín ngưỡng” đối với sự ổn định và hài hòa xã hội của chúng ta là quan trọng biết bao. Ngày nay, con người mặc dù đạt được sự sung túc vô cùng lớn lao về mặt vật chất, nhưng trong tinh thần lại trở nên cực kỳ nghèo nàn; trong tâm lý hay phát sinh những bất thường nhất định. Những hiện tượng này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt hằng ngày của chúng ta, cũng ảnh hưởng đến sự phát triển trong xã hội hài hòa. Chúng ta đòi hỏi sức mạnh trên các mặt xã hội và văn hóa giáo dục khác nhau của các tầng lớp để dẫn dắt, trước hết cần phải cải thiện áp lực tâm lý của con người, làm cho con người có tố chất tâm lý lành mạnh; sau đó chỉ dẫn con người cần phải đạt được thỏa mãn trên mặt tinh thần, phát huy tư tưởng yêu thương vốn có của con người; chỉ có con người có đầy đủ phẩm đức tư tưởng cao thượng, mới có thể đẩy mạnh tiến trình hài hòa xã hội. Bài viết này chính là mong muốn thông qua ý thức “tín ngưỡng” trong tự tâm của mỗi chúng ta, lấy văn hóa Phật giáo tu dưỡng để thúc tiến và xây dựng nên xã hội hài hòa.

Nguồn: Lý Tịnh (2007), Văn hóa và giáo dục Phật giáo, Nxb Văn hóa Tôn giáo, Bắc Kinh, tr.190-201                            



[1] Năm giới: không sát sinh, là không giết hại các động vật có sinh mạng; không trộm cắp là không trộm lấy tài vật của kẻ khác; không tà dâm là không làm việc dâm dật ngoài vợ chồng; không nói dối là không nói những lời dối gian lừa gạt; không uống rượu là không ăn uống hút hít các loại rượu hoặc độc phẩm có chất kích thích, gây mê mờ… 

[2] Tứ nhiếp, gồm: Bố thí nhiếp: Đem của cải vật chất bố thí, để giúp đỡ đồng loại vơi bớt khổ đau, từ đó sinh lòng cảm mến theo đạo; Ái ngữ nhiếp: Dùng những lời khéo léo, an ủi, khuyên lơn, làm cho đối tượng sinh lòng thương mến, cảm phục, mà theo đạo Phật; Lợi hành nhiếp: Làm lợi ích cho người bằng cử chỉ, lời nói, ý nghĩ, khiến cho người ta sinh lòng thương mến mà theo đạo Phật; và, Đồng sự nhiếp: Tùy theo căn cơ, hoài bảo, địa vị, nghề nghiệp của người mà lặn lội vào công việc của họ, công tác với họ, nhằm một mặt giúp đỡ họ trong nghề nghiệp, mặt khác nếu cao gương lành, làm cho họ cảm mến theo ta mà đến gần đạo Phật.

[3] Vào ngày 1 tháng 6 năm 2005 Tân Hoa Xã đưa tin: Sau khi Ấn Độ Dương phát sinh sóng thần, Hội đồng Thập tự (Hội Chữ thập đỏ) đã tổ chức hoạt động cứu trợ nhân đạo quốc tế có quy mô lớn nhất, hiệu quả nhất trong lịch sử, nhằm bày tỏ lòng biết ơn đến sự giúp đỡ của các giới trong xã hội. Vào ngày 31 Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc đã tiến hành biểu dương các đơn vị, cá nhân cho đến Hội Chữ thập đỏ địa phương đã có những đóng góp nổi bật trong việc viện trợ. 

[4] “Từ Tế”: Bắt đầu từ năm 1966 tới nay, dưới sự dẫn dắt của Hội, “Hội Công đức Từ Tế Phật giáo” từ lúc thành lập với 30 tín chúng, trải qua thời gian thử thách 36 năm, đã phát triển trở thành đoàn thể từ thiện lớn mạnh, với hơn 400 vạn hội viên. Một tổ chức từ thiện Phật giáo mang tính bản thổ Đài Loan như thế, xem ra như là không đáng để mắt tới, trải qua 36 năm gió sương lại lập nên nhiều câu chuyện cảm động lòng người. 

[5] Ngày 19 tháng 3 năm 2007, CCTV (China Central Television: Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc): Sự bình chọn trải qua hơn hai tháng, “Giải thưởng từ thiện Trung Hoa” năm 2006 của Bộ Dân Chính hôm nay chính thức công bố, căn cứ vào phiếu bầu tin nhắn công chúng cùng với kết quả đánh giá của đoàn chuyên gia bình xét, A Bố Lực Tư – Nỗ Lai Khắc, Hội Qũy Phật giáo Từ Tế Đài Loan, Hoàng Như Luận, Trần Phụ Đường, Đại Liên Vạn Đạt, Điện võng quốc gia, Tam tinh Trung Quốc, Nam Phương Lý Cẩm Ký, Viên Mộng Hành Động, cùng với Trung Hoa tủy xương khố, vinh dự được danh hiệu “Giải thưởng từ thiện Trung Hoa” vào năm 2006.     

[6] Pháp sư Giác Quang trong “Diễn đàn Phật giáo thế giới” phát biểu rằng: Phật giáo có trách nhiệm phục vụ xã hội, nhân rộng từ thiện phúc lợi, đẩy mạnh cứu trợ xã hội. Từ bi là nền tảng của vạn điều thiện, là chỗ cất giữ công đức, tinh thần tư bi là cội nguồn của Phật đạo. Giáo nghĩa giáo quy của Phật giáo, không chỉ có vai trò hun đúc nên phẩm tính, tịnh hóa tư tưởng, đồng thời dưới sự hướng dẫn giáo dục phẩm đức tư tưởng luân lý Phật giáo, dấn thân vào sự nghiệp công ích xã hội. Khai triển phục vụ xã hội cũng như sự nghiệp từ thiện là phương thức trực tiếp nhất và có tính đại diện nhất trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của Phật giáo. Phật giáo tích cực tham gia thúc tiến sự nghiệp xã hội phát triển, duy trì tiếp tục đi sâu nhân rộng sự nghiệp phúc lợi xã hội, không ngừng mở rộng quy mô đến các tầng lớp đều nhận được lợi ích từ đó, đối với sự đẩy mạnh cứu trợ xã hội, kiến tạo bầu không khí hành thiện trong toàn dân chúng có tác dụng thúc tiến lành mạnh.

[7] Đại trí độ luận quyển 26; Đại chánh tạng quyển 25, trang 0256 b.

[8] Đai bát Niết-bàn kinh quyển 15; Đại chánh tạng quyển 12, trang 0454a.



[i] Pháp sư Lý Tịnh, người huyện Vị Nguyên, tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. Đương nhiệm Phó Giáo sư Viện Phật học Trung Quốc. Ngoài tác phẩm Văn hóa và giáo dục Phật giáo, những năm gần đây, để phục vụ công việc giảng dạy, tác giả chuyên tâm nghiên cứu Tam luận học, trước sau lần lượt xuất bản các chuyên tác như Tam luận tông khái yếuTrung quán luận giảng nghĩaBách luận giảng nghĩaThập nhị môn luận giảng nghĩaDuy-ma-cật kinh giảng nghĩa; và bên cạnh đó, tác giả còn công bố hàng loạt bài viết Phật học đăng trên các tạp chí trong nước và trên các tạp chí Hồng Kông (“Nội Minh”), Đài Loan (“Hải Triều Âm").  

www.chuabuuminh.vn
Từ khóa:
Ý kiến phản hồi


 Refresh

Các tin khác

Từ khóa tìm kiếm