Phương pháp Văn Hiến Học

Văn hiến học là việc nghiên cứu về tư liệu văn hiến. Hạn mục công việc của nó là hiệu đính, chỉnh lý nguyên điển tư liệu, rồi đem nó xuất bản; tỉ giảo nghiên cứu giữa văn tự nguyên điển, những bản dịch, trước tác khác nhau, căn cứ nguyên điển và bản dịch rồi phiên dịch thành ngữ văn hiện đại (現代語文); còn thêm phần chú thích tỉ mỉ, nội dung chú thích này có thể qua nhiều khía cạnh, nêu lên cả những nghĩa tự (義字), văn pháp (文法), lịch sử (歷史), tư tưởng (思想), văn học (文學), đều chứa nội dung bên trong; còn có thể làm đối chiếu soạn chữ giữa nguyên điển ngữ văn và ngữ văn bản dịch. Cuối cũng tạo ra một sách dẫn tổng hợp, dựa vào đó mà tra khảo.

Một vài mảnh tạng kinh tiếng Phạn Ấn Độ cổ sơ 

Công tác này, yêu cầu tri thức rất nhiều khía cạnh, nhất là trong đó lấy ngữ ngôn học (語言學 Philology) và mục lục học 目錄學 Bibliography) làm trụ cột; đặc biệt ngữ ngôn học, cũng là gốc của tất cả. Nếu tri thức ngữ ngôn không đầy đủ, thì rất khó tạo ra thứ học vấn này.

   Nghiên cứu Phật học hiện đại, đặc biệt là phương Tây, hầu như toàn là nghiên cứu văn hiến học. Học giả phương Tây đặc biệt chú trọng đến văn hiến học, có thể tìm ngược lên đến một tập tục truyền thống học thuật phương Tây, tức là, đối với nghiên cứu La Mã và Hy Lạp cổ đại, không những có liên hệ đến vấn đề triết học (哲學), tôn giáo (宗教), lịch sử (歷史) mà đều lấy nghiên cứu ngữ ngôn học làm điểm căn bản. Tập quán này ảnh hưởng đến nghiên cứu Phật học, khiến cho đi trên đường văn hiến. Ngoài ra, một điểm nữa là học giả có liên hệ đến việc huấn luyện. Có thể nói nghiên cứu Phật học của học giả phương Tây nghiên cứu biểu hiện qua con đường điển tịch tiếng Hy Lạp và  tiếng Latinh cổ điển. Trong truyền thống loại học thuật này của học giả, từ sớm đã bồi dưỡng điển tịch tiếng Hy Lạp và  tiếng Latinh cổ điển rồi xuất bản, phiên dịch, huấn luyện phân tích và phương pháp nghiên cứu. Họ còn lấy thứ huấn luyện và phương pháp này, ứng dụng rất thích hợp thuận theo nghiên cứu Phật học, đặc biệt là nghiên cứu về tiếng Phạn nguyên điển Phật giáo và kinh điển tiếng Pāḷi, nên chúng ta rất dễ hiểu rõ đến. Học giả phương Tây ngồi xuống để xuyên qua nghiên cứu Phật học, đối mặt với một khối lớn mặt phẳng nghĩa lý mà chưa hiểu thấu, còn dùng ngữ văn rối rắm để ghi thuật tư liệu kinh điển. Họ trước hết phải nắm vững, tự nhiên sẽ kéo dài cho mình vận dụng phương pháp ngữ ngôn học, mới nắm bắt văn pháp tiếng Phạn và tiếng Pāḷi, phiên dịch và xuất bản nguyên điển của tiếng Phạn và tiếng Pāḷi.

   Về khía cạnh tư liệu, nghiên cứu Phật học ở phương Tây một mạch đều tập trung nguyên điển tiếng Phạn và tiếng Pāḷi ở Ấn Độ, sau đó mới chú ý tới phiên dịch và văn học tiếng Tây Tạng, đối với tư liệu tiếng Hán thì chưa để tâm mấy. Đó cũng là nói đến khá tự nhiên. Hiện tượng này cũng có thể xuyên qua nhân tố ngữ ngôn học để giải thích. Vì ngữ ngôn của hệ Ấn Độ (印度系) vốn thuộc Ấn Độ Y Lãng ngữ phái (印度伊朗語派) trong Ấn Âu ngữ hệ (印歐語系), văn pháp học tỉ giảo (文法學比較) gọi là Nhã lợi an cổ Ấn Độ (古印度雅利安 Ancient Indo-aryan), nó có liên hệ rất mật thiết đến ngữ ngôn châu Âu. Tính thân hòa (親和性) trong loại ngữ ngôn học này, rất tự nhiên dẫn đến sức chú ý của học giả phương Tây, dẫn đến việc nghiên cứu kinh điển tiếng Phạn và tiếng Pāḷi.

   Ngoài ra, còn có nhân tố mục đích xen lẫn chính trị. Các nước châu Âu thời gần đây thực thi chính sách cai trị các nước khác, húng thú của các nước này chủ yếu nghiêng về khía cạnh kinh tế, nhưng vì mục đích phải củng cố thống trị, nên cũng có nhận thức tương đối đối với lịch sử văn hóa của những mãnh đất này. Ấn Độ, Tích Lan và các nước khu vực Đông Nam Á, đều từng là thuộc địa của nước Anh, nước Pháp. Ngữ văn thời xa xưa của những nước này, đều đã được chú ý đến. Và ngôn ngữ liên hệ với Phật giáo cũng là tiếng Phạn và tiếng Pāḷi. Đó cũng thúc đẩy nguyên điển của loại hai ngữ ngôn này, trở thành trọng điểm trong nghiên cứu Phật học phương Tây.

   Như phần trước có nói đến học giả người Pháp  E. Burnouf là người mở ra, mặc định nền tảng văn hiến học qua ngữ ngôn học trong nghiên cứu Phật học phương Tây. Nói vậy này cũng không quá lắm. Ông là một học giả mở đầu cho việc lấy ngữ ngôn học nghiêm chỉnh để nghiên cứu và phiên dịch Phật điển. Từ sớm vào năm 1826, ông với Chr. Lassen cùng biên soạn bộ từ điển tiếng Pāḷi đầu tiên ở châu Âu.[1] Ông nghiên cứu qua không ít kinh điển Đại thừa và Tiểu thừa, bao gồm Pháp Hoa kinh Trường A-hàm kinh (Dīghanikāya), đã đem những bản sách luận trước đây dịch ra tiếng Pháp. Ông không những xem trọng kinh điển tiếng Phạn và tiếng Pāḷi, xem là đại biểu Phật giáo chính tông Ấn Độ, mà còn chú ý tới tư liệu những khía cạnh khác, trong đó bao gồm phiên dịch và giải thích tiếng Tích Lan, tiếng Miến Điện, tiếng Thái Lan, tiếng Tây Tạng. Ngoài ra, ông còn không bỏ sót ngữ văn Nhã lợi an Ấn Độ, như tiếng Bangladesh, dốc sức và tâm đắc khía cạnh tỉ giảo ngữ ngôn. Ông đúng thực là một thiên tài ngữ ngôn học.

   Đương nhiên, nỗ lực nghiên cứu Phật học, tiếng Phạn và tiếng Pāḷi lúc đó cũng không chỉ có một mình E. Burnouf, mà cùng thời đại còn có nhà ngữ ngôn học Đan Mạch Rasmus Kristian Rask. Ông du học Tích Lan, thâu tập được một số bản sao tiếng Pāḷi, rồi sau đó viết thành một cuốn văn pháp tiếng Pāḷi. Ông còn gom nhặt được ở thủ đô Copenhagen rồi thâu tập, khiến cho thủ đô này thịnh hành một thời và trở thành trung tâm nghiên cứu tiếng Pāḷi rất quan trọng ở châu Âu.

   Nối tiếp sau thời E. Burnouf, giới nghiên cứu Phật học phương Tây xuất hiện rất nhiều đại sư văn hiến học. Phạm vi của họ, bao gồm nghiên cứu nguyên điển tiếng Phạn, kinh tạng Pāḷi và kinh điển Tây Tạng, cũng có xen lẫn văn hiến Hán dịch. Như Louis de la Valle Poussin dịch Thành Duy Thức Luận ra tiếng Pháp,[2]Étienne Lamotte người Pháp dịch Đại Trí Độ Luận ra tiếng Pháp.[3]Những học giả này, họ tự mình chuyên trong nhiều khía cạnh, có lẽ không ít người đã vượt trên thành quả của E. Burnouf. Nhưng nhìn chung, phương pháp và phương hướng nghiên cứu của họ, sau cuối cũng không ra ngoài nền móng của E. Burnouf, tức là nói, trên căn bản vẫn dựa theo, đi theo đường của công việc hạn mục văn hiến học như hiệu đính, phiên dịch, giải thích chữ, chú thích, sách dẫn, xuất bản, nỗi bật là trọng điểm sắp xếp là phiên dịch ra ngữ văn (như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức) hiện đại.[4] Trong tiết thứ 2 của bản văn,  chúng tôi có nói tới phương pháp nào đó đã ảnh hưởng đến vấn đề trọng tâm và thành quả trong nghiên cứu. Như việc nêu lên nghiên cứu Hồi Tranh Luận, học giả biểu hiện nghiên cứu khía cạnh văn hiến học, cũng có thể khiến cho người ta thấy được loại nghiên cứu này.

   Thành quả đạt được trong nghiên cứu Phật học theo mô thức văn hiến học ở phương Tây, đúng thực là một biển rộng mênh mông, khó mà trình bày hết trong một lúc. Nó cũng không phải là nội dung soạn viết của tôi trong bản văn này.[5] Trên thực tế, tôi cho rằng, cũng là khiến cho tăng thêm bổ sung nhiều về việc giới thiệu, cũng mang ý nghĩa lớn nhiều trong việc cần phải tiến hành khảo sát bản văn, nó vẫn còn chỉ là một dạng rườm rà số lượng mà thôi. Quan trọng là phải hiểu rõ bản chất, công dụng và hạn chế của loại phương pháp văn hiến học này.

   Nghiên cứu Phật học hiện đại ở Nhật Bản, khởi điểm khá trễ, nhưng phương hướng nghiên cứu trên căn bản vẫn tương đồng với phương Tây, tức cũng là phương pháp văn hiến học. Vào thập niên 70 của thế kỷ XX, Nanjo Bunyu (南條文雄) du học ở trường đại học Oxford nước Anh, học tập tiếng Phạn và phương pháp ngữ ngôn học phương Tây. Sau có Junjirō Takakusu (高楠順次郎) cũng du học ở đại học Oxford, trau dồi sâu tiếng Phạn và tiếng Pāḷi. Hai người này vạch lối mở đầu ở Nhật Bản, trở thành phương thức thực hành nhất quán trong giới nghiên cứu Phật học Nhật Bản. Nanjo Bunyu hơi nghiêng nặng nghiên cứu nguyên điển tiếng Phạn và văn hiến Hán dịch, ông dịch và bổ chính Đại minh Tam Tạng Thánh Giáo Mục Lục (大明三藏聖教目錄), gọi thông thường là Nanjo Mục Lục (南條目錄); đó là một loại chỉnh lý toàn diện tạng kinh Hán dịch. Quyển đầu Phụ tự luận (附序論), tham chiếu thư mục; quyển cuối còn có Mục lục và Sách dẫn về trước tác ở Ấn Độ, giới thiệu tác giả ở Trung Quốc, dịch giả Hán dịch. Nanjo Mục Lục sau đó trở thành kim chỉ nam cho nghiên cứu Đại tạng kinh Hán dịch ở các nước. Ngoài ra, Nanjo Bunyu còn phiên dịch và cho lưu hành không ít kinh điển tiếng Phạn, dồi dào không đếm xuể.  Junjirō Takakusu lại nghiêng về kiêm cả kinh tạng Hán dịch và kinh điển Pāḷi, ông từng cộng tác, thẩm định, xuất bản Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh (大正新修大藏經), còn chủ trì phiên dịch Nam Truyền Đại Tạng Kinh (南傳大藏經), phiên dịch một vài nguyên điển tiếng Phạn ra ngữ văn hiện đại. Hai người này tuy đều lấy phương Tây làm thầy, nhưng biểu hiện chỗ mị lực thì tợ hồ nỗi bật vượt trội.

   Trên thực tế, giới Phật học Nhật Bản ngót đến nay biểu hiện ra thành quả khoảng hơn 100 năm. Từ góc độ rộng, quy cách phương Tây tợ hồ khá lớn. Những học giả văn hiến học Nhật Bản, học tập được phương pháp loại tỉ giảo ngữ ngôn học (比較語言學), còn thông hiểu căn bản ngữ văn, như tiếng Phạn, tiếng Pāḷi, tiếng Tây Tạng. Ngoài ra, họ hiểu rõ khía cạnh kinh điển Hán văn, có điều kiện ưu việt tuyệt đối, có thể vận dụng tư liệu khía cạnh này, đó cũng chẳng phải là cái đạt được của phương tây.

   Mặt khác, điều kiện có lợi là xuôi theo nhân tố địa lý. Do từ học giả Nhật Bản du học ở nhiều nước rồi tụ tập về nước mình, không giống học giả Âu Mỹ phân tán đến các nước, nên giới Phật học Nhật Bản thường lúc có việc nghiên cứu học thuật thì được tiến hành hợp tác tập thể. Dạng phương thức nghiên cứu này, nếu hợp tác suôn sẻ, rất có thể tự thân cá nhân phát huy khá đột phá. Ở Nhật Bản cũng thực tại là 1 trong 10 phần giảng cứu tính nghiêm chỉnh dân tộc, nên thành quả nghiên cứu khả quan trọn vẹn.[6]Ở Nhật Bản biên soạn được rất nhiều bộ từ điển Phật học ưu tú, cũng là xuyên qua phương thức này mà thành.[7] Phương thức này cũng khá ít thấy ở phương Tây. Về khía cạnh phiên dịch nguyên điển Phật giáo, ở Nhật Bản dạng phương thức hợp tác tập thể này cũng có biểu hiện qua rất rộng nhiều. Họ trong những năm gần đây tợ như có một dạng phong cách này, vốn xuyên qua lập trường ngữ ngôn học của khoa học để huấn luyện căn bản văn hiến học hiện đại, không dựa dẫm nhiều Hán dịch, mà trực tiếp chỉnh lý trong văn hiến toàn diện nhằm tăng thêm nguyên điển tiếng Phạn và tiếng Pāḷi Phật giáo Ấn Độ, làm mới lại bản phiên dịch nhằm trở thành bản ngữ lưu truyền hiện đại. Việc làm này không chỉ có giá trị học thuật mà còn có thể kiêm nhìn lại khía cạnh tính phổ cập (普及性), khiến cho Phật học lưu thông trong xã hội.[8] 

     Từ thời hai vị Nanjo Bunyu, Junjirō Takakusu khoảng 100 năm sau, ở Nhật Bản sau đó xuất hiện những nhà văn hiến học và giới Phật học nổi tiếng, như Hakuju Ui (宇井伯壽) Unrai Ogiwara (获原雲來) Enga Teramoto (寺本婉雅) Susumu Yamaguchi (山口益), Yoshimura Shuki (芳村修基), Kōgen Mizuno (水野弘元). Trên thực tế, phong cách nghiên cứu văn hiến học của giới Phật học Nhật Bản hầu như vẫn thịnh hành hơn so với phương Tây. Những thành tựu này, từ sớm đã có Nanjo Bunyu, Junjirō Takakusu vượt bậc qua nhiều khía cạnh. Nhưng từ phương hướng nghiên cứu, tôi cho rằng cũng là đường hướng xưa nay, vẫn là lấy Nanjo Bunyu, Junjirō Takakusu làm nền móng cho sau này, trong bản chất cũng không biến đổi.

   Susumu Yamaguchi (山口益) là một nhà văn hiến học điển hình, tài hoa của ông qua nhiều khía cạnh, cũng không nhất định hạn hẹp ở văn hiến. Nghiên cứu của ông có liên hệ mật thiết với học giả văn hiến người Pháp Sylvain Lévi. Thành tích đóng góp của ông là khai quật bản viết tiếng Phạn, sau đó lĩnh đạo, nghiên cứu, xuất bản những bản viết này.[9] Ông trong những năm lưu học nước Pháp đã tiếp thu ảnh hưởng từ Sylvain Lévi, sau đó ông nghiên cứu qua nhiều khía cạnh trong Trung Biên Phân Biệt Luận Thích Sớ (中邊分別論釋疏) của ngài An Huệ, phát hiện ra điểm quan trọng của Sylvain Lévi, rồi ông viết thành ba cuốn sách. Trong ba cuốn sách này, ông biểu hiện điển hình cho việc dùng văn hiến học để nghiên cứu Phật học: một là Phạn bản biên đính và thích sớ, hai là bản dịch tiếng Nhật và chú thích Phạn bản này, ngoài ra còn có biểu hiện đối chiếu bản Hán dịch và Tây Tạng dịch của Sớ thích này và sách dẫn Phạn bản. Ba cuốn sách này đúng là nêu cao tuyến tố rõ suốt về giải thích phương thức nghiên cứu Phật học ở phương Tây và Nhật Bản.

   Giới học thuật Nhật Bản đối với phương pháp văn hiến học này, trước nay rất sớm dùng đến việc nghiên cứu Ấn Độ học (印度學), nguyên điển Phật giáo tiếng Phạn và tiếng Pāḷi tự nhiên trở thành hạn mục quan trọng trong đó, tư liệu tiếng Tây Tạng cũng bao gồm bên trong. Học giả thời sau này đem ra suy luận triển khai phương pháp này, rồi mang đến dùng cho nghiên cứu Phật học Trung Quốc và Phật học Nhật Bản. Trong nghiên cứu Thiền, sau đó cũng khá tiếp thu chi phối trình độ phương pháp này. Thiền xưa nay là “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự”, nhưng bất luận ở Trung Quốc hay Nhật Bản, tư liệu văn tự được di lưu trải qua nhiều đời đều nhiều đặc thù, như bộ Truyền đăng lục (傳燈錄). Trong nghiên cứu Phật học Nhật Bản những năm gần đây, cũng từ việc kết hợp liên hệ mật thiết giữa phương pháp và văn hiến, thật cũng có nảy sinh mâu thuẫn nhưng chỉ một phần mười.

   Nêu lên điển hình thực tế mô thức này, nhằm biểu hiện người Nhật Bản nghiên cứu văn hiến học Thiền. Thiền chi ngữ lục (禪之語錄) là biểu hiện hợp tác của tập thể về khía cạnh này. Thiền chi ngữ lục là một tùng thư, gồm 20 quyển, nghiên cứu toàn diện trước tác, điển tịch thiền Trung Quốc.[10]Phương thức nghiên cứu đại khái y chiếu từ tiến hành trình tự theo dạng: hiệu đính nguyên văn (校訂原文), huấn đọc (訓讀),[11]phiên dịch, giải đề, chú thích, sách dẫn tiếng Nhật hiện đại. Văn đầu, văn cuối, dựa một tự luận khác, hoặc một vài văn hiến có liên hệ đến tự thân ngữ lục.[12]Những trước tác này được giảng giải cặn kẽ, như ThiềnNguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (禪源諸詮集都序) của ngài Tông Mật, trước nay không thấy bình luận văn chương nhiều, nhưng cũng tạo thêm thu hút. Trung Hoa Truyền Tâm Địa Thiền Môn Sư Tư Thừa Tập Đồ (中華傳心地禪門師資承襲圖) cũng rất hạn hẹp, nhưng nghiên cứu của Shigeo Kamata (鎌田茂雄) đã hình thành một bộ sách dầy với văn chương dồi dào. Và cách thức nghiên cứu này, đúng là một thứ không khác với sách giáo khoa của trung học hay đại học, chỉ khác nhau ngắn gọn hay dồi dào mà thôi. Tùng thư này giải thích ít nhiều sâu sắc nghĩa lý, nên không phải nghi ngờ.

   Một dạng biểu hiện khác nữa là chuyên môn biên soạn từ điển, như Thiền Học Từ Điển. Theo thấy biết của tôi, đã có hơn ba bản khác của người Nhật Bản biên chế từ điển này, gồm có Thần Bảo Như Thiên (神保如天) và An Đằng Văn Anh (安藤文英) hợp biên Thiền Học Từ Điển (禪學辭典), là bộ từ điển dầy cộm hơn 1.600 trang, gồm 3 quyển dầy, quy cách cũng lớn hơn bộ Thiền Học Đại Từ Điển (禪學大辭典) của đại học Komazawa; đây có lẽ là một bộ từ điển chuyên sâu rất lớn. Ngoài ra còn có những từ điển chuyên sâu, cũng là từ điển dùng ngôn ngữ để biên soạn những thiền tịch cổ điển, như Trung Thôn Tông Nhất (中村宗一) biên soạn Chính Pháp Nhãn Tạng Dụng Ngữ Từ Điển (正法眼藏用語辭典). Chính Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏) là bộ sách lớn nổi tiếng của vị khai tổ dòng Thiền Tào Động Nhật Bản Thiền sư Đạo Nguyên (道元). Những từ điển này, ngoài phần chính văn, còn có dựa vào những hạn mục khác như: thiên tổ sư hay người nổi tiếng, thiên vùng đất nổi tiếng, văn hiến dẫn dụng, văn hiến tham khảo, sách dẫn, phụ lục. Những từ điển này, đúng là đại biểu cho phát triển đến tột độ về nghiên cứu văn hiến học của giới nghiên cứu Phật học Nhật Bản.

   Trích từ cuốn Nghiên Cứu Phật Học Và Phương Pháp Luận gồm 2 quyển của Giáo sư Ngô Nhữ Quân, Thích Trung Nghĩa dịch (sẽ xuất bản)

Giáo sư Ngô Nhữ Quân

Thích Trung Nghĩa dịch



[1]E. Burnouf  et Chr. Lassen,  Essai sur le Pali ou Langue sacrée de La Presqu'îl

ua-delà du Gange, Paris, 1826

[2] Vijñaptimātratāsiddhi La Siddhi la Siddhi de Hiuan-Tsang

[3]Bản dịch này không dịch trọn vẹn bộ, mà chỉ dịch 27 quyển

[4]Trong đó đương nhiên cũng có những bản dịch khác, như  có người dịch Thành Duy Thức Luận (成唯識論), cũng chú ý tới một vài quan niệm trọng yếu về hàm nghĩa triết học, như: nghiệp, tam thân, duyên khởi. Nhưng nhìn chung cũng là số ít.

[5] J. W. De Jong viết bài “Âu Mỹ Phật học nghiên cứu giản sử” (歐美佛學研究簡史 A Brief History of Buddhist Studies in Europe and America, The Eastern Buddhist. New Series, Vol. VII, No. 1,2, 1974), trình bày rất rõ về thành quả nghiên cứu văn hiến học của giới Phật học phương Tây. Thiên văn chương này của  J. W. De Jong, thực có thể nói là dùng phương pháp Mục lục học (目錄學)  mang nghĩa rộng để viết ra. Người đọc cuốn này, sẽ nhìn rộng xa nghiên cứu Phật học ở phương Tây là: vì sao học giả cần nghiên cứu những nội dung này, vì sao học giả phải nghiên cứu kinh điển ấy. Tác giả lúc ấy cũng không bình luận cách thức những văn hiến học trước tác này. Từ trong cuốn sử này mà người đọc cũng không khó thấy được phong cách văn hiến học của bản thân J. W. De Jong 

[6] Một điển hình rất rõ là nghiên cứu Triệu luận (肇論). Đối với việc kết tập bộ sách nghiên cứu Tăng Triệu, học giả nước Đức Walter Liebenthal hơn 10 năm trước đã có những nỗ lực dầy công: luận thuật trước tác, phiên dịch, chú thích, khảo chứng và sách dẫn, rồi thành tựu cuốn Chao-Lun: The Treatises of Seng-Chao. Sau đó ở Nhật Bản có Zenryū Tsukamoto (塚本善隆) cũng lãnh đạo một tổ thành viên ở Sở nghiên cứu khoa học nhân văn ở trường đại học Kyōto, nghiên cứu toàn diện về bộ Triệu luận, đó là những chuyên gia tự phát huy việc kết tập sở trường của mình, thành tích nghiễm nhiên vượt trên Walter Liebenthal

[7]Như Shinkō Mochizuki (望月信享) chủ biên Phật giáo Đại Từ Điển (佛教大辭典), đại học Ryūkoku biên soạn  Phật giáo Đại Từ Vựng (佛教大辭彙). Gần đây còn có Hajime Nakamura (中村元) chủ biên Phật Giáo Ngữ Đại Từ Điển (佛教語大辭典). Quy cách khá ít như Kōgen Mizuno (水野弘元)  tu chỉnh Tân Phật Điển Giải Đề Sự Điển (新佛典解題事典), đây là Từ điển mang quan điểm học thuật hiện đại, là bộ giới thiệu giải đề điển tịch Phật giáo ách yếu quan trọng, nội dung bao gồm rất nhiều kinh, Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Trung Quốc, Phật giáo Nhật Bản Và các khía cạnh thánh điển Ấn Độ; sau đó sách còn chia ra ngõ giới thiệu thư tịch nghiên cứu Phật học của người biên soạn thời nay; cuối sách còn dựa vào sách dẫn tiếng Nhật, tiếng Hoa và sách dẫn chữ số La Mã (bao gồm tiếng Phạn, tiếng Pāḷi, tiếng Tây Tạng, tiếng Anh). Bộ này so với Phật Giáo Đại Từ Điển có thể xem là nhỏ hẹp, nhưng tôi vẫn cho rằng bộ này vượt 52

[8]Về khía cạnh này, biểu hiện việc biên dịch Đại thừa Phật điển (大乘佛典) của Gajin Nagao (長尾雅人) và Vĩ Sơn Hùng Nhất (尾山雄一) chủ trì. Thành quả biểu hiện qua bản biên dịch này, được giới học thuật Nhật Bản và nước ngoài đều bình phẩm rất cao

[9] Sylvain Lévi khai quật những bản viết Phật học tiếng Phạn, là một việc tạo điều kiện nở rộ cho giới học giả phương Tây. Ông từng nhiều lần tới Nepal để thâu tập tìm tòi tư liệu, thu hoạch dồi dào, trong đó bao gồm bản sao tiếng Phạn: Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận (大乘莊嚴經論) của ngài Vô Trước, Duy Thức Tam Thập Luận (唯識三十論) và Duy Thức Nhị Thập Luận (唯識二十論) của ngài Thế Thân, Trung Biên Phân Biệt Luận Thích Sớ (中邊分別論釋疏) của ngài An Huệ    

[10]Điển tịch ngữ lục gồm có: Nhị Nhập Tứ Hành Luận (二入四行論), Truyền Pháp Bảo Ký (傳法寶紀), Lăng-già Sư Tư Ký (楞伽師資記), Lịch Đại Pháp Bảo Ký (歷代法寶記), Lục Tổ Đàn Kinh (六祖壇經), Thần Hội Ngữ Lục (神會語錄), Đốn Ngộ Yếu Môn (頓悟要門), Bàng Cư Sĩ Ngữ Lục (龐居士語錄), Truyền Tâm Pháp Yếu Uyển Lăng Lục (傳心法要宛楞錄), Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (禪源諸詮集都序), Lâm Tế Lục (臨濟錄), Triệu Châu Lục (趙洲錄), Động Sơn Lục (洞山錄), Hàn Sơn Thi (寒山詩), Phụ Giáo thiên (輔教篇), Tuyết Đậu Tụng Cổ (雪竇頌古), Thập Ngưu Đồ (十牛圖), Đại Huệ Ngữ (大慧語), Vô Môn Quan (無門關), Thiền Quan Sách Tấn (禪關策進). v...v, Có thể xem khá toàn diện

[11]Huấn đọc là cách thức đọc tiếng Nhật về điển tịch Trung Quốc, tức là kết cấu văn pháp tiếng Nhật được dựa vào nguyên văn tiếng Hoa để đọc. Phương thức này khá thịnh hành ở Nhật Bản, mà còn rất có hiệu quả. Nhưng khi người Trung Quốc đọc, cũng khiến cho rất gần với tiếng Nhật, nên không tránh khỏi cảm giác gặp nhau 

[12] Như  Đạt-ma Truyện (達摩傳) của ngài Đàm Lâm,  Nhị Nhập Tứ Hành Luận (二入四行論) của ngài Bồ-đề-đạt-ma, hoặc Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự Luận (禪源諸詮集都序論) của Bùi Hưu

www.daophatngaynay.com
Từ khóa:
Ý kiến phản hồi


 Refresh

Các tin khác

Từ khóa tìm kiếm