Đức Phật và hàng đệ tử ban đầu sử dụng ngôn ngữ gì?

Tiếng Ma-kiệt-đà không phải ngôn ngữ đầu tiên của Ngài.
image
Đền thờ Ấn Độ giáo trên đảo Carakan

Đức Phật vốn sinh ở nước Nepal ngày nay. Ngôn ngữ đầu tiên của Ngài là gì? Hiện nay không biết dựa vào đâu để suy đoán. Nhưng cuộc đời Ngài du hành giáo hóa với thời gian khá dài ở nước Ma-kiệt-đà. Nước Ma-kiệt-đà ước chừng nay là bang Bihar, có phương ngôn riêng. Đức Phật dùng tiếng Ma-kiệt-đà để thuyết pháp trong việc truyền giáo. Còn đệ tử của Đức Phật, có nguồn gốc khác nhau, xuất thân khác nhau, tất nhiên đều đến ở Ma-kiệt-đà, cũng sử dụng ngôn ngữ cộng đồng, mới có thể hiểu được. Đức Phật không quy định lấy một ngôn ngữ làm trung tâm, không vì bản thân mình, cũng không dùng một ngôn ngữ hay phương ngôn. Lamotte nói: “Đức Phật đến nơi nào thì sẽ dùng ngôn ngữ nơi ấy”. Có một số học giả khác, đặc biệt là Heinz Bechert đã ba lần nhấn mạnh tính đa dạng trong ngôn ngữ của Đức Phật. Những ý kiến nêu ra này đều là suy nghĩ chủ quan, thiếu sót căn cứ. Thậm chí có học giả cho rằng, người Aryan Ấn Độ có thể biểu hiện hỗ tương, bởi vì đều là phương ngôn, cũng là thiếu sót căn cứ. Lùi một bước, nếu thật ý kiến này của họ chính xác, thì Đức Phật chỉ nói một phương ngôn, hoàn toàn gặp nhiều trở ngại ngôn ngữ ở những miền vùng rộng lớn, thì làm sao đến nơi nào sẽ dùng ngôn ngữ nơi ấy? Nếu xem là phương ngôn, thì không nhất định biểu đạt hỗ tương. Ví dụ một số vùng núi thuộc tỉnh Chiết Giang và Phúc Kiến, chỉ ngăn cách một hòn núi, mà họ nói chuyện cũng khó nghe hiểu. Vậy tình huống cổ Ấn Độ khó khăn khác nhau thế nào?  Rút cuộc Đức Phật dùng tiếng Ma-kiệt-đà, nói tiếng Ma-kiệt-đà để thuyết pháp ư? Ý kiến của học giả cũng không nhất chí. Theo tôi, tính khả năng Đức Phật phần nhiều dùng tiếng Ma-kiệt-đà, bởi vì:

1, Tiếng Ma-kiệt-đà không phải ngôn ngữ đầu tiên của Ngài.

2, Điển hình như Quan thoại phổ thông ngày xưa ở Trung Quốc. Nước Ma-kiệt-đà là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, tiếng Ma-kiệt-đà cổ đại cũng phảng phất Quan thoại phổ thông. Trên thực tế, đã trải qua một thứ hochsprache, linguafranca.[1]Ý kiến của GustavRoth là:  Bạc-già-phạm Phật lúc du hành thuyết pháp ở thành Vương-xá, nước Ma-kiệt-đà và các nơi khác, tất nhiên phải dùng tiếng Ma-kiệt-đà cổ đại hoặc tiếng bán Ma-kiệt-đà cổ đại để nói cho mọi người nghe.

Việc sáng lập tôn giáo, cũng tìm đến công cụ ngôn ngữ hiện thành. Đức Phật cũng du hành thuyết pháp mọi nơi. Truyền thuyết ghi Ngài thuyết pháp lần đầu—thuật ngữ Phật giáo gọi là “Sơ chuyển pháp luân”—tại Vườn Nai nước Kaśmira (thành phố Vārāṇasī). Kaśmira là trung tâm thương nghiệp, lưu thông thương mại. Thấy được Phật giáo bắt đầu cũng cùng có quan hệ cực kì mật thiết với thương nhân. Căn cứ tiếng Carakan ghi lại, Đức Phật thuyết pháp lần đầu, chuyên chú giảng Tứ thánh đế. Rất nhiều kinh điển ghi về sơ chuyển pháp luân.[2]Căn cứ nghiên cứu của Fr.Weller, tập bản tối cổ Tứ thánh đế được dùng tiếng Ma-kiệt-đà cổ đại để viết thành. Ý kiến này thực có ý nghĩa lạ thường, có tính phát khởi lạ thường.

Lần sơ chuyển pháp luân này, Đức Phật còn nói đến vấn đề lưỡng đoan (兩端). Bất luận thế nào, học thuyết tối sơ nhất định cũng khá đơn giản, không thành hệ thống. Phật điển hiện nay, bất luận một bộ phái nào hay giáo nghĩa Phật giáo được ghi lại, bên trong đều là hệ thống hóa sau đó, nên không thể căn cứ hệ thống hóa này mà suy định là giáo nghĩa Phật giáo nguyên thủy. Đại khái sau đó đi theo thế lực Phật giáo mà dần dà rộng lớn, xa rời vượt xa trung tâm nguyên thủy của Phật giáo, rồi cảm vời đến yêu cầu phải có một bộ kinh điển. Kinh điển tối sơ chắc chắn không như quy cách rộng lớn của thời đại sau này, mà có một quá trình hình thành lần lượt, từ nhỏ dần lớn, từ thô dần tinh. 

Về quá trình hình thành Phật điển nguyên thủy. Heinz Bechert chủ trương, Phật điển tối cổ là thuộc từ Luật bộ.[3]Ý kiến của E.Frauwallner là: “Ngọn nguồn phân chia bộ phái do từ giáo nghĩa. Bắt đầu từ kiết tập tại thành Vaiśālī mới có chi tiết về điều Luật”.[4]Ý kiến này hoàn toàn không khả năng. Trước hết lấy việc hình thành kinh điển Nho giáo làm điển hình. Những học giả công nhận, Luận Ngữ trong kinh điển Nho giáo là tối cổ, là một bộ rất có quyền uy. Trong đó có rất nhiều lời lẽ khả năng đúng đắn, được bắt nguồn từ Khổng Tử . Lời lẽ trong Luận Ngữ cũng không phải luật điều. Đương nhiên, Phật giáo và Nho giáo bất đồng, vậy hai đạo này rút cuộc có điểm khó chung không?  Việc hình thành kinh Phật khả năng có điểm tương tự với Luận Ngữ. Lúc Đức Phật thuyết pháp hay lúc đàm thoại, thường thì có hay nói một số lời lẽ, biểu hiện nói thích hợp, rồi lời sâu hằn in trong kí ức của các đệ tử. Như lúc kiết tập lần đầu, các đệ tử tập trung lại, hồi ức Phật ngữ (回憶佛語 Buddhavacanam), đều nói rõ mồn một về thời gian và địa điểm Đức Phật thuyết pháp, sau đó định hình cho sau này. Mỗi một bộ kinh Phật đều mở đầu câu “Tôi nghe như vậy”, không ngoài việc thuyết minh tính dựa dẫm sự thực, phát nguồn Phật điển nguyên thủy đại khái cũng như vậy.

Thường thấy được trong rất nhiều kinh điển có ý nghĩa hoàn toàn tương đồng, nhưng 3 câu dưới đây lại có bất đồng đôi chút văn cú:

“Sinh tử đã tận, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không thọ thân sau” (kinh Trường A-hàm, q.3 kinh Du Hành, 1, 17b)

“Ta sinh đã tận, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không thọ thân sau” (Căn bản Thuyết Nhất thiết Hữu bộ Tì-nại-da tạp sự, q.36, 24, 389a)

“Ta sinh đã tận, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không lại thọ thân” (luật Tứ Phần, q.38, 22, 844c)

Trên thực tế thì có rất nhiều kinh luận. Sao chỉ có 3 bộ mà đã xuất hiện trùng lập? Cách giải thích hợp lý duy nhất, đó là đệ tử khắc sâu ấn tượng, thường hay ghi nhớ lời nói trong đầu, từ đó truyền về sau. Dựa vào loại suy này, một số ngôn ngữ Đức Phật hay nói cũng lưu truyền về sau cũng như vậy, rồi hình thành trung tâm và nền tảng kinh điển tối sơ. Sau đó, tùy theo biến đổi thời gian, lần lượt mở mang, phát triển, như trái bóng trắng càng lăn càng rộng trên đất, sau đó hình thành một bộ mênh mông rộng lớn, nên số lượng giảng giải và thực điển tam tạng không có hai trên đời.

   Heinz Bechert nêu lên cấp bậc hình thành Phật điển: cấp bậc thứ 1, trước lúc hình thành bộ phái thì tính khu vực của tăng-già có truyền thống riêng. Cấp bậc thứ 2, do từ giải thích bất đồng về Luật mà hình thành bộ phái, giáo nghĩa bộ phái cũng sản sinh từ trong bộ phái Luật.[5]Ý kiến căn bản này, chiếm chỗ đứng vững. Theo lý luận này, chắc chắn không thể nói Phật điển tối sơ là Luật bộ, bởi vì có tăng-già, mới có luật. Đạo lý này không phải là rõ ràng sao!  

Ngoài Heinz Bechert, còn có Norman cũng có quan điểm chính xác, đồng thời vẫn có điểm mâu thuẫn tự tướng. Norman nói: “Đức Phật lúc còn sống và sau khi chết không lâu, trải qua căn cứ ghi nhớ của thính chúng của lời lẽ lúc Phật thuyết pháp rồi dẫn đến thâu tập. Tùy theo biến chuyển thời gian, những tư liệu này hình thành một loại hay nhiều loại lưu truyền. Do từ nhiều nguyên nhân truyền bá một số khu vực Ấn Độ thuộc phương ngôn Đông bộ mà không hiểu chính hướng Phật giáo, nên lúc đó cũng xuất hiện tình huống ‘phiên dịch’ (翻譯) ngữ ngôn khác hoặc, hay do phương ngôn Aryan Ấn Độ trung cổ nối tiếp phát triển, nên phải bỏ đi thơ”.[6]Quan điểm này cũng được xem là có cơ sở. Norman còn phủ nhận “Phật điển nguyên thủy” có gì đó, nên kết quả tự nó không thể trọn vẹn.       

Trích dịch: “15 Đề mục Phật giáo”, đề 3 “Vấn đề ngôn ngữ của Phật giáo nguyên thủy”



[1]HeinzBechert, AllgemeineBemerkungenzumThema “DieSptacheder ltestenbuddhistischen berlieferung”, DieSpracheder lteatenbuedhistischen berlieferung, Gttingen 1980, tr.78

[2]H.Oldenberg, Buddha, Stuttgartund Berlin1923, S.142ff. A.K.Warder, IndianBudhism, Delhi, Varanasi, Patna,1980, p.52

[3]Bechert, NotesontheFormationofBuddhistSectsandtheOriginofM hyana, GermanScholarsonIndia,Varanasi, p.7, 1973

[4] TheEarliestVinaya&theBeginningsofBuddhistLiterature, Roma,1956, p.5

[5]Bechert, NotesontheFormationofBuddhistSectsandtheOriginofM hyana, GermanScholarsonIndia,Varanasi, p.8, 1973  

[6]Heinz Bechert, AllgemeineBemerkungenzumThema “DieSpracheder ltestenbuddhistischenberlieferung”, và DieSpracheder ltestenbuddhistischen berlieferung, Gttingen 1980, p.75

Đền thờ Ấn Độ giáo trên đảo Carakan

Chữ cái căn bản tiếng Carakan (tiếng Bali). Theo Đức Đạt Lai Lạt Ma, Phật giáo trước dùng tiếng Bali, sau dùng tiếng Phạn để kiến lập giáo nghĩa Phật-đà



www.daophatngaynay.com
Từ khóa:
Ý kiến phản hồi


 Refresh

Các tin khác

Từ khóa tìm kiếm