Tử vi

Chương 23: Kình Dương – Đà La

Kình Dương

Kình Dương còn có tên là “yểu thọ sát”, thuộc kim, Bắc Đầu phù tinh, hóa khí là Hình. Kình Dương là một trong Tứ sát, cũng là một hung tinh. Cư Tỵ Ngọ Mão Dậu hãm địa, Thìn Tuất Sửu Mùi nhập miếu.

Thủ thân mệnh, tính tình thô bạo, cơ mưu xảo trá, thích tranh đấu tàn nhẫn, coi tình thân bạc như vôi, trở mặt lấy ân báo oán. Nhập miếu, tính cương quả quyết, chủ quyền quý. Cư tý ngọ Mão Dậu hãm địa, tức tác họa tai ương, hình khắc tương đối nặng. Kình Dương nhập mệnh, Thân cao thể cường tráng, phá tướng, đầu và tứ chi có thương tích, nhập miếu thì béo tốt, hãm địa phá tướng nặng, hoặc mắt mù, hoặc mặt có sẹo hay đốm. Kình Dương nhập miếu, chủ hoạnh thành hoạnh phá, đa phần thường thiếu chân thành, tính tham lam giả dối, hết sức tính toán, lấy oán báo ân, tính gấp gáp, to gan lớn mật, thích chuốc thị phi hoặc có xung đột với người thân bạn bè, thích đi vào chỗ nguy hiểm, tâm lý phản kháng mạnh, có khuynh hướng phạm tội.

Bạn đang xem: Chương 23: Kình Dương – Đà La

Nữ mệnh nhập miếu hội cát tinh quyền quý, tuy nhiên không được hoàn mỹ, hãm địa khắc chồng con, cô hình, phá tướng hạ tiện.

1. Kình Dương hỉ người sinh phía Tây, Bắc, hoặc người sinh năm Thìn Tuất Sửu Mùi, Mệnh Thân cung cư thìn tuất Sửu Mùi tất hoạnh lập công danh, đại phú đại quý.

2. Kình Dương cư tý ngọ Mão Dậu hãm địa, không chết yểu tất hình thương, một đời lắm hung họa bất ngờ, cơ thể thương tật, hình khắc nghiêm trọng (ở Ngọ là hung nhất, rồi đến Mão, rồi đến Tý Dậu, trừ cách “Mã đầu đới tiễn” ra)

3. Kình Dương nhập miếu có cát tinh đồng cung, chủ phú quý danh tiếng.

4. Kình Dương, Hỏa Tinh đồng cung cư thìn tuất Sửu Mùi thủ mệnh, uy quyền xuất chúng (người Thìn Tuất thì tốt, thứ đến là Sửu Mùi), nếu hai sao trên đồng cung hãm địa thủ mệnh, hạ cách, bần tiện hung yểu.

5. Kình Dương cư ngọ thủ mệnh, có Đồng Âm hay Tham Lang đồng cung, là cách “Mã đầu đới tiễn”, uy trấn biên cương, người sinh năm Bính Mậu thì hóa cát, tuy có Kình Dương ở Mệnh, cũng luận là tốt, có thể phú quý, chỉ là không bền. Người cách này hoặc tha hương dị quốc hoặc xuất ngoại phát triển, đa phần xây thành đại nghiệp đại sự trong gian nan khó khăn.

6.Kình Dương đồng cung với Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, chủ người có nốt ruồi kín, có đốm.

7. Kình Dương đồng cung với Liêm Trinh, Cự Hỏa, chủ có ám tật hoặc đầu mặt tay chân thương tật, một đời lắm hình họa.

8. Kình Dương thủ mệnh, Hỏa Tinh, Hóa Kỵ, Địa Kiếp, Địa Không xung phá, chủ tàn tật, ly hương, hình khắc lục thân.

9. Kình Dương thủ mệnh, Thất Sát hay Phá Quân xung phá, chủ hình khắc hạ cách.

10. “Lý quảng bất phong, Kình Dương phùng vu Lực Sĩ” người sinh năm Giáp mệnh cung ởMão, người sinh năm Bính Mệnh ở Ngọ, người sinh năm canh Mệnh ở dậu, người sinh năm Nhâm mệnh ở Tý, cát tinh nhiều thì vẫn bình thường, hội sát tinh thì hung.

11. Đa học thiểu thành, chỉ vì Kình Dương phùng Kiếp sát.

Đà La

Đà La còn có tên là “mã tảo sát”, thuộc Kim, Bắc Đầu phù tinh, hóa khí là Kỵ. Đà La là một trong Tứ sát, cũng là một hung tinh. Cư dần thân Tỵ Hợi lạc hãm, Thìn Tuất Sửu Mùi nhập miếu.

Thủ thân mệnh, hành động suy nghĩ bất chính, lắm khi nước mắt rơi trong thầm lặng, tính cương uy mãnh, hành sự không dứt khoát, có đầu không có đuôi, hoạnh thành hoạnh phá, phiêu đãng bất định, không là dân bản xứ. Đà La nhập mệnh, Thân hình cường tráng, mặt vuông tròn, hai gò má khá cao, nhập miếu đa phần béo, lạc hãm thì mặt có vết thương, răng yếu. Tính tình giảo hoạt, giỏi tính toán, đa nghi. Người có Đà La nhập mệnh, đa phần tâm thuật bất chính, bôn ba khắp nơi. Thích giở trò xảo trá, có tâm ý phản kháng, lời lẽ khoa trương, có thói quen dọa gạt người khác.

Nữ mệnh Đà La, nội tâm tàn nhẫn vẻ ngoài giả dối, xúc phạm chồng khắc con, không thủ đạo làm vợ.

1. Đà La hỉ người xinh phía Tây, Bắc, người sinh năm Thìn Tuất Sửu Mùi, người có Mệnh Thân ở Thìn Tuất sửu mùi, theo nghiệp võ có thể hoạnh phát lớn, theo nghiệp văn thì phát không bền.

2. Nếu người vô chính diệu mà Đà La độc thủ mệnh, duyên với cha mẹ bạc, đơn độc, xa quê đi xa, ở rể hoặc nhận con thừa tự, mang hai họ, sống nhờ xảo nghệ.

3. Đà La thủ mệnh, hội Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, chủ người có nốt ruồi kín.

4. Đà La hãm thủ mệnh, hội Cự Môn hoặc Tứ sát, tất hình thương vợ, quay lưng với lục thân, cũng thương tật có bệnh.

5. Đà La cư dần thân Tỵ Hợi thủ mệnh Thân, tất là người phá tướng, cơ thể có thương tật, nếu không phải số chết yểu thì tất hình thương nặng, nếu rời xa quê hương thì tai họa giảm nhẹ đi, đa phần chủ dung mạo xấu xí.

6. Đà La và Tham Lang đồng cung, là người thích đầu cơ, tất vì tửu sắc mà mắc lao, nếu đồng cung với Tham Lang ở Dần, chủ người thông minh mà phong lưu.

7. Đà La đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh, mệnh đại hung, dễ có bạo bệnh, ví dụ như bệnh truyền nhiễm, bệnh dịch, bệnh truyền nhiễm về da, đường tình dục, đa phần là người có tai nạn chảy máu, tàn phế, hung tử, không có kết cục tốt.

Kình Dương – Đà La Hợp Luận

1. Trước Lộc là Kình Dương, sau Lộc là Đà La, cư số chủ hung ách, là hung thần của các cung. Cư đất tứ mộ thì nhập miếu, tọa mệnh Thân, chủ hoạnh phát hoạnh phá, một khi vận may vừa đến, phát vận cực nhanh, một đêm thành danh, đột ngột thành công, nhưng một khi gặp vận xui thì khuynh bại cũng nhanh, thời gian từ khi bắt đầu đến khi kết thúc không dài.

2. Kình Dương hóa khí là Hình, Đà La hóa khí là Kỵ, cái hung này không thể đoán trước, không những chủ người cơ mưu gian trá, phá tướng đổ máu, cũng là dự báo về tai họa ngục tù, nhập 12 cung dù bất cứ cung nào cũng có sự phá hoại. Hai sao này hãm địa nhập mệnh, tam phương hội Hỏa Linh, tất có tai họa tù ngục. Hoặc hai sao này hãm địa, đồng cung với Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Cự Môn, Liêm Trinh, Vũ Khúc, cũng là số phạm tội ngồi tù. Đà La cư tỵ hợi tọa mệnh, bất luận chính tinh đồng cung miếu vượng hay hãm, tỉ lệ ngồi tù rất cao, nếu tam phương còn có Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh, hầu như ngồi tù là tuyệt đối. Hoặc Mệnh có chính tinh lạc hãm hội Địa Không Địa Kiếp, tam phương hội Kình Đà Hỏa Linh, cũng là tín hiệu tù lao. Hoặc Hóa Kỵở Mệnh, đồng cung hội chiếu với Kình Đà, cũng có kiện tụng hình phạt, tù ngục khó tránh. Hoặc cung Di có Quan Phủ và Thất Sát, Kình Dương, chủ ly hương gặp người phối ngẫu, nhập tù báo hình.

3. Kình Kình Đà La đồng cung hay hội chiếu với hung tinh Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Hóa Kỵ, đầu, mặt tay chân có thương tích.

4. “Nhật Nguyệt Kình Đà đa khắc thân”, Kình Dương, Đà La đồng cung với Thái Dương Thái Âm đồng cung tức đa phần khắc người thân, mắt có tổn thương; gặp Tham Lang, Liêm Trinh thì phong lưu rước họa, hội chiếu với Tham Lang, vì hoa tửu mà diệt thân; đồng hành cùng Cự Thất Sát, thì mắc bệnh mà hỏng mắt, bị lăng nhục mà sinh ám tật; đồng cung với Hỏa Linh, khi nhỏ khó nuôi, nhiều bệnh tật tai ương, phòng chết yểu phá tướng, nếu nuôi được thành người, cũng chủ tàn tật, chỉ thích hợp tăng đạo, hoặc theo tín ngưỡng tôn giáo, làm nhiều việc thiện có thể kéo dài.

5. Kình Dương, Đà La hội Thái Dương, Thái Âm hoặc Hóa Kỵ đồng cung, nam khắc vợ, nữ khắc chồng.

6. Kình Dương hội Xương Khúc Tả Hữu có nốt ruồi kín, bệnh ở mắt.

7. Kình Đà giáp mệnh, Mệnh có Lộc Tồn và chính tinh Hóa Kỵ, là cách “Kình Đà giáp kỵ”, là bại cách, luận là nghèo khổ, nếu Mệnh không có Hóa Kỵ, Lộc Tồn đơn thủ, mà Kình Đàgiáp mệnh, cũng có ngày hung họa.

8. Kình Đà và Hỏa Linh thủ mệnh Thân, là người lưng gù, hoặc vì lý do ngoài ý muốn mà tàn tật, tử vong, nếu thương tật có thể kéo dài tuổi thọ. Chính tinh đồng cung lạc hãm, có dấu hiệu chết yểu, nếu cũng luận là ngồi tù.

9. Dương Dà hội ác tinh, là nô bộc, cả đời không thể phát đạt.

10. Mệnh người quân tử cũng có Kình Đà Hỏa Linh, Mệnh kẻ tiểu nhân cớ gì không có Khoa Quyền Lộc, khi luận mệnh gặp điều này, cần phải xem được hay mất, luận nhập miếu hay hãm, mới có thể luận chính xác được.

11. Hễ thấy trong Dương, Đà, Hỏa Linh, Kỵ có 2 hoặc 3 sao lạc vào cung mệnh, chủ người không những không phải người lương thiện, có nạn ngục tù, mà tất không có kết quả tốt, là mệnh hung tử, lại hội Thiên Hình, thậm chí chết không toàn thây. Niên hạn phùng tổhợp trên, đề phòng tai họa bất ngờ.

12. Hạn có Kình Đà, đề phòng có bệnh tật nặng, hoặc có tai nạn ngoài dự kiến, ít khi có kết cục tốt, nếu tích đức thì có thể tốt lên.

13. Nam nữ mệnh có Kình Dương, tất tái hôn.

(Dẫn theo trang huyenhocvadoisong.com)

Đăng bởi: Phật Giáo Việt Nam

Chuyên mục: Học tử vi

Xem thêm Chương 23: Kình Dương – Đà La

Kình Dương

Kình Dương còn có tên là “yểu thọ sát”, thuộc kim, Bắc Đầu phù tinh, hóa khí là Hình. Kình Dương là một trong Tứ sát, cũng là một hung tinh. Cư Tỵ Ngọ Mão Dậu hãm địa, Thìn Tuất Sửu Mùi nhập miếu.

Thủ thân mệnh, tính tình thô bạo, cơ mưu xảo trá, thích tranh đấu tàn nhẫn, coi tình thân bạc như vôi, trở mặt lấy ân báo oán. Nhập miếu, tính cương quả quyết, chủ quyền quý. Cư tý ngọ Mão Dậu hãm địa, tức tác họa tai ương, hình khắc tương đối nặng. Kình Dương nhập mệnh, Thân cao thể cường tráng, phá tướng, đầu và tứ chi có thương tích, nhập miếu thì béo tốt, hãm địa phá tướng nặng, hoặc mắt mù, hoặc mặt có sẹo hay đốm. Kình Dương nhập miếu, chủ hoạnh thành hoạnh phá, đa phần thường thiếu chân thành, tính tham lam giả dối, hết sức tính toán, lấy oán báo ân, tính gấp gáp, to gan lớn mật, thích chuốc thị phi hoặc có xung đột với người thân bạn bè, thích đi vào chỗ nguy hiểm, tâm lý phản kháng mạnh, có khuynh hướng phạm tội.

Nữ mệnh nhập miếu hội cát tinh quyền quý, tuy nhiên không được hoàn mỹ, hãm địa khắc chồng con, cô hình, phá tướng hạ tiện.

1. Kình Dương hỉ người sinh phía Tây, Bắc, hoặc người sinh năm Thìn Tuất Sửu Mùi, Mệnh Thân cung cư thìn tuất Sửu Mùi tất hoạnh lập công danh, đại phú đại quý.

2. Kình Dương cư tý ngọ Mão Dậu hãm địa, không chết yểu tất hình thương, một đời lắm hung họa bất ngờ, cơ thể thương tật, hình khắc nghiêm trọng (ở Ngọ là hung nhất, rồi đến Mão, rồi đến Tý Dậu, trừ cách “Mã đầu đới tiễn” ra)

3. Kình Dương nhập miếu có cát tinh đồng cung, chủ phú quý danh tiếng.

4. Kình Dương, Hỏa Tinh đồng cung cư thìn tuất Sửu Mùi thủ mệnh, uy quyền xuất chúng (người Thìn Tuất thì tốt, thứ đến là Sửu Mùi), nếu hai sao trên đồng cung hãm địa thủ mệnh, hạ cách, bần tiện hung yểu.

5. Kình Dương cư ngọ thủ mệnh, có Đồng Âm hay Tham Lang đồng cung, là cách “Mã đầu đới tiễn”, uy trấn biên cương, người sinh năm Bính Mậu thì hóa cát, tuy có Kình Dương ở Mệnh, cũng luận là tốt, có thể phú quý, chỉ là không bền. Người cách này hoặc tha hương dị quốc hoặc xuất ngoại phát triển, đa phần xây thành đại nghiệp đại sự trong gian nan khó khăn.

6.Kình Dương đồng cung với Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, chủ người có nốt ruồi kín, có đốm.

7. Kình Dương đồng cung với Liêm Trinh, Cự Hỏa, chủ có ám tật hoặc đầu mặt tay chân thương tật, một đời lắm hình họa.

8. Kình Dương thủ mệnh, Hỏa Tinh, Hóa Kỵ, Địa Kiếp, Địa Không xung phá, chủ tàn tật, ly hương, hình khắc lục thân.

9. Kình Dương thủ mệnh, Thất Sát hay Phá Quân xung phá, chủ hình khắc hạ cách.

10. “Lý quảng bất phong, Kình Dương phùng vu Lực Sĩ” người sinh năm Giáp mệnh cung ởMão, người sinh năm Bính Mệnh ở Ngọ, người sinh năm canh Mệnh ở dậu, người sinh năm Nhâm mệnh ở Tý, cát tinh nhiều thì vẫn bình thường, hội sát tinh thì hung.

11. Đa học thiểu thành, chỉ vì Kình Dương phùng Kiếp sát.

Đà La

Đà La còn có tên là “mã tảo sát”, thuộc Kim, Bắc Đầu phù tinh, hóa khí là Kỵ. Đà La là một trong Tứ sát, cũng là một hung tinh. Cư dần thân Tỵ Hợi lạc hãm, Thìn Tuất Sửu Mùi nhập miếu.

Thủ thân mệnh, hành động suy nghĩ bất chính, lắm khi nước mắt rơi trong thầm lặng, tính cương uy mãnh, hành sự không dứt khoát, có đầu không có đuôi, hoạnh thành hoạnh phá, phiêu đãng bất định, không là dân bản xứ. Đà La nhập mệnh, Thân hình cường tráng, mặt vuông tròn, hai gò má khá cao, nhập miếu đa phần béo, lạc hãm thì mặt có vết thương, răng yếu. Tính tình giảo hoạt, giỏi tính toán, đa nghi. Người có Đà La nhập mệnh, đa phần tâm thuật bất chính, bôn ba khắp nơi. Thích giở trò xảo trá, có tâm ý phản kháng, lời lẽ khoa trương, có thói quen dọa gạt người khác.

Nữ mệnh Đà La, nội tâm tàn nhẫn vẻ ngoài giả dối, xúc phạm chồng khắc con, không thủ đạo làm vợ.

1. Đà La hỉ người xinh phía Tây, Bắc, người sinh năm Thìn Tuất Sửu Mùi, người có Mệnh Thân ở Thìn Tuất sửu mùi, theo nghiệp võ có thể hoạnh phát lớn, theo nghiệp văn thì phát không bền.

2. Nếu người vô chính diệu mà Đà La độc thủ mệnh, duyên với cha mẹ bạc, đơn độc, xa quê đi xa, ở rể hoặc nhận con thừa tự, mang hai họ, sống nhờ xảo nghệ.

3. Đà La thủ mệnh, hội Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, chủ người có nốt ruồi kín.

4. Đà La hãm thủ mệnh, hội Cự Môn hoặc Tứ sát, tất hình thương vợ, quay lưng với lục thân, cũng thương tật có bệnh.

5. Đà La cư dần thân Tỵ Hợi thủ mệnh Thân, tất là người phá tướng, cơ thể có thương tật, nếu không phải số chết yểu thì tất hình thương nặng, nếu rời xa quê hương thì tai họa giảm nhẹ đi, đa phần chủ dung mạo xấu xí.

6. Đà La và Tham Lang đồng cung, là người thích đầu cơ, tất vì tửu sắc mà mắc lao, nếu đồng cung với Tham Lang ở Dần, chủ người thông minh mà phong lưu.

7. Đà La đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh, mệnh đại hung, dễ có bạo bệnh, ví dụ như bệnh truyền nhiễm, bệnh dịch, bệnh truyền nhiễm về da, đường tình dục, đa phần là người có tai nạn chảy máu, tàn phế, hung tử, không có kết cục tốt.

Kình Dương – Đà La Hợp Luận

1. Trước Lộc là Kình Dương, sau Lộc là Đà La, cư số chủ hung ách, là hung thần của các cung. Cư đất tứ mộ thì nhập miếu, tọa mệnh Thân, chủ hoạnh phát hoạnh phá, một khi vận may vừa đến, phát vận cực nhanh, một đêm thành danh, đột ngột thành công, nhưng một khi gặp vận xui thì khuynh bại cũng nhanh, thời gian từ khi bắt đầu đến khi kết thúc không dài.

2. Kình Dương hóa khí là Hình, Đà La hóa khí là Kỵ, cái hung này không thể đoán trước, không những chủ người cơ mưu gian trá, phá tướng đổ máu, cũng là dự báo về tai họa ngục tù, nhập 12 cung dù bất cứ cung nào cũng có sự phá hoại. Hai sao này hãm địa nhập mệnh, tam phương hội Hỏa Linh, tất có tai họa tù ngục. Hoặc hai sao này hãm địa, đồng cung với Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Cự Môn, Liêm Trinh, Vũ Khúc, cũng là số phạm tội ngồi tù. Đà La cư tỵ hợi tọa mệnh, bất luận chính tinh đồng cung miếu vượng hay hãm, tỉ lệ ngồi tù rất cao, nếu tam phương còn có Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh, hầu như ngồi tù là tuyệt đối. Hoặc Mệnh có chính tinh lạc hãm hội Địa Không Địa Kiếp, tam phương hội Kình Đà Hỏa Linh, cũng là tín hiệu tù lao. Hoặc Hóa Kỵở Mệnh, đồng cung hội chiếu với Kình Đà, cũng có kiện tụng hình phạt, tù ngục khó tránh. Hoặc cung Di có Quan Phủ và Thất Sát, Kình Dương, chủ ly hương gặp người phối ngẫu, nhập tù báo hình.

3. Kình Kình Đà La đồng cung hay hội chiếu với hung tinh Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Hóa Kỵ, đầu, mặt tay chân có thương tích.

4. “Nhật Nguyệt Kình Đà đa khắc thân”, Kình Dương, Đà La đồng cung với Thái Dương Thái Âm đồng cung tức đa phần khắc người thân, mắt có tổn thương; gặp Tham Lang, Liêm Trinh thì phong lưu rước họa, hội chiếu với Tham Lang, vì hoa tửu mà diệt thân; đồng hành cùng Cự Thất Sát, thì mắc bệnh mà hỏng mắt, bị lăng nhục mà sinh ám tật; đồng cung với Hỏa Linh, khi nhỏ khó nuôi, nhiều bệnh tật tai ương, phòng chết yểu phá tướng, nếu nuôi được thành người, cũng chủ tàn tật, chỉ thích hợp tăng đạo, hoặc theo tín ngưỡng tôn giáo, làm nhiều việc thiện có thể kéo dài.

5. Kình Dương, Đà La hội Thái Dương, Thái Âm hoặc Hóa Kỵ đồng cung, nam khắc vợ, nữ khắc chồng.

6. Kình Dương hội Xương Khúc Tả Hữu có nốt ruồi kín, bệnh ở mắt.

7. Kình Đà giáp mệnh, Mệnh có Lộc Tồn và chính tinh Hóa Kỵ, là cách “Kình Đà giáp kỵ”, là bại cách, luận là nghèo khổ, nếu Mệnh không có Hóa Kỵ, Lộc Tồn đơn thủ, mà Kình Đàgiáp mệnh, cũng có ngày hung họa.

8. Kình Đà và Hỏa Linh thủ mệnh Thân, là người lưng gù, hoặc vì lý do ngoài ý muốn mà tàn tật, tử vong, nếu thương tật có thể kéo dài tuổi thọ. Chính tinh đồng cung lạc hãm, có dấu hiệu chết yểu, nếu cũng luận là ngồi tù.

9. Dương Dà hội ác tinh, là nô bộc, cả đời không thể phát đạt.

10. Mệnh người quân tử cũng có Kình Đà Hỏa Linh, Mệnh kẻ tiểu nhân cớ gì không có Khoa Quyền Lộc, khi luận mệnh gặp điều này, cần phải xem được hay mất, luận nhập miếu hay hãm, mới có thể luận chính xác được.

11. Hễ thấy trong Dương, Đà, Hỏa Linh, Kỵ có 2 hoặc 3 sao lạc vào cung mệnh, chủ người không những không phải người lương thiện, có nạn ngục tù, mà tất không có kết quả tốt, là mệnh hung tử, lại hội Thiên Hình, thậm chí chết không toàn thây. Niên hạn phùng tổhợp trên, đề phòng tai họa bất ngờ.

12. Hạn có Kình Đà, đề phòng có bệnh tật nặng, hoặc có tai nạn ngoài dự kiến, ít khi có kết cục tốt, nếu tích đức thì có thể tốt lên.

13. Nam nữ mệnh có Kình Dương, tất tái hôn.

(Dẫn theo trang huyenhocvadoisong.com)

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button