Ngài Địa Tạng Cứu Khổ Cứu Nạn

Đối với người con Phật, xưa nay thường tụng niệm hoặc cầu nguyện ngài Quán-thế-âm cứu khổ, mà hầu như rất ít ai cầu mong ngài Địa Tạng cứu nạn

Hình tượng ngài Địa Tạng xuống địa ngục (lưu trữ trong di thư Đôn Hoàng) được vẽ vào thời Ngũ đại

Phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa tuyên dương hạnh nguyện của ngài Quán-âm vì tâm nguyện cứu đời mà ứng hóa 32 thân, thì kinh Thập Luân (十輪經) của Hán dịch Đại sư Huyền Trang cũng tuyên dương ngài Địa Tạng ứng hóa ra 44 thân để cứu nạn. Không những ngài Địa Tạng cứu khổ trần gian mà Ngài còn xuống tận cõi địa ngục để cứu vớt loài hàm thức bị đọa lạc, ngài phải độ hết chúng sinh thì mới thành Phật (Chúng sinh độ tận phương chứng bồ-đề). Kinh Địa Tạng gồm 13 phẩm, có nhiều phẩm cũng nói đến công hạnh và việc linh nghiệm khi cầu nguyện Ngài. Huyền Trang được nhà thơ Lỗ Tấn tôn sùng ví Huyền Trang như ‘xương sống’ (脊梁) của dân tộc Trung Hoa, Huyền Trang diễn dịch hình dung ngài Địa Tạng là “An nhẫn bất động giống như đất rộng, tĩnh mặc sâu kín giống như bí tạng”, nên ngầm hợp hai chữ Địa Tạng. Tín ngưỡng ngài Quán-âm và ngài Địa Tạng cứu khổ nạn, hay Đức Phật Dược Sư trị lành trăm bệnh được thịnh hành nhân gian. Trong các nghi, hầu hết đều có thờ hình tượng Ngài và cung thỉnh ngài Địa Tạng quang giáng đạo tràng để chứng minh và tiếp độ, nhất là nghi Đề phan-vị  (viết chấm mực son, mực đen trên lá phan và bài vị) trong trai đàn giải oan bạt độ, đều lấy ngài Địa Tạng làm trung tâm khẩn cầu, nương tựa mà cứu vớt các vong linh hay oan hồn.

Liên hệ đến vấn đề địa ngục, dựa theo văn hiến Đôn Hoàng hiện lưu trữ bốn bản viết nội dung Hoàn hồn ký (还魂记); trong đó, câu chuyện nói về Hòa thượng Đạo Minh có liên hệ đến học thuyết nghiệp báo luân hồi Phật giáo. Đạo Minh ở chùa Khai nguyên (开元寺 ở thành phố Tuyền Châu tỉnh Phúc Kiến; chùa này làm tâm điểm mở đầu cho việc phát triển Phật giáo Hán truyền thời Đường) viên tịch ngày mồng 8 tháng 2 niên hiệu Đại Lịch thứ 13 (778) thời Đường và bị sử giả dắt xuống địa ngục. Trải qua thẩm tra tội phước trước mặt vua Diêm La, nhưng vốn trước kia Đạo Minh ở chùa Hưng Long nên chùa đòi lại và được phán quan giử ngục thả ra. Lúc này Đạo Minh “Thấy một thiền tăng, mặt như trăng tròn, mắt như hoa sen xanh, tay cầm hoa sen báu, trang nghiêm anh lạc, tích trượng bằng vòng vàng, lướt trên mây nước”; Đạo Minh không biết đó là ai, vị Tăng này tự giới thiệu ta cũng là Địa Tạng. Diêm La bèn sai kẻ tùy tùng vẽ hình dạng vị thiền tăng này trở thành “Tay cầm trân bảo, đỉnh lộ không che, đóa hoa tròn báu, truyền hình tượng này chớ có sai”, rồi yêu cầu Đạo Minh nhớ kỹ hình tượng Ngài, sau khi trở về cõi dương mà truyền bá cho người đời chớ có sai lầm. Thấy ở bên ngài Địa Tạng có một vị Tăng cỡi trên lưng con sư tử,  Đạo Minh hỏi ai vậy, nguyên do gì ở đây? Ngài Địa Tạng trả lời: “Đó là Bồ-tát Đại thánh Văn Thù hóa hiện ra thân, Ngài với ta cùng xuống cõi u minh để cứu các khổ nạn”. Sau khi Đạo Minh hoàn hồn trở về cõi dương, bèn vẽ khắc chân dung ngài Địa Tạng ở cõi ngục và lưu hành trên đời.

Còn ba thuyết thông tục Hoàn hồn ký:

1,Đường Thái tông hoàn hồn ký(唐太宗还魂记), tuy chánh văn của bản này bị rã nát nhiều, nhưng vẫn ghi rõ nội dung. Nói về Đường Thái tông sau khi xuống địa ngục, thấy cửa ngục thứ 6 có hai phán quan khóc và cao sừng sững, phán quan cao nói, hai anh em: Lý Kiến Thành, Lý Nguyên Cát của bệ hạ là “Hai thái tử nhiều lần gửi đơn kiện cáo để nhờ giết bệ hạ”, cho nên họ truy đến địa ngục, bị thẩm phán trước điện: “Hỏi vào niên hiệu Võ Đức thứ 7, thiên tử hoàng đế Thái tông thời Đường có giết anh em trước vương điện, giam cha lành sau hậu cung không?”, Oan gia gặp nhau dưới âm phủ nên thần cũng chẳng có cách gì để cứu. Đường Thái tông nghe xong, trở về dương gian, lần lượt tìm mọi cách giao dịch với phán quan cao, phong phán quan này làm thứ sử ở bốn châu, ban áo mũ quan màu đen bằng vàng, vàng bạc.

2, Lý Khánh hoàn hồn ký (李庆还魂记), nói đến nhân vật Lý Khánh người Đường Châu, thích săn bắt chuột và giết rất nhiều chuột. Khi gặp khách đến thì chặt nhiều đầu heo, chim, dê để đãi khách. Sau đó Lý Khánh chết đi, ba ngày sau được sống lại, rồi nói: “Ban đầu tôi xuống địa ngục, thấy vua Bình Đẳng (平等王). Vua hỏi: người giết hại rất nhiều mạng sống, có công đức không? Đáp:   Đọc hiểu kinh Kim Cang. Vua bèn tay cầm quyển kinh, nói oan gia cũng được sinh cõi trời. Vua sai thuộc hạ thả Lý Khánh ra và trở về cõi dương. Lý Khánh sống trở lại đến 80 tuổi mới chết.   

3, Hoàng Sĩ Cường hoàn hồn ký  (黃仕强还魂记. Bản viết này có lưu trữ trong Viện bảo tàng tại đại học Ōtani Nhật Bản) ghi việc Hoàng Sĩ Cường chết vào niên hiệu Vĩnh Huy thứ 3 (652) thời Đường Cao tông. Lúc sống ông không giết heo, nhưng sau khi bị sứ giả dắt xuống địa ngục vua Diêm La phán xử ông đầu thai làm heo, ông không phục tùng và kháng cự lại, Diêm La nói vậy tốt rồi và bảo đến cửa ngục khác để tra khảo tiếp, trải qua tranh luận nhằm biểu hiện mình bị oan, sau đó ông được trở về sống cõi dương.

Ngoài ra, trong “Biến văn Mục Liên cứu mẹ” văn hiến Đôn Hoàng, nói đến lòng hiếu thảo của tôn giả Mục-kiền-liên cứu mẹ Thanh Đề. Biến văn mô tả cảnh tượng ngài Mục Liên xuống nhiều tầng ngục để tìm mẹ, bước qua điện vua Diêm La, qua Ngũ đạo tướng quân (năm vị phán quan quản lý số mệnh sống chết con người), bước qua cầu Nại hà gặp lính đầu trâu tay cầm cây gậy ở mé bờ Hà nam và lính giử ngục tay nắm cây nĩa ở mé Thủy bắc, có muôn vạn người ngẫn đầu nhìn lên phía trước; Mục Liên trải qua ngục núi đao rừng kiếm (đao sơn kiếm thọ), ngục dường sắt trụ đồng (đồng trụ thiết sàng), sau đó mới gặp mẹ rồi tìm mọi cách cứu mẹ thoát địa ngục sinh cõi trời. Kinh Pháp Hoa có nói ngài mục liên được Đức Phật Thích-cathọ ký cho trong vô lượng kiếp thời vị lai sẽ thành Phật hiệu là Đa-ma-la-bạt Chiên Đàn Hương Như Lai

Bốn thuyết trên đều xuất hiện vào thời Đường, cũng không ngoài nêu cao luận thuyết sinh tử học và có quan hệ nhân quả báo ứng, nhằm khuyến hóa mọi người “Làm lành lánh dữ”, “gieo gió gặp bão” nên từ lâu đã ăn sâu trong tâm khảm của giới bình dân lão bách tánh. Thời kì này cũng là “thời đại hoàng kim” rất phát triển Phật giáo Đại thừa Trung Hoa; các luận thuyết học phái, tín ngưỡng nhân gian của Nho-Thích-Đạo cũng rất nỡ rộ vào thời này, trở thành nhân gian hóa Phật giáo; tiến trình sáng tông lập phái-10 tông phái lớn Phật giáo Trung Quốc cũng xuất hiện vào thời này. Các tông phái này đều chủ trương tất cả chúng sinh đều có Phật tính, có tư tưởng thành Phật. Đặc biệt cống hiến của Huyền Trang trong việc sáng lập Pháp Tướng tông mở ra phát triển duy thức và lý luận nhân minh ở Trung Quốc, sau đó có các học trò của Huyền Trang đã không ngừng truyền bá hệ tư tưởng này đến các nước Đại Thừa, Như Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên, Hàn Quốc. Nếu Đại sư Long Thọ ở Ấn Độ được tôn xưng là hóa hiện của Đức Phật Thích-ca chuyển đẩy bánh xe chánh pháp lần thứ hai đã sáng lập phương pháp Trung đạo quán, thì sau đó ở Trung Quốc có Pháp tướng duy thức học của Huyền Trang hoạch đắc phát triển tính sáng tạo. Trình độ học vấn dịch thuật và trước tác của Huyền Trang được giới học thuật hiện nay phán định là mang tính chính xác và tính sáng tạo mới. Huyền Trang còn đem văn hóa tri thức triết học Trung Quốc giới thiệu đến Ấn Độ; nhận lời yêu cầu của vua Ấn Độ Đồng Tử (童子王), Huyền Trang dịch cuốn Đạo Đức Chân Kinh (còn gọi Lão Tử) ra tiếng Phạn. Huyền Trang dịch thuật lúc tuổi già và viên tịch ở Ngọc hoa cung (玉华宮). Giới học thuật tổng kết cuộc đời Huyền Trang “Phiên dịch 1335 quyển kinh, trong đó ở Ngọc hoa cung dịch 680 quyển, chiếm ½ tổng số sự nghiệp dịch thuật của Huyền Trang, chiếm gần một nữa quan trọng trên trang sử Phật giáo Trung Quốc”.[1] Huyền Trang viết bộ Tây Vực ký giới thiệu văn hóa tôn giáo, truyền thống tập tục, địa lý lịch sử của 32 nước mà mình đã đi qua và nghe kể lại. Cốt truyện Tây du ký của Ngô Thừa Ân (1501-1582) thời Minh lấy nhân vật Huyền Trang làm trung tâm trong tiến trình thỉnh kinh Phật; vậy giữa Tây Vực ký Tây du ký có liên quan không? Theo khảo chứng, hiệu chú của giới nghiên cứu hiện đại, Ngô Thừa Ân chưa từng đọc qua bản của Huyền Trang, cũng không có ảnh hưởng gián tiếp, mà tất cả đều phát sinh ảnh hưởng gián tiếp. Học giả Phật giáo học ở Đài Loan dùng phương pháp hiện đại tỉ giảo nghiên cứu con đường Huyền Trang du học Ấn Độ và tương quan đến việc Đồng tử Thiện Tài trong kinh Hoa Nghiêm tham học, nêu ra “Những nơi tham học của Đồng tử Thiện Tài, không những thuyết minh Phật giáo, cho đến sự thật triển khai sơ kì Đại thừa ở phương nam Ấn Độ: cũng thuyết minh một vài nơi ở Ấn Độ xưa nay đều quan trọng; cũng là chỗ phát nguồn về phát triển văn hóa Ấn Độ hướng đến Đông Nam Á. Và con đường du học của Đại sư Huyền Trang, cũng là các thời đại thực dân thời kì đầu Ấn Độ, cũng là con đường chiêm bái hành hương của bộ phái Phật giáo, cho đến phát triển Đại thừa. Cũng là văn hóa Ấn Độ trải qua con đường từ Tây bắc truyền nhập phương Đông. Tham học của Đồng tử Thiện Tài, ảnh hưởng đến việc thành lập tông Hoa nghiêm Trung Quốc; du học của Đại sư Huyền Trang hình thành tông Pháp tướng Trung Quốc. Hoa Nghiêm học siêu việt trên, tổng hợp trên trong sử Phật học, đều rất cao vời trên sử triết học thế giới; còn phân tích theo Duy thức học, và ít nữa trên các tông phái khác, cũng tương đối có hệ thống”.[2] Trong Ngọc hoa cung còn có Ngọc hoa điện, Hoằng pháp đài, Khánh phước điện, Minh nguyệt điện, Bát quái đình, đều lưu trữ chứng tích Huyền Trang từng ở đây nhiều năm để hoằng Phật.

Dựa vào chi tiết Hoàn hồn ký mà nhà soạn kịch Thang Hiển Tổ cải biên thành những vỡ kịch để đời và lưu hành nhân gian. Khía cạnh điêu khắc tạc tượng trong nước thời nay, khắc vẽ nhiều mẫu hình tượng ngài Mục Liên giống na ná ngài Địa Tạng. Ngài Địa Tạng đội mũ tì-lư, chống tích trượng, tay cầm hạt minh châu, đắp y điều, cỡi trên lưng con đề thính; ngài Mục Liên cũng như vậy nhưng không đội mũ Tì-lư, cỡi trên lưng voi trắng hoặc sư tử, kỳ lân, thậm chí còn cỡi trên con rồng. Có thuyết nói ngài Địa Tạng xuống địa ngục cứu mẹ, nên rất nhiều người nhầm lẫn giữa hai ngài này, nhưng theo tín ngưỡng dân gian thì ngài Mục Liên trợ giúp cho ngài Địa Tạng. Cũng là hình tượng biểu trưng cho việc ‘rủ lòng’ (thùy tâm) từ bi mà cứu vớt chúng sinh từ khổ đau được an lạc hay từ bờ mê sang bến giác.            

Trích từ: Chú giải nghi Huế (bản thảo)          



[1] Hoàng Tâm Xuyên, Luận Huyền Trang tinh thần (論玄奘精神), tập trong Nghiên cứu Huyền Trang

[2]Lý Chí Phu, Nghiên cứu Huyền Trang

www.daophatngaynay.com
Từ khóa:
Ý kiến phản hồi


 Refresh

Các tin khác

Từ khóa tìm kiếm