Tử vi

Chương 3: tử vi đấu sổ thuật ngữ giải thích

Để sử dụng được các phần trước, đầu tiên phải tìm hiểu được một chút danh từ thuật ngữ bên trong tử vi đấu sổ.

Tử vi đấu sổ là tại “Cung” và “Tinh” giữa hai bên tiến hành chơi cờ, thông qua cung và tinh, cung cùng cung và tinh cùng tinh diễn biến, biểu hiện ra quy luật phát triển biến hóa giữa thiên địa nhân. Phía dưới giải thích phần lớn vấn đề “Cung” và “Tinh”

1. Tinh tú: là các sao chứa trong mệnh bàn gọi là tinh thần, tinh diệu hoặc tên gọi tắt là tinh hoặc thần.

Bạn đang xem: Chương 3: tử vi đấu sổ thuật ngữ giải thích

2, chính tinh, phụ tinh: Sao chủ đạo sự phát triển xu thế của vận mệnh xưng là chính tinh, chỉ tử vi, thiên cơ, thái dương, vũ khúc, thiên đồng, liêm trinh, Thiên phủ, thái âm, tham lang, cự môn, thiên tướng, thiên lương, thất sát, phá quân các loại, tổng mười bốn khỏa. Mệnh không chính tinh, tức mệnh cung bên trong không có mười bốn khỏa chính tinh. Phụ trợ chính tinh phát huy tác dụng cùng phát triển biến hóa mà khởi lên đại tác dụng của sao gọi là trợ tinh diệu, chỉ Tả Phụ, hữu bật, thiên khôi, thiên việt, Văn Xương, văn khúc, lộc tồn, thiên mã, kình dương, đà la, hoả tinh, linh sao, thiên không, kiếp, hóa lộc, hóa quyền, hóa khoa, hóa kị mười tám khỏa tinh diệu. Trên đây chính tinh cùng phụ tinh đều thuộc về sao Giáp cấp, tổng ba mươi hai khỏa.

3, phó tinh, tạp diệu: Chúng ta đem Ất cấp gọi cho các sao phó tinh, đem bính gọi cho các sao là tạp diệu.

4, Cát tinh: Chỉ có lợi cho vận mệnh con người, sao của phúc lộc cát lợi. Bình thường gọi là Tả Phụ, hữu bật, thiên khôi, thiên việt, Văn Xương, văn khúc tổng sáu sao là sáu Cát tinh. Thêm lộc tồn thiên mã gọi là là tám Cát tinh. Chính tinh bên trong t ử vi, Thiên phủ, thái dương, thái âm, thiên tướng, thiên lương, thiên đồng, vũ khúc là chính tông chủ Cát tinh phú quý phúc lộc, chính Cát tinh. Ngoài ra,sao tứ hóa hóa lộc, hóa khoa, hóa quyền cũng là Cát tinh.

5, sát tinh: Sao đối vận mệnh con người có phá hư, ức chế, suy vong, thất lạc, gọi chung là sát tinh. Bình thường gọi Tứ Sát là: Kình dương, đà la, hoả tinh, linh sao. Cộng thêm thiên không,địa kiếp gọi là lục sát tinh.

6, tứ hóa tinh: Chỉ hóa lộc, hóa quyền, hóa khoa, hóa kị bốn sao, lại gọi là tứ hóa diệu. Là chủ tinh biến tốt biến xấu bốn loại kết quả. Tứ hóa tinh mặc dù không phải chính tinh, nhưng tác dụng của chúng rất lớn, nhất là sao hóa kỵ, phá hư tác dụng cũng không thua gì lục sát tinh, thường thường cộng thêm lục sát tinh hợp lại gọi là thất sát tinh

7, lưu tinh; chỉ đại hạn, tiểu hạn, lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật, lưu thời các loại theo tuế nguyệt thời gian biến hóa Mà biến hóa của tinh diệu, những tinh diệu này là có thời hạn, đương thời hữu dụng, quá thời hạn hết hiệu lực. Lưu niên lưu tinh khá nhiều, có lưu niên tương tiền mười hai sao, lưu niên tuế tiền mười hai sao, lưu dương, lưu đà, lưu hỏa, lưu linh, lưu lộc, lưu mã, lưu loan, lưu hỉ, lưu khôi, lưu việt, lưu xương, lưu khúc, lưu niên tứ hóa các loại.

8, tên gọi tắt của tinh diệu: Đấu số tinh diệu đa số là hai từ, như tử vi, thiên cơ các loại, để thuận tiện biên soạn cùng ghi nhớ, dùng một chữ để gọi, như tử vi gọi tắt là tử, thiên cơ gọi tắt là cơ, tham lang gọi tắt là tham hoặc lang, vũ khúc gọi tắt là vũ, văn khúc gọi tắt là khúc, lưu niên kình dương gọi tắt là lưu dương, lưu niên đà la gọi tắt là lưu đà, vân vân. Xin chú ý, trong sách xưa thường thường đem kình dương gọi là hình, đà la gọi là kị, sách này nhất loạt đem kình dương gọi là dương, đem đà la gọi là đà, đem thiên hình gọi là hình, đem hóa kị gọi là kị

9, tinh tình: Tức tinh diệu có tác dụng, ý nghĩa, cát hung, thiện ác.

10, cung viên: Trên mệnh bàn tổng cộng có mười hai ô vuông, mỗi một ô vuông gọi là một cung (lại gọi là cung viên), toàn bộ mệnh bàn tổng cộng có mười hai cung, trong đó phân làm nhân sự mười hai cung cùng địa chi mười hai cung. Nhân sự mười hai cung là chỉ: Mệnh cung, huynh đệ cung, phu thê cung, tử nữ cung, tài bạch cung, tật ách cung, thiên di cung, nô b ộc cung, quan lộc cung, điền trạch cung, phúc đức cung, phụ mẫu cung; mệnh bàn mười hai cung theo mệnh cung (tức thái cực điểm) tại địa chi mười hai cung vị trí biến hóa Mà biến hóa. Địa chi mười hai cung là chỉ: Tý, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi; mười hai địa chi cung vị bất kể thiên bàn cùng nhân bàn đều cố định không thay đổi.

11, bản cung: Chỉ cung chủ sự. Như nhìn huynh đệ chuyện, thì lại lấy huynh đệ cung làm chủ đến xem, cho nên huynh đệ cung chính là ngươi nếu bàn về sự tình của cung. Như hỏi phụ mẫu tình hình, thì lại lấy phụ mẫu cung là cung trọng tâm, vân vân. Mười hai cung đều có thể là cung trọng tâm.

12, đối cung: Chỉ bản cung cung đối diện, chính là địa chi lục xung, tức cung đối xung, như cung tý đối cung là ngọ, cung sửu đối cung là mùi. Đối cung cát hung đối với bản cung ảnh hưởng rất lớn

13, tam hợp cung: Tức địa chi tam hợp cung. Như thân tý thìn, tị dậu sửu, hợi mão mùi, dần ngọ tuất.

Cùng bản cung cách ba vị, thành tam giác đều ba cung tức là tam hợp cung, lại gọi là tam phương.

14, tam phương tứ chính: Chỉ bản cung tam hợp cung là tam phương, bản cung đối xung cung là tứ chính. Tam hợp cung cùng đối xung cung hợp lại gọi chung là tam phương tứ chính. Phân tích tam phương tứ chính để xác định bản cung mạnh yếu cát hung là một khâu trọng yếu trong đẩu số luận mệnh, là đầu mối chính nhân sự mệnh vận phân tích, quan sát tỉ mỉ nơi bắt đầu nhân sự cát hung.

15, tọa, cư, thủ: Đều là ý nghĩa tinh diệu rơi vào cung nào đó. Cát tinh nhập bản cung gọi tọa, hung tinh nhập bản cung gọi cư, nhưng bình thường đều gọi là tọa hoặc thủ.

16, triều và xung: Cát tinh cư đối cung gọi triều, hung tinh cư đối cung gọi xung. Bản cung cùng đối cung gặp thất sát tinh cũng gọi là xung. Bình thường hay gọi sao hóa kỵ tại đối cung là xung.

17: Hội và chiếu: Tinh diệu tại bản cung tam phương gọi là hội, tại đối cung đối lập gọi là chiếu

18, ngộ, gia, phùng, đồng hoặc đồng độ: Đều ý nghĩa chỉ một tinh diệu nào đó cùng một tinh diệu khác đồng cung.

19, phụ cùng giáp: Cát tinh ở riêng hai lân cận cung gọi phụ, hung tinh ở riêng hai lân cận cung gọi giáp. Tại thực tế trong sử dụng, trái phải hai bên lân cận cung gọi giáp cung, cát hung sao nhập hai lân cận cung đều gọi giáp, như nhật nguyệt giáp mệnh, không kiếp giáp mệnh các loại.

20, phù củng: Là ý phù trợ, cát tinh bất luận thủ có thể chiếu, đều có thể gọi là phù củng. Thuận hướng, trước giúp sau là phù, như dần giúp mão, mão giúp mùi, mùi giúp hợi; nghịch hướng, sau giúp trước là củng, như mão giúp dần, hợi giúp mùi, mùi giúp mão.

21, đại hạn: Một đời người có thể phân một số giai đoạn, thường mười năm là một đơn vị, gọi là đại hạn. Đại hạn là những giai đoạn trọng yếu chìm nổi của một đời người trải, là mười năm cát hung.

22, lưu niên: Tức tình hình vận khí sinh ra về sau của mỗi một năm. Lưu niên hàng năm đều đang biến hóa.

23, Thiên La Địa Võng: Chỉ trên mệnh bàn thìn tuất hai cung, là ý nghĩa chói trặt lại. Thìn là thiên la, tuất là địa võng.

24, bốn ác diệu: Chỉ sát, phá, liêm, tham. Chủ yếu nguyên nhân vì chúng nó dễ dàng hướng xấu phương diện phát triển, một khi thất thủ, ngộ hung thần thì bộc lộ bộ mặt hung ác. Nhưng vào miếu hội cát cũng có tác dụng tốt đẹp, lớn nhất sáng tạo kình cùng hoành phát cơ ngộ

25, sát phá lang: Chỉ thất sát, phá quân, tham lang ba sao, tại trong mệnh bàn, bọn chúng vĩnh viễn thành hội Tam Hợp chiếu. Hạn năm gặp sát phá lang, nhiều chủ biến đổi khai sáng, biến tốt hay là trở nên xấu thì nhìn chủ sao là miếu vượng hay là thất hãm, cùng cát nhiều hay cát it.

26, miếu: Tinh diệu ở vào lúc sáng nhất. Bất kỳ tinh diệu nào nhập miều, đều có thể phát huy đầy đủ tác dụng tốt đẹp, gặp cát tinh càng thêm cát, gặp hung tinh thì không hung, thêm sát ảnh hưởng cũng không lớn.

27, vượng: Sao độ sáng gần với miếu, sức mạnh thuộc trung trở lên, nhiều tính tốt, thêm sát ảnh hưởng cũng không quá lớn.

28, đắc địa: Độ sáng hơi yếu hơn vượng, thuộc bên trong cát, sức mạnh khá là ổn định không dễ đổi biến. Thêm sát sẽ có ảnh hưởng, tại thực tế trong sử dụng, có thể lấy vượng đến đối đãi.

29, lợi ích: Độ sáng so với đắc địa là yếu, vẫn thuộc tiểu cát, vẫn có lợi chủ sao phát huy, hung tinh nên tĩnh không nên động. Ngộ cát gia tăng độ sáng, nhưng không có khả năng đạt tới miếu vượng trình độ, ngộ sát ảnh hưởng khá lớn.

30, bình hòa: Tinh diệu đã hầu như bất lực, hung cát đều bất lợi phát huy, nhiều hiện lên hung tác dụng, dễ bị tinh diệu khác ảnh hưởng, ngộ cát còn có thể không có trở ngại, ngộ sát thì hung. Tại sử dụng trong thực tế, có thể làm thất hãm đối đãi.

31, hãm lạc: Sao độ sáng hoàn toàn không có, sức mạnh hoàn toàn không có, ở vào cục diện bị động, khuyết điểm hoàn toàn bại lộ. Nhân sự vận thế ở vào sa sút u ám thời kì, cát tinh bất cát, hung tinh càng hung. Ngộ cát cũng khó đỡ lên, ngộ sát càng hung

32, nhàn cung: Là nhàn rỗi, tác dụng không lớn ý nghĩa. Sức mạnh ở vào trung tính, tác dụng hiển hiện không ra.

33, tứ mã chi địa: Lại gọi tứ sinh chi địa, tức dần thân tị hợi bốn cung. Mệnh nhập chủ vất vả, rời xa nơi chôn rau cắt rốn, dễ bị người chế trụ, tự tìm phiền não.

34, tứ khố chi địa: Lại gọi tứ mộ, tức thìn tuất sửu mùi bốn cung. Mệnh nhập chủ hình, cô độc, hình khắc lục thân, vất tổ ly tông, bề ngoài bình tĩnh, bên trong nhiều dao động.

35, tứ bại địa: Tức tử ngọ mão dậu bốn cung, là hoa đào chi địa. Mệnh nhập, khá phong lưu háo sắc, nhân duyên tốt, tình cảm phức tạp, nguyên nhân phúc đức cung tất tại tứ mã cung, cho nên nhiều phiêu đãng.

36, nam nữ âm dương: Năm sinh dương nam nhân gọi là dương nam, năm sinh dương nữ nhân gọi là dương nữ, năm sinh âm nam nhân gọi là âm nam, năm sinh âm nữ nhân gọi là Âm nữ.

37, cách cục: Chính là quần tinh tổ hợp tại cùng một chỗ hình thành một quần thể kết cấu, bố cục ý nghĩa. Tử vi đấu sổ cách cục ngoài bản cung hoặc cùng tam phương tứ chính cung hoặc tả hữu giáp cung của tinh diệu ở giữa phối hợp mà thành một số quy định, hợp cách tổ hợp thể, bố cục, phân làm cát cách cùng hung cách, là ti ền nhân thực tiễn kinh nghiệm kết tinh, đối cát hung phán đoán rất là có ý nghĩa quan trọng.

38, cục tượng: Chính là tinh diệu quần thể bố thành cục thể kết cấu biểu hiện ra tới hình tượng, tượng ý, tình hình. Trong đẩu số cục tượng, là biểu hiện cát hung họa phúc hình tượng, tượng ý, xu thế.

39, sao âm dương: Tinh diệu đều có âm dương thuộc tính, dương tinh khá hoạt bát, mặt ngoài tính mạnh, mạnh mẽ năng động; âm tinh không quá hoạt bát, so khá âm nhu thiếu động.

40, địa chi lục hợp: Tức trong mệnh bàn mười hai địa chi lục hợp cung, có chứa ám hợp tác dụng (tác dụng ngầm), biểu quan hệ giữa hai cái mật thiết tương quan (cả hai ứng phân ra chủ khách, bản cung làm chủ, đến hợp bản cung là khách; hai cái quan h ệ tốt xấu liền khán khách cung tốt xấu, khách cung tốt biểu thị đối phương tốt với ta, thì cả hai quan hệ tốt, khách cung xấu thì cả hai quan hệ không tốt). Ví dụ như mệnh cung cùng cung phụ mẫu lục hợp, biểu thị ta cùng quan hệ với phụ thân quan hệ mật thiết, mệnh cung là ta làm chủ, cung phụ mẫu là khách, cung phụ mẫu tốt thì quan hệ tốt, cung phụ mẫu xấu thì quan hệ không tốt; lại như phúc đức cung cùng huynh đệ cung lục hợp, ta tập tính yêu thích cùng mẫu thân, huynh đệ quan hệ mật thiết, phúc đức cung là ta làm chủ, huynh đệ cung là khách, huynh đệ cung tốt thì đối với hưởng thụ của ta có trợ giúp, huynh đệ cung không tốt thì đối ta hưởng thụ bất lực.

41, đối tinh: Đối tinh chính là ghép thành đôi, thành song thành đôi ý nghĩa. Trong tử vi đẩu số đem tác dụng gần giống hoặc âm dương hỗ trợ lẫn nhau hai tinh diệu tạo thành cặp đôi sao, trong tử vi đẩu số đại đa số tinh diệu đều là ghép thành đôi xuất hiện. Ví dụ phủ tướng, nhật nguyệt tả hữu xương khúc, khôi việt, lộc mã, dương đà, hỏa linh, không kiếp, thương sử, hình diêu, tam thai bát tọa, khốc hư, long phượng, thai phụ phong cáo, hồng hỉ các loại đều là đối tinh. Đối tinh đồng cung hoặc đồng thời xuất hiện tại bản cung tam phương tứ chính cung lúc, sức mạnh khá lớn; trái lại ít thấy đơn tinh thì sức mạnh nhỏ bé, có khi thậm chí còn đưa đến tác dụng không tốt, ví dụ sáu cát tinh của đơn tinh thủ tại lục thân cung trái lại có tác dụng không tốt.

42, thể cùng dụng: Thể, chính là thân thể, bản thể, thân thể (trừ đầu và tứ chi), chủ thể, căn cơ ý nghĩa. Dụng, liền là hoạt động, phát triển, phụ thuộc, cành lá ý nghĩa. Không có có thân thể, liền không khả năng có hoạt động, cho nên thể dụng quan hệ là: Trước có thể, sau đó mới có dụng; thể chỉ huy dụng, dụng phụ thuộc tại thể; thể là tĩnh tượng, dụng là động tượng. Thân thể tốt, năng lực hoạt động mới mạnh; thân thể kém, năng lực hoạt động liền yếu. Tại trong tử vi đẩu số, bản mệnh bàn là thể, là tĩnh, là đại cục, là đại tượng, là đại thế, là chỉnh thể; hạn vận là dụng, là động, là tiểu cục, là Tiểu Tượng, là tiểu thế, là cụ thể; mệnh cung là thể là bên trong, còn lại mười một cung là dụng là bên ngoài; chủ tinh là thể, trợ tinh, phó tinh, tứ hóa là dụng. Đại tượng cát, như trụ cột vững vàng, trải qua sóng gió, đại tượng hung như cỏ non trong gió, gió lớn thổi một cái thì nhổ cả rể lên. Đoán mệnh lấy thể làm chủ, nhìn xuống số, đại thể, xu thế, chỉ ra điềm báo, lấy dụng làm phụ, đoán biến hóa, ứng sổ, cụ thể, kỹ càng. Tại cung viên bên trong, lấy chính tinh chủ tinh là thể, làm nhân sự chủ thể, đại thể, thân cây, bối cảnh; lấy phó tinh tiểu tinh làm phụ, làm nhân sự cụ thể, cành lá, tiền cảnh. Tại cung cùng tinh bên trong, cung là thể, là căn cứ địa; tinh diệu là dụng, là hồn phách.

43, thuận hành cùng nghịch hành: Cùng kim đồng hồ phương hướng vận hành nhất trí, gọi là thuận phương hướng kim đồng hồ. Tại bên trong mười hai cung, theo thuận phương hướng kim đồng hồ mỗi cung địa đếm tiếp đi gọi là thuận hành. Cùng kim đồng hồ phương hướng vận hành ngược lại, gọi là nghịch phương hướng kim đồng hồ. Tại bên trong mười hai cung, theo nghịch phương hướng kim đồng hồ mỗi cung địa đếm tiếp đi gọi là nghịch hành.

44, không tinh: Bao gồm thiên không, tiệt không, tuần không ba sao.

45, hạn năm: Trong sách thường xuất hiện có “Hạn năm” hai chữ, là đại hạn cùng lưu niên gọi tắt.

Trong đó hạn chỉ đại hạn, gọi tắt là là “Hạn” ; năm chỉ lưu niên, gọi tắt là là “Năm”.

46, cường cung, nhược cung: Cường cung là đối với bản nhân vận mệnh ảnh hưởng khá lớn cung độ; nhược cung là đối với bản nhân vận mệnh ảnh hưởng khá nhỏ cung độ. Nam mệnh lấy mệnh, thân, tài, quan, phúc, điền, thiên (thiên di) các loại cung là cường cung, còn lại huynh, phụ,, tật, nô, phụ các loại cung là nhược cung. Nữ mệnh lấy mệnh, thân, phu, tử, tài, điền, phúc các loại cung là cường cung, còn lại huynh, tật, thiên (thiên di), nô, quan, phụ các loại cung là nhược cung. Ở đây cường cung nhược cung chỉ là so ra mà nói, trên thực tế có đôi khi nhược cung đối vận mệnh ảnh hưởng cũng là tương đối lớn.

(Tử vi đẩu số tinh hoa tập thành – Nhóm Thiên Hỏa Đồng Nhân biên dịch)

Đăng bởi: Phật Giáo Việt Nam

Chuyên mục: Học tử vi

Xem thêm Chương 3: tử vi đấu sổ thuật ngữ giải thích

Để sử dụng được các phần trước, đầu tiên phải tìm hiểu được một chút danh từ thuật ngữ bên trong tử vi đấu sổ.

Tử vi đấu sổ là tại “Cung” và “Tinh” giữa hai bên tiến hành chơi cờ, thông qua cung và tinh, cung cùng cung và tinh cùng tinh diễn biến, biểu hiện ra quy luật phát triển biến hóa giữa thiên địa nhân. Phía dưới giải thích phần lớn vấn đề “Cung” và “Tinh”

1. Tinh tú: là các sao chứa trong mệnh bàn gọi là tinh thần, tinh diệu hoặc tên gọi tắt là tinh hoặc thần.

2, chính tinh, phụ tinh: Sao chủ đạo sự phát triển xu thế của vận mệnh xưng là chính tinh, chỉ tử vi, thiên cơ, thái dương, vũ khúc, thiên đồng, liêm trinh, Thiên phủ, thái âm, tham lang, cự môn, thiên tướng, thiên lương, thất sát, phá quân các loại, tổng mười bốn khỏa. Mệnh không chính tinh, tức mệnh cung bên trong không có mười bốn khỏa chính tinh. Phụ trợ chính tinh phát huy tác dụng cùng phát triển biến hóa mà khởi lên đại tác dụng của sao gọi là trợ tinh diệu, chỉ Tả Phụ, hữu bật, thiên khôi, thiên việt, Văn Xương, văn khúc, lộc tồn, thiên mã, kình dương, đà la, hoả tinh, linh sao, thiên không, kiếp, hóa lộc, hóa quyền, hóa khoa, hóa kị mười tám khỏa tinh diệu. Trên đây chính tinh cùng phụ tinh đều thuộc về sao Giáp cấp, tổng ba mươi hai khỏa.

3, phó tinh, tạp diệu: Chúng ta đem Ất cấp gọi cho các sao phó tinh, đem bính gọi cho các sao là tạp diệu.

4, Cát tinh: Chỉ có lợi cho vận mệnh con người, sao của phúc lộc cát lợi. Bình thường gọi là Tả Phụ, hữu bật, thiên khôi, thiên việt, Văn Xương, văn khúc tổng sáu sao là sáu Cát tinh. Thêm lộc tồn thiên mã gọi là là tám Cát tinh. Chính tinh bên trong t ử vi, Thiên phủ, thái dương, thái âm, thiên tướng, thiên lương, thiên đồng, vũ khúc là chính tông chủ Cát tinh phú quý phúc lộc, chính Cát tinh. Ngoài ra,sao tứ hóa hóa lộc, hóa khoa, hóa quyền cũng là Cát tinh.

5, sát tinh: Sao đối vận mệnh con người có phá hư, ức chế, suy vong, thất lạc, gọi chung là sát tinh. Bình thường gọi Tứ Sát là: Kình dương, đà la, hoả tinh, linh sao. Cộng thêm thiên không,địa kiếp gọi là lục sát tinh.

6, tứ hóa tinh: Chỉ hóa lộc, hóa quyền, hóa khoa, hóa kị bốn sao, lại gọi là tứ hóa diệu. Là chủ tinh biến tốt biến xấu bốn loại kết quả. Tứ hóa tinh mặc dù không phải chính tinh, nhưng tác dụng của chúng rất lớn, nhất là sao hóa kỵ, phá hư tác dụng cũng không thua gì lục sát tinh, thường thường cộng thêm lục sát tinh hợp lại gọi là thất sát tinh

7, lưu tinh; chỉ đại hạn, tiểu hạn, lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật, lưu thời các loại theo tuế nguyệt thời gian biến hóa Mà biến hóa của tinh diệu, những tinh diệu này là có thời hạn, đương thời hữu dụng, quá thời hạn hết hiệu lực. Lưu niên lưu tinh khá nhiều, có lưu niên tương tiền mười hai sao, lưu niên tuế tiền mười hai sao, lưu dương, lưu đà, lưu hỏa, lưu linh, lưu lộc, lưu mã, lưu loan, lưu hỉ, lưu khôi, lưu việt, lưu xương, lưu khúc, lưu niên tứ hóa các loại.

8, tên gọi tắt của tinh diệu: Đấu số tinh diệu đa số là hai từ, như tử vi, thiên cơ các loại, để thuận tiện biên soạn cùng ghi nhớ, dùng một chữ để gọi, như tử vi gọi tắt là tử, thiên cơ gọi tắt là cơ, tham lang gọi tắt là tham hoặc lang, vũ khúc gọi tắt là vũ, văn khúc gọi tắt là khúc, lưu niên kình dương gọi tắt là lưu dương, lưu niên đà la gọi tắt là lưu đà, vân vân. Xin chú ý, trong sách xưa thường thường đem kình dương gọi là hình, đà la gọi là kị, sách này nhất loạt đem kình dương gọi là dương, đem đà la gọi là đà, đem thiên hình gọi là hình, đem hóa kị gọi là kị

9, tinh tình: Tức tinh diệu có tác dụng, ý nghĩa, cát hung, thiện ác.

10, cung viên: Trên mệnh bàn tổng cộng có mười hai ô vuông, mỗi một ô vuông gọi là một cung (lại gọi là cung viên), toàn bộ mệnh bàn tổng cộng có mười hai cung, trong đó phân làm nhân sự mười hai cung cùng địa chi mười hai cung. Nhân sự mười hai cung là chỉ: Mệnh cung, huynh đệ cung, phu thê cung, tử nữ cung, tài bạch cung, tật ách cung, thiên di cung, nô b ộc cung, quan lộc cung, điền trạch cung, phúc đức cung, phụ mẫu cung; mệnh bàn mười hai cung theo mệnh cung (tức thái cực điểm) tại địa chi mười hai cung vị trí biến hóa Mà biến hóa. Địa chi mười hai cung là chỉ: Tý, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi; mười hai địa chi cung vị bất kể thiên bàn cùng nhân bàn đều cố định không thay đổi.

11, bản cung: Chỉ cung chủ sự. Như nhìn huynh đệ chuyện, thì lại lấy huynh đệ cung làm chủ đến xem, cho nên huynh đệ cung chính là ngươi nếu bàn về sự tình của cung. Như hỏi phụ mẫu tình hình, thì lại lấy phụ mẫu cung là cung trọng tâm, vân vân. Mười hai cung đều có thể là cung trọng tâm.

12, đối cung: Chỉ bản cung cung đối diện, chính là địa chi lục xung, tức cung đối xung, như cung tý đối cung là ngọ, cung sửu đối cung là mùi. Đối cung cát hung đối với bản cung ảnh hưởng rất lớn

13, tam hợp cung: Tức địa chi tam hợp cung. Như thân tý thìn, tị dậu sửu, hợi mão mùi, dần ngọ tuất.

Cùng bản cung cách ba vị, thành tam giác đều ba cung tức là tam hợp cung, lại gọi là tam phương.

14, tam phương tứ chính: Chỉ bản cung tam hợp cung là tam phương, bản cung đối xung cung là tứ chính. Tam hợp cung cùng đối xung cung hợp lại gọi chung là tam phương tứ chính. Phân tích tam phương tứ chính để xác định bản cung mạnh yếu cát hung là một khâu trọng yếu trong đẩu số luận mệnh, là đầu mối chính nhân sự mệnh vận phân tích, quan sát tỉ mỉ nơi bắt đầu nhân sự cát hung.

15, tọa, cư, thủ: Đều là ý nghĩa tinh diệu rơi vào cung nào đó. Cát tinh nhập bản cung gọi tọa, hung tinh nhập bản cung gọi cư, nhưng bình thường đều gọi là tọa hoặc thủ.

16, triều và xung: Cát tinh cư đối cung gọi triều, hung tinh cư đối cung gọi xung. Bản cung cùng đối cung gặp thất sát tinh cũng gọi là xung. Bình thường hay gọi sao hóa kỵ tại đối cung là xung.

17: Hội và chiếu: Tinh diệu tại bản cung tam phương gọi là hội, tại đối cung đối lập gọi là chiếu

18, ngộ, gia, phùng, đồng hoặc đồng độ: Đều ý nghĩa chỉ một tinh diệu nào đó cùng một tinh diệu khác đồng cung.

19, phụ cùng giáp: Cát tinh ở riêng hai lân cận cung gọi phụ, hung tinh ở riêng hai lân cận cung gọi giáp. Tại thực tế trong sử dụng, trái phải hai bên lân cận cung gọi giáp cung, cát hung sao nhập hai lân cận cung đều gọi giáp, như nhật nguyệt giáp mệnh, không kiếp giáp mệnh các loại.

20, phù củng: Là ý phù trợ, cát tinh bất luận thủ có thể chiếu, đều có thể gọi là phù củng. Thuận hướng, trước giúp sau là phù, như dần giúp mão, mão giúp mùi, mùi giúp hợi; nghịch hướng, sau giúp trước là củng, như mão giúp dần, hợi giúp mùi, mùi giúp mão.

21, đại hạn: Một đời người có thể phân một số giai đoạn, thường mười năm là một đơn vị, gọi là đại hạn. Đại hạn là những giai đoạn trọng yếu chìm nổi của một đời người trải, là mười năm cát hung.

22, lưu niên: Tức tình hình vận khí sinh ra về sau của mỗi một năm. Lưu niên hàng năm đều đang biến hóa.

23, Thiên La Địa Võng: Chỉ trên mệnh bàn thìn tuất hai cung, là ý nghĩa chói trặt lại. Thìn là thiên la, tuất là địa võng.

24, bốn ác diệu: Chỉ sát, phá, liêm, tham. Chủ yếu nguyên nhân vì chúng nó dễ dàng hướng xấu phương diện phát triển, một khi thất thủ, ngộ hung thần thì bộc lộ bộ mặt hung ác. Nhưng vào miếu hội cát cũng có tác dụng tốt đẹp, lớn nhất sáng tạo kình cùng hoành phát cơ ngộ

25, sát phá lang: Chỉ thất sát, phá quân, tham lang ba sao, tại trong mệnh bàn, bọn chúng vĩnh viễn thành hội Tam Hợp chiếu. Hạn năm gặp sát phá lang, nhiều chủ biến đổi khai sáng, biến tốt hay là trở nên xấu thì nhìn chủ sao là miếu vượng hay là thất hãm, cùng cát nhiều hay cát it.

26, miếu: Tinh diệu ở vào lúc sáng nhất. Bất kỳ tinh diệu nào nhập miều, đều có thể phát huy đầy đủ tác dụng tốt đẹp, gặp cát tinh càng thêm cát, gặp hung tinh thì không hung, thêm sát ảnh hưởng cũng không lớn.

27, vượng: Sao độ sáng gần với miếu, sức mạnh thuộc trung trở lên, nhiều tính tốt, thêm sát ảnh hưởng cũng không quá lớn.

28, đắc địa: Độ sáng hơi yếu hơn vượng, thuộc bên trong cát, sức mạnh khá là ổn định không dễ đổi biến. Thêm sát sẽ có ảnh hưởng, tại thực tế trong sử dụng, có thể lấy vượng đến đối đãi.

29, lợi ích: Độ sáng so với đắc địa là yếu, vẫn thuộc tiểu cát, vẫn có lợi chủ sao phát huy, hung tinh nên tĩnh không nên động. Ngộ cát gia tăng độ sáng, nhưng không có khả năng đạt tới miếu vượng trình độ, ngộ sát ảnh hưởng khá lớn.

30, bình hòa: Tinh diệu đã hầu như bất lực, hung cát đều bất lợi phát huy, nhiều hiện lên hung tác dụng, dễ bị tinh diệu khác ảnh hưởng, ngộ cát còn có thể không có trở ngại, ngộ sát thì hung. Tại sử dụng trong thực tế, có thể làm thất hãm đối đãi.

31, hãm lạc: Sao độ sáng hoàn toàn không có, sức mạnh hoàn toàn không có, ở vào cục diện bị động, khuyết điểm hoàn toàn bại lộ. Nhân sự vận thế ở vào sa sút u ám thời kì, cát tinh bất cát, hung tinh càng hung. Ngộ cát cũng khó đỡ lên, ngộ sát càng hung

32, nhàn cung: Là nhàn rỗi, tác dụng không lớn ý nghĩa. Sức mạnh ở vào trung tính, tác dụng hiển hiện không ra.

33, tứ mã chi địa: Lại gọi tứ sinh chi địa, tức dần thân tị hợi bốn cung. Mệnh nhập chủ vất vả, rời xa nơi chôn rau cắt rốn, dễ bị người chế trụ, tự tìm phiền não.

34, tứ khố chi địa: Lại gọi tứ mộ, tức thìn tuất sửu mùi bốn cung. Mệnh nhập chủ hình, cô độc, hình khắc lục thân, vất tổ ly tông, bề ngoài bình tĩnh, bên trong nhiều dao động.

35, tứ bại địa: Tức tử ngọ mão dậu bốn cung, là hoa đào chi địa. Mệnh nhập, khá phong lưu háo sắc, nhân duyên tốt, tình cảm phức tạp, nguyên nhân phúc đức cung tất tại tứ mã cung, cho nên nhiều phiêu đãng.

36, nam nữ âm dương: Năm sinh dương nam nhân gọi là dương nam, năm sinh dương nữ nhân gọi là dương nữ, năm sinh âm nam nhân gọi là âm nam, năm sinh âm nữ nhân gọi là Âm nữ.

37, cách cục: Chính là quần tinh tổ hợp tại cùng một chỗ hình thành một quần thể kết cấu, bố cục ý nghĩa. Tử vi đấu sổ cách cục ngoài bản cung hoặc cùng tam phương tứ chính cung hoặc tả hữu giáp cung của tinh diệu ở giữa phối hợp mà thành một số quy định, hợp cách tổ hợp thể, bố cục, phân làm cát cách cùng hung cách, là ti ền nhân thực tiễn kinh nghiệm kết tinh, đối cát hung phán đoán rất là có ý nghĩa quan trọng.

38, cục tượng: Chính là tinh diệu quần thể bố thành cục thể kết cấu biểu hiện ra tới hình tượng, tượng ý, tình hình. Trong đẩu số cục tượng, là biểu hiện cát hung họa phúc hình tượng, tượng ý, xu thế.

39, sao âm dương: Tinh diệu đều có âm dương thuộc tính, dương tinh khá hoạt bát, mặt ngoài tính mạnh, mạnh mẽ năng động; âm tinh không quá hoạt bát, so khá âm nhu thiếu động.

40, địa chi lục hợp: Tức trong mệnh bàn mười hai địa chi lục hợp cung, có chứa ám hợp tác dụng (tác dụng ngầm), biểu quan hệ giữa hai cái mật thiết tương quan (cả hai ứng phân ra chủ khách, bản cung làm chủ, đến hợp bản cung là khách; hai cái quan h ệ tốt xấu liền khán khách cung tốt xấu, khách cung tốt biểu thị đối phương tốt với ta, thì cả hai quan hệ tốt, khách cung xấu thì cả hai quan hệ không tốt). Ví dụ như mệnh cung cùng cung phụ mẫu lục hợp, biểu thị ta cùng quan hệ với phụ thân quan hệ mật thiết, mệnh cung là ta làm chủ, cung phụ mẫu là khách, cung phụ mẫu tốt thì quan hệ tốt, cung phụ mẫu xấu thì quan hệ không tốt; lại như phúc đức cung cùng huynh đệ cung lục hợp, ta tập tính yêu thích cùng mẫu thân, huynh đệ quan hệ mật thiết, phúc đức cung là ta làm chủ, huynh đệ cung là khách, huynh đệ cung tốt thì đối với hưởng thụ của ta có trợ giúp, huynh đệ cung không tốt thì đối ta hưởng thụ bất lực.

41, đối tinh: Đối tinh chính là ghép thành đôi, thành song thành đôi ý nghĩa. Trong tử vi đẩu số đem tác dụng gần giống hoặc âm dương hỗ trợ lẫn nhau hai tinh diệu tạo thành cặp đôi sao, trong tử vi đẩu số đại đa số tinh diệu đều là ghép thành đôi xuất hiện. Ví dụ phủ tướng, nhật nguyệt tả hữu xương khúc, khôi việt, lộc mã, dương đà, hỏa linh, không kiếp, thương sử, hình diêu, tam thai bát tọa, khốc hư, long phượng, thai phụ phong cáo, hồng hỉ các loại đều là đối tinh. Đối tinh đồng cung hoặc đồng thời xuất hiện tại bản cung tam phương tứ chính cung lúc, sức mạnh khá lớn; trái lại ít thấy đơn tinh thì sức mạnh nhỏ bé, có khi thậm chí còn đưa đến tác dụng không tốt, ví dụ sáu cát tinh của đơn tinh thủ tại lục thân cung trái lại có tác dụng không tốt.

42, thể cùng dụng: Thể, chính là thân thể, bản thể, thân thể (trừ đầu và tứ chi), chủ thể, căn cơ ý nghĩa. Dụng, liền là hoạt động, phát triển, phụ thuộc, cành lá ý nghĩa. Không có có thân thể, liền không khả năng có hoạt động, cho nên thể dụng quan hệ là: Trước có thể, sau đó mới có dụng; thể chỉ huy dụng, dụng phụ thuộc tại thể; thể là tĩnh tượng, dụng là động tượng. Thân thể tốt, năng lực hoạt động mới mạnh; thân thể kém, năng lực hoạt động liền yếu. Tại trong tử vi đẩu số, bản mệnh bàn là thể, là tĩnh, là đại cục, là đại tượng, là đại thế, là chỉnh thể; hạn vận là dụng, là động, là tiểu cục, là Tiểu Tượng, là tiểu thế, là cụ thể; mệnh cung là thể là bên trong, còn lại mười một cung là dụng là bên ngoài; chủ tinh là thể, trợ tinh, phó tinh, tứ hóa là dụng. Đại tượng cát, như trụ cột vững vàng, trải qua sóng gió, đại tượng hung như cỏ non trong gió, gió lớn thổi một cái thì nhổ cả rể lên. Đoán mệnh lấy thể làm chủ, nhìn xuống số, đại thể, xu thế, chỉ ra điềm báo, lấy dụng làm phụ, đoán biến hóa, ứng sổ, cụ thể, kỹ càng. Tại cung viên bên trong, lấy chính tinh chủ tinh là thể, làm nhân sự chủ thể, đại thể, thân cây, bối cảnh; lấy phó tinh tiểu tinh làm phụ, làm nhân sự cụ thể, cành lá, tiền cảnh. Tại cung cùng tinh bên trong, cung là thể, là căn cứ địa; tinh diệu là dụng, là hồn phách.

43, thuận hành cùng nghịch hành: Cùng kim đồng hồ phương hướng vận hành nhất trí, gọi là thuận phương hướng kim đồng hồ. Tại bên trong mười hai cung, theo thuận phương hướng kim đồng hồ mỗi cung địa đếm tiếp đi gọi là thuận hành. Cùng kim đồng hồ phương hướng vận hành ngược lại, gọi là nghịch phương hướng kim đồng hồ. Tại bên trong mười hai cung, theo nghịch phương hướng kim đồng hồ mỗi cung địa đếm tiếp đi gọi là nghịch hành.

44, không tinh: Bao gồm thiên không, tiệt không, tuần không ba sao.

45, hạn năm: Trong sách thường xuất hiện có “Hạn năm” hai chữ, là đại hạn cùng lưu niên gọi tắt.

Trong đó hạn chỉ đại hạn, gọi tắt là là “Hạn” ; năm chỉ lưu niên, gọi tắt là là “Năm”.

46, cường cung, nhược cung: Cường cung là đối với bản nhân vận mệnh ảnh hưởng khá lớn cung độ; nhược cung là đối với bản nhân vận mệnh ảnh hưởng khá nhỏ cung độ. Nam mệnh lấy mệnh, thân, tài, quan, phúc, điền, thiên (thiên di) các loại cung là cường cung, còn lại huynh, phụ,, tật, nô, phụ các loại cung là nhược cung. Nữ mệnh lấy mệnh, thân, phu, tử, tài, điền, phúc các loại cung là cường cung, còn lại huynh, tật, thiên (thiên di), nô, quan, phụ các loại cung là nhược cung. Ở đây cường cung nhược cung chỉ là so ra mà nói, trên thực tế có đôi khi nhược cung đối vận mệnh ảnh hưởng cũng là tương đối lớn.

(Tử vi đẩu số tinh hoa tập thành – Nhóm Thiên Hỏa Đồng Nhân biên dịch)

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button