Tử vi

Chương 20: Cung Mệnh: Thất Sát

Trong Đẩu Số, dùng cung Mệnh để luận đoán mệnh cách của người đó là cao hay thấp, nó chủ về thực chất của vận thế. Nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục cao, thì khó gặp đại hạn và lưu niên quá xấu. Trái lại, nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục thấp, thì sẽ khó gặp đại hạn và lưu niên quá tốt, bất quá chỉ thuận lợi nhất thời mà thôi. Do đó có thể thấy sự quan trọng của cung Mệnh.

Cung Mệnh đối nhau với cung Thiên Di ở tứ chính, và tương hội với cung Quan với cung Tài ở tam phương hội cung. Cũng chính là nói, chúng có thể ảnh hưởng đến thực chất của vận trình, những tao ngộ như xuất ngoại, và mối quan hệ với người ở nơi xa hay người ngoại quốc, và các yếu tố như sự nghiệp phát triển có thuận lợi toại ý hay không (quan), tài phú có được như ý hay không,.v.v…

Bạn đang xem: Chương 20: Cung Mệnh: Thất Sát

Do đó cung Mệnh trong tinh bàn Đẩu Số là then chốt chủ yếu để luận đoán. Xem xét tổ hợp các sao của cung Mệnh, hầu như đã có thể định được đại khái vận thế của một đời người.

Còn cung Thân, theo thuyết thông thường, là dùng để luận đoán sự phát triển Hậu Thiên của người đó. Nếu cung Mệnh cát mà cung Thân cũng cát, đương nhiên cuộc đời nhiều thuận lợi toại ý. Nếu cung Mệnh cát nhưng cung Thân không cát, thì giống như khối ngọc đẹp, nhưng lúc điêu khắc đã xảy ra sai sót, do đó làm giảm đẹp. Nếu cung Mệnh không cát mà cung Thân cũng không cát, thì cũng giống như gỗ xấu không được điêu khắc, đời người đương nhiên giảm sắc, chỉ có thể khéo vận dụng đại hạn và lưu niên (nhân mệnh), lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu.

Thất Sát độc thủ tại Tý – Ngọ

Thất Sát tại Tý, Ngọ nhị cung độc tọa, đối cung phải là Vũ Khúc Thiên Phủ. Tý cung có Thất Sát, cát nhập có kiến giải “Vũ Phá Tham hội vu Tý cung, đầu hà nịch thủy”, mặc dù kiến giải này còn chờ nghiệm chứng, nhưng căn cứ theo kinh nghiệm của bút giả, Tý cung Thất Sát hội Vũ Khúc, Phá Quân, Tham Lang, có năng lực chống lại Sát diệu đích xác biến thành yếu, cho nên giống như kiến giải Tý cung độc tọa với Thất Sát không bằng như tại Ngọ cung độc tọa. Duy tại Tý, Ngọ cung có Thất Sát, vẫn là mĩ cách, chủ được người đề bạt, cùng được bằng hữu hiệp trợ. Nếu có Tả Phụ Hữu Bật, Văn Xương Văn Khúc hội chiếu, được thêm đối cung có Vũ Khúc Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền tương chiếu, thích nghi nhậm võ chức, hoặc chủ quản về tài chính kinh tế, cát nhập gọi là văn võ toàn tài. Nhưng nếu tứ Sát tịnh chiếu, kiến thêm Thiên Hình, Âm Sát, Thiên Khốc, Thiên Hư hội chiếu, thì chủ chết trận. Nếu không hội Cát diệu, cũng chủ là người có mưu lược, thích nghi dấn thân theo sự nghiệp thật nghiệp, dù suốt cả cuộc đời không tránh khỏi một lần phong ba, nhưng cũng tất có thể trọng trương kì cổ. Nếu tại Tý, Ngọ cung kiến Kình Dương, Thiên Hình, thì có thể làm việc ngoại khoa, sản khoa hoặc nha khoa y sư. Kiến Vũ Khúc Hóa Lộc Hóa Quyền, tất thành danh y.

Thất Sát và Liêm Trinh đồng cung tại Sửu – Mùi

Liêm Trinh Thất Sát tại Sửu, Mùi nhị cung đồng độ, hội hợp Vũ Khúc Phá Quân, Tử Vi Tham Lang, Thiên di cung Thiên Phủ, tuy tinh diệu cường liệt, nhưng chịu đối cung Thiên Phủ ảnh hưởng, lại chủ là người tuy dũng về khai sáng, nhưng mà lại vẫn tiểu tâm chú ý cẩn thận, đặc biệt là thiện trường lí tài, không đến nỗi do vì nhất thời ý khí phong phát hăng hái mà ngộ sự (làm lỡ việc), chìm sâu vào hưởng lạc thì vẫn không tránh khỏi (duy tham nịch vu hưởng lạc tắc nhưng bất miễn). Liêm Trinh chịu ảnh hưởng của Thất Sát, đa cải biến chi tâm, cho nên không thích hợp tại một cơ cấu nhậm chức quá lâu dài, không thì tâm tình khổ muộn. Cũng bất năng khắc hưởng tổ nghiệp, hoặc thủ phụ nghiệp, thậm chí bất hỉ kế thừa phụ thân sở tòng sự về hành nghiệp. Do vì duyên cớ có đa biến, cho nên nhân sinh cũng khó tránh phải kinh lịch gian tân. Liêm Trinh Thất Sát với tính chất hỉ biến động, giúp đời người thích nghi về tòng sự hành chính chức vị; do vì Liêm Trinh với tính chất đào hoa chịu Thất Sát ảnh hưởng, cũng giúp cho đời người đối với văn nghệ có ái hảo, đặc biệt hoan hỷ thi từ âm nhạc, cho nên nếu kiến Xương Khúc gia hội, thì cũng có thể tòng sự văn nghệ công tác. Nhưng như Sát Kị tịnh tập, thì nan miễn đa bất lương thị hảo (đam mê xấu), sắc thái văn nghệ hóa phong hoa tuyết nguyệt, dể trầm mê tửu sắc. Bất quá vô luận như thế nào đều vẫn có tiết chế, không đến nỗi vì tửu sắc khuynh phá. Do vì kết cấu tinh hệ phú cải biến tính, tuy thiện lí tài, cũng chỉ thích nghi cùng với người khác hợp tác sáng nghiệp kinh thương, mà lại không thích nghi nắm địa vị lĩnh đạo, không thì sự nghiệp phát triển bất thuận. Có nhất nhị Sát diệu hội hợp, thích nghi tòng sự lí công hoặc công nghệ. Mùi cung an Mệnh, hữu Xương Khúc, kiến Lộc, vô Sát Kị chư diệu, là “Hùng tú càn nguyên cách”, chủ kinh lịch gian tân mà đắc phú quý. Nếu người Sát khinh, cũng có thể tích trữ cần kiệm trí phú. Liêm Trinh Thất Sát tọa Mệnh cung chủ hô hấp khí quản suy nhược, nếu Hồng Loan Thiên Hỉ đồng cung và đối chiếu, thì dể hoạn hao suyễn. Nếu hóa Kị tinh mà lại kiến Đà La đồng độ, đa nùng huyết chi tai; Hóa Kị canh kiến tứ Sát tịnh chiếu, mà vô Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn cùng Xương Khúc giải cứu, trọn đời thân thể suy nhược, hoặc cánh trí yểu chiết. Tứ Sát tịnh chiếu mà lại phùng Hình Kị các sao, huyết tật, như bạch huyết cầu quá nhiều, tiên thiên bần huyết chi loại (thiếu máu bẩm sinh). Liêm Trinh Hóa Kị mà lại kiến tứ Sát tịnh chiếu, cổ nhân có nói là “Lộ thượng mai thi”, vào Bính can đại hạn như Bính Tý, Bính Dần các loại hoặc Bính niên cần đặc biệt tiểu tâm chú ý, bất nghi viễn hành.

Nữ mệnh Liêm Trinh Thất Sát, tất mạo mĩ, không dể chịu dị tính dẫn dụ mê hoặc, Phu thê cung tất là Thiên Tướng, bất kiến Sát Kị, hôn nhân hạnh phúc, mà lại thích nghi phu xướng phụ tùy, cộng đồng hợp tác tất triển nghiệp, nhưng dể dàng vì vô mãn ý về đối tượng mà trì hôn. Đặc biệt tuổi của trượng phu lớn hơn tám tuổi trở lên là thích hợp.

Đại hạn lưu niên Liêm Trinh Thất Sát chủ có biến động, hội Cát diệu thì thăng thiên khoách triển, hoặc gia tân, chủ có tích súc, hội Sát diệu thì bất nghi biến động. Nếu Hình Kị tịnh lâm, đặc biệt là người với Vũ Khúc Hóa Kị hội Liêm Trinh Hóa Kị các sao, bất kiến Lộc Tồn Hóa Lộc, cần phải đề phòng huyết quang chi tai, bất nghi viễn hành, thiết giới tranh tụng.

Thất Sát độc thủ tại Dần – Thân

Thất Sát tại Dần, Thân nhị cung độc tọa, đối cung phải là Tử Vi Thiên Phủ. Đương khi Thất Sát cư Dần cung thì, gọi là “Thất Sát ngưỡng đẩu”; Nếu cư Thân cung, thì là “Thất Sát triều đẩu”. Nếu so sánh hai cái này, với Thân cung tốt đẹp hơn Dần cung. Phàm “Triều đẩu” “Ngưỡng đẩu”, đều là mĩ cách, chủ là người có năng lực quản lí rất mạnh, có thể một mình đảm đương công việc (khả dĩ độc đương nhất diện). Cho nên vô luận phát triển tại hành nghiệp nào, đều là chủ quản nhân viên. Nhất là tại Mệnh cung hoặc Thiên di cung kiến Lộc Tồn đồng độ, càng chủ mọi việc đều sinh ra tài bạch không sợ thiếu hụt. Duy nếu kiến Sát diệu đồng độ hoặc hội hợp, thì chủ đời người thất bại nhưng có cơ hội khôi phục (đích lộ kính hữu khi khu khởi phục). Ngược lại chính người có Thất Sát tọa Mệnh thì trong suốt cuộc đời tất có một lần thất bại trọng đại, nhẹ cũng chủ sự nghiệp phát triển đình đốn, tính tình khổ muộn, chỉ cần làm việc cật lực đến nơi đến chốn (cước đạp thật địa), thì cuối cùng có thể vượt qua khó khăn, cho nên tức là làm cho đụng đến niên vận không tốt đẹp, cũng không nhất thiết phải nãn lòng thối chí.

Thất Sát “Triều đẩu” “Ngưỡng đẩu”, giống như nhau đều thích nghi ra nhậm chức vụ trong chính phủ, hoặc đại cơ cấu trong đại xí nghiệp nhân sự quản lí, hành chính quản lí nhân viên, cũng có thể làm quản lí công xưởng, nhưng như hội chiếu Văn Xương Văn Khúc, hoặc kiến từ đối cung có Tử Vi Hóa Khoa, thì có thể dấn thân theo sự nghiệp về phương diện quản lí diện có học thuật nghiên cứu; như kiến Thiên Phủ Hóa Khoa, thì có thể nghiên cứu kinh tế hoặc công thương quản lí. Chỉ kiến Văn diệu, thì là người làm gương sáng sư biểu. Nếu Sát diệu nặng, lại kiến Hóa Kị cùng Thiên Hình, Thiên Mã, Lộc Tồn, có thêm Tả Phụ Hữu Bật, Tam Thai Bát Tọa ủng hộ, thì có thể có chổ đứng trong giới quân sự, nếu không tức phải là lĩnh tụ. Thất Sát mừng nhất là kiến Lộc, nguyên nhân là Lộc diệu có thể hóa giải tính cương liệt của Thất Sát. Nếu không kiến Lộc mà tứ Sát tịnh chiếu, kiến thêm Không Kiếp, Hình Hao, thì suốt cuộc đời bị hình khắc rất nặng, càng chủ là người cứng đầu ngoan cố, phàm khi xử sự đều đưa ra thủ đoạn mạnh mẽ, tuy phú quý nhưng có phá bại; mà chủ tự cao tự đại, tự cho mình là tài giỏi, bởi vậy đời người khó tránh khỏi cô đơn tịch liêu. Đây là tính chất có thể dựa vào cuộc đời về sau để bổ cứu.

Thất Sát và Vũ Khúc đồng cung tại Mão – Dậu

Vũ Khúc Thất Sát tại Mão, Dậu nhị cung đồng độ, tinh diệu kết cấu phi thường cường liệt tất cần phải đắc Tả Phụ Hữu Bật củng chiếu, canh đắc hội Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, đời người với tế ngộ sau đó mới đắc thuận toại, không thì dể dàng cô lập vô viện mà phá tài. Bổn tinh hệ kết cấu với đặc tính, đúng là mẫn duệ mà tính cấp; có mưu lược nhưng vô viễn kiến; thông minh tài giỏi nhưng dể cản tẫn sát tuyệt (cạn tàu ráo máng), cũng tất đắc Tả Hữu Xương Khúc để điều hòa, nhiên hậu mới biến thành thông minh tinh luyện mà bất lưu vào đoản lự bạc tình. Nếu canh phùng Hóa Lộc, Hóa Khoa, Thiên Mã hội chiếu, thì phúc trạch dư hậu. Tại Mão cung an Mệnh, Hóa Kị hoặc ngộ Sát, cổ nhân nói là có mộc áp lôi kinh chi tai, tại xã hội hiện đại, thì là tao ngộ thổ mộc áp thương và xúc điện (cây đè điện giật). Tại Dậu cung an Mệnh, Hóa Kị hoặc ngộ Sát, chủ ngoại ý bất trắc, dể sinh nham chứng, hoặc não bộ tật hoạn. Mão Dậu nhị cung an Mệnh, Hỏa Linh đồng độ, thì là tài lợi chi sự mà sinh ý ngoại, tái kiến Vũ Khúc Hóa Kị cùng Kiếp Sát, Âm Sát hoặc Đại Hao đồng độ, thì có đạo kiếp chi tai; Kình Dương đồng độ, chủ do vì tài lợi mà động vũ. Nếu sở hội với Liêm Trinh Hóa Kị, thì ứng với đề phòng huyết quang chi tai, hoặc sinh bệnh động thủ thuật. Do vì tinh diệu cường liệt, cho nên chủ là người tác sự có phách lực có nghị lực, nhưng cũng chủ thanh thiếu niên bất lợi, tất cần phải kinh qua phấn đấu nhiên hậu hữu thành, vưu kì bất khả đầu cơ, ứng với tòng sự công chức, hoặc kinh doanh thật nghiệp, cũng có thể tại tài kinh giới công tác. Mão Dậu cung an Mệnh, Tài bạch cung Liêm Trinh Tham Lang có Lộc Tồn đồng độ hoặc tại đối cung trùng chiếu, cũng có Thiên Mã cùng Cát diệu hội hợp, là hình tượng anh hùng mạt lộ ngộ quý nhân (hình 9), chủ vào trong khốn cảnh đột nhiên phát tích biến thái. Nhưng Mệnh cung hội hợp Hỏa, Linh, Dương, Đà, Không, Kiếp, Hình diệu, thích nghi tòng sự quân cảnh hoặc bảo an công tác. Sát quá nhiều, thì làm đồ tể. Nếu có Văn tinh, hoặc kiến Lộc Quyền Khoa hội, thì thích nghi tác ngoại khoa y sinh; hội Liêm Trinh Hóa Kị, thì là thích nghi với phụ sản khoa. Nếu hội Sát Hình đẳng diệu, kiến Lộc Mã, ngược lại thích nghi kinh thương.

Nữ mệnh Vũ Khúc Thất Sát, thích hợp lập gia đình với người chồng nhiều 8 tuổi trở lên.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung Vũ Khúc Thất Sát, chủ có biến động ở mức độ trọng đại, cát hung cần phải xem xét tường tận tinh diệu sở hội hợp mà xác định. Nếu hóa Kị tinh, thì có nguy hiểm đình chức (cách chức), đảo bế (phá sản). Kiến Sát các sao càng thêm thặng đặng trắc trở, mà lại kiện khang bất giai.

Thất Sát độc thủ tại Thìn – Tuất

Thất Sát tại Thìn, Tuất nhị cung độc tọa, nhập vào Thiên La Địa Võng, đối cung phải là Thiên Phủ Liêm Trinh, tinh diệu nhu hòa, không có khả năng bang trợ Thất Sát thoát ra khỏi la võng, Thất Sát phải bắt buộc tự mình vùng vẫy thoát ra. Bởi vậy chủng loại kết cấu tinh hệ này, dể khiến cho người tất cần nhiều lần trải qua gian lao tân khổ, cuối cùng cả đời người lấy sự phấn đấu làm mục tiêu; bởi thế lại bị phong ba kéo xuống. Nhưng dù sáng lập sự nghiệp trong gian khổ, là người cũng chưa đủ đạt được thành tựu, không ngừng truy cầu đeo đuổi lí tưởng, mà lí tưởng lại càng lúc càng cao, đưa ra kế hoạch mới ngày càng nhiều, cho nên cuối cùng cả đời không được an nhàn với cuộc sống hằng ngày, nhưng là người vẫn xem điều này là niềm vui.

Tại Thìn, Tuất nhị cung, Thất Sát không sợ lắm khi gặp Sát diệu, duy chỉ sợ đối cung với Liêm Trinh Hóa Kị, lại hội thêm Sát diệu trùng trùng điệp điệp, Tinh bàn Mệnh cung gặp phải dạng kết cấu này, cần phải xem xét kiểm tra các cung vị mà nó đóng, tìm xem một cung nào đó sẽ chính là vết thương trí mệnh gây ra mọi chuyện chẳng lành. Như Tài bạch cung không cát, thì suốt cả cuộc đời về phương diện tiền tài sẽ có nhiều khốn nhiễu phân tranh; như Sự nghiệp cung không cát, thì suốt cuộc đời nhiều lần bị ngừng kinh doanh hoặc phá sản; như Tật ách cung không cát, thì trọn đời sức khỏe không được tốt đẹp, nhiều lần khai đao thủ thuật, hoặc nhiều lo sợ vu vơ; như Phu thê cung không tốt đẹp, thì cả đời về chuyện tình cảm có nhiều ba chiết thăng trầm trắc trở, hoặc chuyện phối ngẫu gặp nhiều bất hạnh; như Tử nữ cung không tốt đẹp, thì tử nữ hoặc có tai bệnh, yểu chiết, hoặc rước lấy quan phi.

Nếu Tài bạch cung có Tham Lang Hóa Kị hội Sát diệu, thì cả đời cảm thấy tiền tài bị nhiều thiếu hụt không đủ chi tiêu, mà thu nhập lại vĩnh viễn không được như mong muốn, nhưng cũng là do bởi mong muốn quá cao, sự nghiệp phát triển có phần quá mức, cũng không chủ bần cùng nghèo túng. Tham Lang Hóa Kị, tất đồng thời kiến Phá Quân Hóa Lộc tại Sự nghiệp cung, cũng chủ một thân trọn đời chỉ dấn thân theo sự khai sáng, không chịu gìn giữ bảo vệ thành quả. Nếu Tham Lang Hóa Lộc tại Tài bạch cung, không hội Sát diệu, thì một thân trọn đời có tài tìm kiếm cung cấp cho việc tiêu dùng, nhưng không thật sự súc tích; nếu hội Sát diệu, thì chủ gần với cách thức xa hoa hưởng lạc, yến tiệc linh đình, kết giao bằng hữu mà không biết tiết chế.

Thất Sát tọa Thìn, Tuất nhị cung, đều chủ là người có sở trường đặc biệt, mà lại có kiến giải nhận xét siêu trác cao minh. Mừng được Văn Xương Văn Khúc, Tả Phụ Hữu Bật; Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu hoặc đồng độ, thì thích nghi võ chức làm văn, hoặc văn chức làm võ. Hoặc chủ là người có tính cách yêu thích văn nghệ.

Thất Sát và Tử Vi đồng cung tại Tị – Hợi

Tử Vi Thất Sát tại Tị, Hợi lưỡng cung đồng độ. Tử Vi là Đế diệu, Thất Sát là Tướng tinh, nhị diệu đồng cung, biểu hiện ra uy thế không gì sánh bằng. Chủ là người phú khai sáng lực, mà lại tư tưởng độc đáo đặc biệt. Thông thường mà nói, Tử Vi Thất Sát có thể đúng là biểu trưng của quyền lực, cho nên Tử Vi bất nghi tái Hóa Quyền, ngược lại chủ là người ham muốn quyền lực quá cao, biểu hiện ra một loại phách khí làm cho người khác khó chấp nhận. Tối nghi đắc Cát diệu hội chiếu. Như Tả Phụ, Hữu Bật; Văn Xương, Văn Khúc; Lộc Tồn, Thiên Mã đồng hội, thì giúp cho Thất Sát có cơ hội sử dụng sự cương dũng anh hùng (đích cương dũng hữu anh hùng dụng vũ chi địa), điều gọi là “Hóa Sát vi quyền”, tức đúng là cách cục loại này. Nhưng giả như vô Cát diệu hội chiếu, thì giống như anh hùng lạc thảo vi khấu, liền dể khó tránh biểu hiện đắc cường man phách đạo (bạo ngược tàn ác), chủ là người hoành phát hoành phá. Nhưng vô Cát diệu, ngược lại kiến Sát diệu hội hợp, thì hình thương khắc hại bất miễn.

Nữ mệnh Tử Vi Thất Sát, tại phương diện sinh hoạt hôn nhân vô đại ngại, nhưng giả như chư Sát chiếu hội, thì chủ cô độc.

Đại vận hoặc lưu niên ngộ Tử Vi Thất Sát, nếu ngộ Sát diệu, thì dù có cơ hội biến hóa, nhưng lại khó được như ý nguyện; nhưng nếu Cát diệu hàm tập, thì chủ kinh qua biến hóa mà đắc tiến ích.

Thất Sát Tử Vi tại Tị, Hợi nhị cung đồng độ, xin tham khảo phần “Tử Vi Thất Sát” ở tiết thứ nhất. Phàm khi Thất Sát lâm Mệnh, nếu hội Sát diệu, cuộc đời tất có khuyết hãm. Hoặc không thể phú quý, hoặc phú quý mà phối ngẫu hình khắc phân li, hoặc hôn nhân không khuyết hãm nhưng không có tử nữ, hoặc có con gái mà không có con trai, hoặc có con trai mà bản thân mang nhiều tật bệnh. Nếu lục thân vô khuyết, thân thể kiện khang, thì lại không thể phú quý. Cần phải xem xét kiểm tra toàn diện thập nhị cung để xác định sự khuyết hám. Tại “Thìn Tuất cung độc tọa” ở tiết thứ nhất, đã sơ lược đưa ra.

Nữ mệnh Thất Sát nhập miếu, hội cát diệu tường diệu, như Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn, Tả Phụ Hữu Bật, Thiên Khôi Thiên Việt, Ân Quang, Thiên Vu, Thiên Thọ các sao, chủ phú quý trường thọ, nhưng chí khí vượt qua cả bậc trượng phu. Nếu cư hãm địa, kiến Hóa Kị, hội hung tinh ác diệu, như Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Thiên Hư, Âm Sát, Thiên Nguyệt, thì nữa đời cô độc, hoặc mà lại tai bệnh triền miên mang vào thân, thích nghi là kế thất, nơi ở cũ cũng có thể giảm nhẹ sự hình khắc đối với trượng phu cùng tử nữ.

Đại hạn lưu niên có Thất Sát nhập Mệnh cung, như nhập miếu hội cát tinh tường diệu, chủ sự nghiệp có cơ hội chuyển biến lương hảo tốt đẹp, chịu luồn cúi người khác thì chủ thăng tiến hoặc chuyển hoán về công việc càng thêm đẹp. Nếu lạc hãm, hội Sát tinh hung diệu, thì có hình khắc phá bại, cần phải xem xét cẩn thận thập nhị cung mà thôi đoạn luận đoán sự việc nào xảy ra. Nhưng hội hung diệu mà kiến cát Hóa, bất kể Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, đều chủ trước nguy sau an. Nếu lạc vào hãm địa, tứ Sát tịnh chiếu, lại kiến Không Kiếp, Thiên Hình, thì tính mệnh lâm nguy.

(Dẫn theo trang huyenhocvadoisong.com)

Đăng bởi: Phật Giáo Việt Nam

Chuyên mục: Học tử vi

Xem thêm Chương 20: Cung Mệnh: Thất Sát

Trong Đẩu Số, dùng cung Mệnh để luận đoán mệnh cách của người đó là cao hay thấp, nó chủ về thực chất của vận thế. Nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục cao, thì khó gặp đại hạn và lưu niên quá xấu. Trái lại, nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục thấp, thì sẽ khó gặp đại hạn và lưu niên quá tốt, bất quá chỉ thuận lợi nhất thời mà thôi. Do đó có thể thấy sự quan trọng của cung Mệnh.

Cung Mệnh đối nhau với cung Thiên Di ở tứ chính, và tương hội với cung Quan với cung Tài ở tam phương hội cung. Cũng chính là nói, chúng có thể ảnh hưởng đến thực chất của vận trình, những tao ngộ như xuất ngoại, và mối quan hệ với người ở nơi xa hay người ngoại quốc, và các yếu tố như sự nghiệp phát triển có thuận lợi toại ý hay không (quan), tài phú có được như ý hay không,.v.v…

Do đó cung Mệnh trong tinh bàn Đẩu Số là then chốt chủ yếu để luận đoán. Xem xét tổ hợp các sao của cung Mệnh, hầu như đã có thể định được đại khái vận thế của một đời người.

Còn cung Thân, theo thuyết thông thường, là dùng để luận đoán sự phát triển Hậu Thiên của người đó. Nếu cung Mệnh cát mà cung Thân cũng cát, đương nhiên cuộc đời nhiều thuận lợi toại ý. Nếu cung Mệnh cát nhưng cung Thân không cát, thì giống như khối ngọc đẹp, nhưng lúc điêu khắc đã xảy ra sai sót, do đó làm giảm đẹp. Nếu cung Mệnh không cát mà cung Thân cũng không cát, thì cũng giống như gỗ xấu không được điêu khắc, đời người đương nhiên giảm sắc, chỉ có thể khéo vận dụng đại hạn và lưu niên (nhân mệnh), lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu.

Thất Sát độc thủ tại Tý – Ngọ

Thất Sát tại Tý, Ngọ nhị cung độc tọa, đối cung phải là Vũ Khúc Thiên Phủ. Tý cung có Thất Sát, cát nhập có kiến giải “Vũ Phá Tham hội vu Tý cung, đầu hà nịch thủy”, mặc dù kiến giải này còn chờ nghiệm chứng, nhưng căn cứ theo kinh nghiệm của bút giả, Tý cung Thất Sát hội Vũ Khúc, Phá Quân, Tham Lang, có năng lực chống lại Sát diệu đích xác biến thành yếu, cho nên giống như kiến giải Tý cung độc tọa với Thất Sát không bằng như tại Ngọ cung độc tọa. Duy tại Tý, Ngọ cung có Thất Sát, vẫn là mĩ cách, chủ được người đề bạt, cùng được bằng hữu hiệp trợ. Nếu có Tả Phụ Hữu Bật, Văn Xương Văn Khúc hội chiếu, được thêm đối cung có Vũ Khúc Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền tương chiếu, thích nghi nhậm võ chức, hoặc chủ quản về tài chính kinh tế, cát nhập gọi là văn võ toàn tài. Nhưng nếu tứ Sát tịnh chiếu, kiến thêm Thiên Hình, Âm Sát, Thiên Khốc, Thiên Hư hội chiếu, thì chủ chết trận. Nếu không hội Cát diệu, cũng chủ là người có mưu lược, thích nghi dấn thân theo sự nghiệp thật nghiệp, dù suốt cả cuộc đời không tránh khỏi một lần phong ba, nhưng cũng tất có thể trọng trương kì cổ. Nếu tại Tý, Ngọ cung kiến Kình Dương, Thiên Hình, thì có thể làm việc ngoại khoa, sản khoa hoặc nha khoa y sư. Kiến Vũ Khúc Hóa Lộc Hóa Quyền, tất thành danh y.

Thất Sát và Liêm Trinh đồng cung tại Sửu – Mùi

Liêm Trinh Thất Sát tại Sửu, Mùi nhị cung đồng độ, hội hợp Vũ Khúc Phá Quân, Tử Vi Tham Lang, Thiên di cung Thiên Phủ, tuy tinh diệu cường liệt, nhưng chịu đối cung Thiên Phủ ảnh hưởng, lại chủ là người tuy dũng về khai sáng, nhưng mà lại vẫn tiểu tâm chú ý cẩn thận, đặc biệt là thiện trường lí tài, không đến nỗi do vì nhất thời ý khí phong phát hăng hái mà ngộ sự (làm lỡ việc), chìm sâu vào hưởng lạc thì vẫn không tránh khỏi (duy tham nịch vu hưởng lạc tắc nhưng bất miễn). Liêm Trinh chịu ảnh hưởng của Thất Sát, đa cải biến chi tâm, cho nên không thích hợp tại một cơ cấu nhậm chức quá lâu dài, không thì tâm tình khổ muộn. Cũng bất năng khắc hưởng tổ nghiệp, hoặc thủ phụ nghiệp, thậm chí bất hỉ kế thừa phụ thân sở tòng sự về hành nghiệp. Do vì duyên cớ có đa biến, cho nên nhân sinh cũng khó tránh phải kinh lịch gian tân. Liêm Trinh Thất Sát với tính chất hỉ biến động, giúp đời người thích nghi về tòng sự hành chính chức vị; do vì Liêm Trinh với tính chất đào hoa chịu Thất Sát ảnh hưởng, cũng giúp cho đời người đối với văn nghệ có ái hảo, đặc biệt hoan hỷ thi từ âm nhạc, cho nên nếu kiến Xương Khúc gia hội, thì cũng có thể tòng sự văn nghệ công tác. Nhưng như Sát Kị tịnh tập, thì nan miễn đa bất lương thị hảo (đam mê xấu), sắc thái văn nghệ hóa phong hoa tuyết nguyệt, dể trầm mê tửu sắc. Bất quá vô luận như thế nào đều vẫn có tiết chế, không đến nỗi vì tửu sắc khuynh phá. Do vì kết cấu tinh hệ phú cải biến tính, tuy thiện lí tài, cũng chỉ thích nghi cùng với người khác hợp tác sáng nghiệp kinh thương, mà lại không thích nghi nắm địa vị lĩnh đạo, không thì sự nghiệp phát triển bất thuận. Có nhất nhị Sát diệu hội hợp, thích nghi tòng sự lí công hoặc công nghệ. Mùi cung an Mệnh, hữu Xương Khúc, kiến Lộc, vô Sát Kị chư diệu, là “Hùng tú càn nguyên cách”, chủ kinh lịch gian tân mà đắc phú quý. Nếu người Sát khinh, cũng có thể tích trữ cần kiệm trí phú. Liêm Trinh Thất Sát tọa Mệnh cung chủ hô hấp khí quản suy nhược, nếu Hồng Loan Thiên Hỉ đồng cung và đối chiếu, thì dể hoạn hao suyễn. Nếu hóa Kị tinh mà lại kiến Đà La đồng độ, đa nùng huyết chi tai; Hóa Kị canh kiến tứ Sát tịnh chiếu, mà vô Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn cùng Xương Khúc giải cứu, trọn đời thân thể suy nhược, hoặc cánh trí yểu chiết. Tứ Sát tịnh chiếu mà lại phùng Hình Kị các sao, huyết tật, như bạch huyết cầu quá nhiều, tiên thiên bần huyết chi loại (thiếu máu bẩm sinh). Liêm Trinh Hóa Kị mà lại kiến tứ Sát tịnh chiếu, cổ nhân có nói là “Lộ thượng mai thi”, vào Bính can đại hạn như Bính Tý, Bính Dần các loại hoặc Bính niên cần đặc biệt tiểu tâm chú ý, bất nghi viễn hành.

Nữ mệnh Liêm Trinh Thất Sát, tất mạo mĩ, không dể chịu dị tính dẫn dụ mê hoặc, Phu thê cung tất là Thiên Tướng, bất kiến Sát Kị, hôn nhân hạnh phúc, mà lại thích nghi phu xướng phụ tùy, cộng đồng hợp tác tất triển nghiệp, nhưng dể dàng vì vô mãn ý về đối tượng mà trì hôn. Đặc biệt tuổi của trượng phu lớn hơn tám tuổi trở lên là thích hợp.

Đại hạn lưu niên Liêm Trinh Thất Sát chủ có biến động, hội Cát diệu thì thăng thiên khoách triển, hoặc gia tân, chủ có tích súc, hội Sát diệu thì bất nghi biến động. Nếu Hình Kị tịnh lâm, đặc biệt là người với Vũ Khúc Hóa Kị hội Liêm Trinh Hóa Kị các sao, bất kiến Lộc Tồn Hóa Lộc, cần phải đề phòng huyết quang chi tai, bất nghi viễn hành, thiết giới tranh tụng.

Thất Sát độc thủ tại Dần – Thân

Thất Sát tại Dần, Thân nhị cung độc tọa, đối cung phải là Tử Vi Thiên Phủ. Đương khi Thất Sát cư Dần cung thì, gọi là “Thất Sát ngưỡng đẩu”; Nếu cư Thân cung, thì là “Thất Sát triều đẩu”. Nếu so sánh hai cái này, với Thân cung tốt đẹp hơn Dần cung. Phàm “Triều đẩu” “Ngưỡng đẩu”, đều là mĩ cách, chủ là người có năng lực quản lí rất mạnh, có thể một mình đảm đương công việc (khả dĩ độc đương nhất diện). Cho nên vô luận phát triển tại hành nghiệp nào, đều là chủ quản nhân viên. Nhất là tại Mệnh cung hoặc Thiên di cung kiến Lộc Tồn đồng độ, càng chủ mọi việc đều sinh ra tài bạch không sợ thiếu hụt. Duy nếu kiến Sát diệu đồng độ hoặc hội hợp, thì chủ đời người thất bại nhưng có cơ hội khôi phục (đích lộ kính hữu khi khu khởi phục). Ngược lại chính người có Thất Sát tọa Mệnh thì trong suốt cuộc đời tất có một lần thất bại trọng đại, nhẹ cũng chủ sự nghiệp phát triển đình đốn, tính tình khổ muộn, chỉ cần làm việc cật lực đến nơi đến chốn (cước đạp thật địa), thì cuối cùng có thể vượt qua khó khăn, cho nên tức là làm cho đụng đến niên vận không tốt đẹp, cũng không nhất thiết phải nãn lòng thối chí.

Thất Sát “Triều đẩu” “Ngưỡng đẩu”, giống như nhau đều thích nghi ra nhậm chức vụ trong chính phủ, hoặc đại cơ cấu trong đại xí nghiệp nhân sự quản lí, hành chính quản lí nhân viên, cũng có thể làm quản lí công xưởng, nhưng như hội chiếu Văn Xương Văn Khúc, hoặc kiến từ đối cung có Tử Vi Hóa Khoa, thì có thể dấn thân theo sự nghiệp về phương diện quản lí diện có học thuật nghiên cứu; như kiến Thiên Phủ Hóa Khoa, thì có thể nghiên cứu kinh tế hoặc công thương quản lí. Chỉ kiến Văn diệu, thì là người làm gương sáng sư biểu. Nếu Sát diệu nặng, lại kiến Hóa Kị cùng Thiên Hình, Thiên Mã, Lộc Tồn, có thêm Tả Phụ Hữu Bật, Tam Thai Bát Tọa ủng hộ, thì có thể có chổ đứng trong giới quân sự, nếu không tức phải là lĩnh tụ. Thất Sát mừng nhất là kiến Lộc, nguyên nhân là Lộc diệu có thể hóa giải tính cương liệt của Thất Sát. Nếu không kiến Lộc mà tứ Sát tịnh chiếu, kiến thêm Không Kiếp, Hình Hao, thì suốt cuộc đời bị hình khắc rất nặng, càng chủ là người cứng đầu ngoan cố, phàm khi xử sự đều đưa ra thủ đoạn mạnh mẽ, tuy phú quý nhưng có phá bại; mà chủ tự cao tự đại, tự cho mình là tài giỏi, bởi vậy đời người khó tránh khỏi cô đơn tịch liêu. Đây là tính chất có thể dựa vào cuộc đời về sau để bổ cứu.

Thất Sát và Vũ Khúc đồng cung tại Mão – Dậu

Vũ Khúc Thất Sát tại Mão, Dậu nhị cung đồng độ, tinh diệu kết cấu phi thường cường liệt tất cần phải đắc Tả Phụ Hữu Bật củng chiếu, canh đắc hội Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, đời người với tế ngộ sau đó mới đắc thuận toại, không thì dể dàng cô lập vô viện mà phá tài. Bổn tinh hệ kết cấu với đặc tính, đúng là mẫn duệ mà tính cấp; có mưu lược nhưng vô viễn kiến; thông minh tài giỏi nhưng dể cản tẫn sát tuyệt (cạn tàu ráo máng), cũng tất đắc Tả Hữu Xương Khúc để điều hòa, nhiên hậu mới biến thành thông minh tinh luyện mà bất lưu vào đoản lự bạc tình. Nếu canh phùng Hóa Lộc, Hóa Khoa, Thiên Mã hội chiếu, thì phúc trạch dư hậu. Tại Mão cung an Mệnh, Hóa Kị hoặc ngộ Sát, cổ nhân nói là có mộc áp lôi kinh chi tai, tại xã hội hiện đại, thì là tao ngộ thổ mộc áp thương và xúc điện (cây đè điện giật). Tại Dậu cung an Mệnh, Hóa Kị hoặc ngộ Sát, chủ ngoại ý bất trắc, dể sinh nham chứng, hoặc não bộ tật hoạn. Mão Dậu nhị cung an Mệnh, Hỏa Linh đồng độ, thì là tài lợi chi sự mà sinh ý ngoại, tái kiến Vũ Khúc Hóa Kị cùng Kiếp Sát, Âm Sát hoặc Đại Hao đồng độ, thì có đạo kiếp chi tai; Kình Dương đồng độ, chủ do vì tài lợi mà động vũ. Nếu sở hội với Liêm Trinh Hóa Kị, thì ứng với đề phòng huyết quang chi tai, hoặc sinh bệnh động thủ thuật. Do vì tinh diệu cường liệt, cho nên chủ là người tác sự có phách lực có nghị lực, nhưng cũng chủ thanh thiếu niên bất lợi, tất cần phải kinh qua phấn đấu nhiên hậu hữu thành, vưu kì bất khả đầu cơ, ứng với tòng sự công chức, hoặc kinh doanh thật nghiệp, cũng có thể tại tài kinh giới công tác. Mão Dậu cung an Mệnh, Tài bạch cung Liêm Trinh Tham Lang có Lộc Tồn đồng độ hoặc tại đối cung trùng chiếu, cũng có Thiên Mã cùng Cát diệu hội hợp, là hình tượng anh hùng mạt lộ ngộ quý nhân (hình 9), chủ vào trong khốn cảnh đột nhiên phát tích biến thái. Nhưng Mệnh cung hội hợp Hỏa, Linh, Dương, Đà, Không, Kiếp, Hình diệu, thích nghi tòng sự quân cảnh hoặc bảo an công tác. Sát quá nhiều, thì làm đồ tể. Nếu có Văn tinh, hoặc kiến Lộc Quyền Khoa hội, thì thích nghi tác ngoại khoa y sinh; hội Liêm Trinh Hóa Kị, thì là thích nghi với phụ sản khoa. Nếu hội Sát Hình đẳng diệu, kiến Lộc Mã, ngược lại thích nghi kinh thương.

Nữ mệnh Vũ Khúc Thất Sát, thích hợp lập gia đình với người chồng nhiều 8 tuổi trở lên.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung Vũ Khúc Thất Sát, chủ có biến động ở mức độ trọng đại, cát hung cần phải xem xét tường tận tinh diệu sở hội hợp mà xác định. Nếu hóa Kị tinh, thì có nguy hiểm đình chức (cách chức), đảo bế (phá sản). Kiến Sát các sao càng thêm thặng đặng trắc trở, mà lại kiện khang bất giai.

Thất Sát độc thủ tại Thìn – Tuất

Thất Sát tại Thìn, Tuất nhị cung độc tọa, nhập vào Thiên La Địa Võng, đối cung phải là Thiên Phủ Liêm Trinh, tinh diệu nhu hòa, không có khả năng bang trợ Thất Sát thoát ra khỏi la võng, Thất Sát phải bắt buộc tự mình vùng vẫy thoát ra. Bởi vậy chủng loại kết cấu tinh hệ này, dể khiến cho người tất cần nhiều lần trải qua gian lao tân khổ, cuối cùng cả đời người lấy sự phấn đấu làm mục tiêu; bởi thế lại bị phong ba kéo xuống. Nhưng dù sáng lập sự nghiệp trong gian khổ, là người cũng chưa đủ đạt được thành tựu, không ngừng truy cầu đeo đuổi lí tưởng, mà lí tưởng lại càng lúc càng cao, đưa ra kế hoạch mới ngày càng nhiều, cho nên cuối cùng cả đời không được an nhàn với cuộc sống hằng ngày, nhưng là người vẫn xem điều này là niềm vui.

Tại Thìn, Tuất nhị cung, Thất Sát không sợ lắm khi gặp Sát diệu, duy chỉ sợ đối cung với Liêm Trinh Hóa Kị, lại hội thêm Sát diệu trùng trùng điệp điệp, Tinh bàn Mệnh cung gặp phải dạng kết cấu này, cần phải xem xét kiểm tra các cung vị mà nó đóng, tìm xem một cung nào đó sẽ chính là vết thương trí mệnh gây ra mọi chuyện chẳng lành. Như Tài bạch cung không cát, thì suốt cả cuộc đời về phương diện tiền tài sẽ có nhiều khốn nhiễu phân tranh; như Sự nghiệp cung không cát, thì suốt cuộc đời nhiều lần bị ngừng kinh doanh hoặc phá sản; như Tật ách cung không cát, thì trọn đời sức khỏe không được tốt đẹp, nhiều lần khai đao thủ thuật, hoặc nhiều lo sợ vu vơ; như Phu thê cung không tốt đẹp, thì cả đời về chuyện tình cảm có nhiều ba chiết thăng trầm trắc trở, hoặc chuyện phối ngẫu gặp nhiều bất hạnh; như Tử nữ cung không tốt đẹp, thì tử nữ hoặc có tai bệnh, yểu chiết, hoặc rước lấy quan phi.

Nếu Tài bạch cung có Tham Lang Hóa Kị hội Sát diệu, thì cả đời cảm thấy tiền tài bị nhiều thiếu hụt không đủ chi tiêu, mà thu nhập lại vĩnh viễn không được như mong muốn, nhưng cũng là do bởi mong muốn quá cao, sự nghiệp phát triển có phần quá mức, cũng không chủ bần cùng nghèo túng. Tham Lang Hóa Kị, tất đồng thời kiến Phá Quân Hóa Lộc tại Sự nghiệp cung, cũng chủ một thân trọn đời chỉ dấn thân theo sự khai sáng, không chịu gìn giữ bảo vệ thành quả. Nếu Tham Lang Hóa Lộc tại Tài bạch cung, không hội Sát diệu, thì một thân trọn đời có tài tìm kiếm cung cấp cho việc tiêu dùng, nhưng không thật sự súc tích; nếu hội Sát diệu, thì chủ gần với cách thức xa hoa hưởng lạc, yến tiệc linh đình, kết giao bằng hữu mà không biết tiết chế.

Thất Sát tọa Thìn, Tuất nhị cung, đều chủ là người có sở trường đặc biệt, mà lại có kiến giải nhận xét siêu trác cao minh. Mừng được Văn Xương Văn Khúc, Tả Phụ Hữu Bật; Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu hoặc đồng độ, thì thích nghi võ chức làm văn, hoặc văn chức làm võ. Hoặc chủ là người có tính cách yêu thích văn nghệ.

Thất Sát và Tử Vi đồng cung tại Tị – Hợi

Tử Vi Thất Sát tại Tị, Hợi lưỡng cung đồng độ. Tử Vi là Đế diệu, Thất Sát là Tướng tinh, nhị diệu đồng cung, biểu hiện ra uy thế không gì sánh bằng. Chủ là người phú khai sáng lực, mà lại tư tưởng độc đáo đặc biệt. Thông thường mà nói, Tử Vi Thất Sát có thể đúng là biểu trưng của quyền lực, cho nên Tử Vi bất nghi tái Hóa Quyền, ngược lại chủ là người ham muốn quyền lực quá cao, biểu hiện ra một loại phách khí làm cho người khác khó chấp nhận. Tối nghi đắc Cát diệu hội chiếu. Như Tả Phụ, Hữu Bật; Văn Xương, Văn Khúc; Lộc Tồn, Thiên Mã đồng hội, thì giúp cho Thất Sát có cơ hội sử dụng sự cương dũng anh hùng (đích cương dũng hữu anh hùng dụng vũ chi địa), điều gọi là “Hóa Sát vi quyền”, tức đúng là cách cục loại này. Nhưng giả như vô Cát diệu hội chiếu, thì giống như anh hùng lạc thảo vi khấu, liền dể khó tránh biểu hiện đắc cường man phách đạo (bạo ngược tàn ác), chủ là người hoành phát hoành phá. Nhưng vô Cát diệu, ngược lại kiến Sát diệu hội hợp, thì hình thương khắc hại bất miễn.

Nữ mệnh Tử Vi Thất Sát, tại phương diện sinh hoạt hôn nhân vô đại ngại, nhưng giả như chư Sát chiếu hội, thì chủ cô độc.

Đại vận hoặc lưu niên ngộ Tử Vi Thất Sát, nếu ngộ Sát diệu, thì dù có cơ hội biến hóa, nhưng lại khó được như ý nguyện; nhưng nếu Cát diệu hàm tập, thì chủ kinh qua biến hóa mà đắc tiến ích.

Thất Sát Tử Vi tại Tị, Hợi nhị cung đồng độ, xin tham khảo phần “Tử Vi Thất Sát” ở tiết thứ nhất. Phàm khi Thất Sát lâm Mệnh, nếu hội Sát diệu, cuộc đời tất có khuyết hãm. Hoặc không thể phú quý, hoặc phú quý mà phối ngẫu hình khắc phân li, hoặc hôn nhân không khuyết hãm nhưng không có tử nữ, hoặc có con gái mà không có con trai, hoặc có con trai mà bản thân mang nhiều tật bệnh. Nếu lục thân vô khuyết, thân thể kiện khang, thì lại không thể phú quý. Cần phải xem xét kiểm tra toàn diện thập nhị cung để xác định sự khuyết hám. Tại “Thìn Tuất cung độc tọa” ở tiết thứ nhất, đã sơ lược đưa ra.

Nữ mệnh Thất Sát nhập miếu, hội cát diệu tường diệu, như Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn, Tả Phụ Hữu Bật, Thiên Khôi Thiên Việt, Ân Quang, Thiên Vu, Thiên Thọ các sao, chủ phú quý trường thọ, nhưng chí khí vượt qua cả bậc trượng phu. Nếu cư hãm địa, kiến Hóa Kị, hội hung tinh ác diệu, như Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Thiên Hư, Âm Sát, Thiên Nguyệt, thì nữa đời cô độc, hoặc mà lại tai bệnh triền miên mang vào thân, thích nghi là kế thất, nơi ở cũ cũng có thể giảm nhẹ sự hình khắc đối với trượng phu cùng tử nữ.

Đại hạn lưu niên có Thất Sát nhập Mệnh cung, như nhập miếu hội cát tinh tường diệu, chủ sự nghiệp có cơ hội chuyển biến lương hảo tốt đẹp, chịu luồn cúi người khác thì chủ thăng tiến hoặc chuyển hoán về công việc càng thêm đẹp. Nếu lạc hãm, hội Sát tinh hung diệu, thì có hình khắc phá bại, cần phải xem xét cẩn thận thập nhị cung mà thôi đoạn luận đoán sự việc nào xảy ra. Nhưng hội hung diệu mà kiến cát Hóa, bất kể Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, đều chủ trước nguy sau an. Nếu lạc vào hãm địa, tứ Sát tịnh chiếu, lại kiến Không Kiếp, Thiên Hình, thì tính mệnh lâm nguy.

(Dẫn theo trang huyenhocvadoisong.com)

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button