Tử vi

Chương 34: Luận Số Tiểu Nhi

I. Tính Giờ Sinh

Lúc trẻ mới lọt lòng, phải tính giờ sinh thật cẩn thận để xem trẻ dễ nuôi hay khó nuôi.

 

Bạn đang xem: Chương 34: Luận Số Tiểu Nhi

(1) Giờ Kim Xà Thiết Tỏa

Trẻ hay đau yếu và rất khó nuôi. Trẻ sinh phạm giờ Kim Xà Thiết Tỏa rất khó nuôi, phải

qua 12 tuổi mới chắc chắn là sống. Còn trẻ sinh bàng giờ, tuy hay ốm đau, nhưng vẫn có thể nuôi

được. Trên bản đồ 12 cung, bắt đầu từ cung Tuất kể là năm Tý, đếm theo chiều thuận đến năm sinh.

Ngừng lại cung nào lại bắt đầu từ cung đó kể là tháng Giêng, đếm theo chiều thuận đến tháng sinh.

Ngừng lại cung nào lại bắt đầu từ cung đó kể là mồng một, đếm theo chiều thuận đến ngày sinh.

Ngừng lại cung nào lại bắt đầu từ cung đó kể là giờ Tý, đếm theo chiều nghịch đến giờ sinh.

– Con trai: nếu giờ sinh đúng vào cung Thìn hay cung Tuất là phạm vào giờ Kim Xà Thiết Tỏa, nếu đúng vào cung Sửu hay cung Mùi là bàng giờ.

– Con gái: nếu giờ sinh đúng vào cung Sửu hay cung Mùi là phạm vào giờ Kim Xà Thiết Tỏa, nếu đúng vào cung Thìn hay cung Tuất là bàng giờ.

 

(2) Giờ Quan Sát

Trẻ hay đau yếu, nếu không cũng mắc tai nạn rất đáng lo ngại. Trẻ sinh phạm giờ Quan sát, nếu qua khỏi được mọi bệnh nạn, sau lớn lên rất gan góc và ngang tàng. Muốn tính giờ Quan Sát coi bảng dưới đây:

Tháng Sinh Giờ Quan Sát
1 Tỵ
2 Ngọ
3 Mùi
4 Thân
5 Dậu
6 Tuất
7 Hợi
8
9 Sửu
10 Dần
11 Mão
12 Thìn

Thí dụ: trẻ sinh vào tháng tư giờ Thân là phạm giờ Quan Sát.

 

(3) Giờ Tướng Quân

Trẻ hay đau ốm nhất là hay mắc bệnh sài, khóc rất lớn và rất lâu, nhưng cũng không đáng lo ngại. Muốn tính giờ Tướng Quân, coi bảng dưới đây:

Mùa Sinh Giờ Tướng Quân
Xuân Thìn – Tuất – Dậu
Hạ Tý – Mão – Mùi
Thu Dần – Ngọ – Sửu
Đông Thân – Tỵ – Hợi

Thí dụ: Trẻ sinh vào tháng hai thuộc mùa Xuân, vào giờ Thìn là phạm giờ Tướng Quân.

 

(4) Giờ Diêm Vương

Trẻ hay hoảng sợ, giật mình, trợn mắt, lè lưỡi. Muốn tính giờ Diêm Vương, coi bảng dưới đây:

Mùa Sinh Giờ Diêm Vương
Xuân Sửu – Mùi
Hạ Thìn – Tuất
Thu Tý – Ngọ
Đông Mão – Dậu

Thí dụ: Trẻ sinh vào tháng năm thuộc mùa Hạ, vào giờ Thìn là phạm giờ Diêm Vương.

 

(5) Giờ Dạ Đề

Trẻ hay khóc về ban đêm. Muốn tính giờ Dạ Đề, coi bảng dưới đây:

Mùa Sinh Giờ Dạ Đề
Xuân Ngọ
Hạ Dậu
Thu
Đông Mão

Thí dụ: Trẻ sinh vào tháng bảy thuộc mùa Thu, vào giờ Tý là phạm giờ Dạ Đề.

 

II. Nhận Xét Cung Mệnh Và Cung Phúc Đức

Sau khi tính giờ sinh, nên nhận xét cung Mệnh và cung Phúc Đức để biết qua những sự khó dễ trong khi nuôi nấng.

Cung Mệnh và cung Phức Đức có nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nên trẻ mập mạp, hay ăn, chóng lớn, dù có phạm một trong những giờ kể trên cũng đỡ lo ngại Trái lại cung Mệnh và cung Phúc Đức có nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, tất trẻ gầy còm, hay quặt quẹo. Nếu chẳng may, trẻ lại sinh phạm một trong những giờ kể trên, thật là nguy nan vô cùng, đáng lo ngại nhất là phạm giờ Kim Xà Thiết Tỏa hay giờ Quan Sát.

 

III. Định Hạn

Muốn định hạn trẻ con (đồng hạng) coi bảng dưới đây:

Tuổi Cung
1 Mệnh
2 Tài Bạch
3 Tật Ách
4 Phu Thê
5 Phúc Đức
6 Quan Lộc
7 Nô Bộc
8 Thiên Di
9 Tử Tức
10 Huynh Đệ
11 Phụ Mẫu
12 Điền Trạch

Trẻ một tuổi, hạn đến cung Mệnh, hai tuổi hạn đến cung Tài Bạch, ba tuổi hạn đến cung Tật Ách: bốn tuổi hạn đến cung Thê Thiếp… đoạn cũng phải khỏi từ đó, định hạn lưu nguyệt, lưu nhật theo phương pháp đã trình bày ở phần Lập thành. Khi trẻ đã 13 tuổi, phải định hạn theo như người lớn (đại hạn mười năm, lưu đại hạn một năm, lưu niên tiểu hạn một năm).

Luận đoán hạn của trẻ con đòi hỏi một sự phối hợp, ảnh hưởng các sao, cùng một lúc với sự cân nhắc và chế hóa thật cẩn thận, thật tinh vi. Đôi khi xem hạn của trẻ, thấy có sự vui mừng, hay phát tài, thăng quan tiến chức, phải đoán rộng là những sự đó thuộc về cha mẹ. Những sự không may như tang thương, mất của cũng thế, trẻ còn thơ ngây chưa biết gì, vậy chính cha mẹ phải gánh chịu lấy những sự đó.

 

IV. Tổng Luận

Xem số tiểu nhi là một việc rất khó khăn, không thể quyết đoán ngay được, vì từ lúc lọt lòng mẹ cho đến năm 12 tuổi, trẻ còn non nớt, cơ thể chưa phát triển đầy đủ nên chưa chịu ảnh hưởng của các tinh tú một cách mật thiết

Có đứa trẻ tốt số, sinh không phạm giờ ác độc, nhưng lại chết trước năm 12 tuổi. Hay trái tại, có đứa trẻ xấu số sinh phạm giờ ác độc, nhưng lại sống được qua năm 12 tuổi. Thật là trái ngược và lạ lùng. Vậy cho nên, tốt hơn hết, khi xem số tiểu nhi, phải chờ qua 12 tuổi mới nên quyết đoán thọ yểu. Trẻ con dưới 12 tuổi phải được giữ gìn rất cẩn thận.

(Dẫn theo trang www.huyenhocvadoisong.com)

Đăng bởi: Phật Giáo Việt Nam

Chuyên mục: Học tử vi

Xem thêm Chương 34: Luận Số Tiểu Nhi

I. Tính Giờ Sinh

Lúc trẻ mới lọt lòng, phải tính giờ sinh thật cẩn thận để xem trẻ dễ nuôi hay khó nuôi.

 

(1) Giờ Kim Xà Thiết Tỏa

Trẻ hay đau yếu và rất khó nuôi. Trẻ sinh phạm giờ Kim Xà Thiết Tỏa rất khó nuôi, phải

qua 12 tuổi mới chắc chắn là sống. Còn trẻ sinh bàng giờ, tuy hay ốm đau, nhưng vẫn có thể nuôi

được. Trên bản đồ 12 cung, bắt đầu từ cung Tuất kể là năm Tý, đếm theo chiều thuận đến năm sinh.

Ngừng lại cung nào lại bắt đầu từ cung đó kể là tháng Giêng, đếm theo chiều thuận đến tháng sinh.

Ngừng lại cung nào lại bắt đầu từ cung đó kể là mồng một, đếm theo chiều thuận đến ngày sinh.

Ngừng lại cung nào lại bắt đầu từ cung đó kể là giờ Tý, đếm theo chiều nghịch đến giờ sinh.

– Con trai: nếu giờ sinh đúng vào cung Thìn hay cung Tuất là phạm vào giờ Kim Xà Thiết Tỏa, nếu đúng vào cung Sửu hay cung Mùi là bàng giờ.

– Con gái: nếu giờ sinh đúng vào cung Sửu hay cung Mùi là phạm vào giờ Kim Xà Thiết Tỏa, nếu đúng vào cung Thìn hay cung Tuất là bàng giờ.

 

(2) Giờ Quan Sát

Trẻ hay đau yếu, nếu không cũng mắc tai nạn rất đáng lo ngại. Trẻ sinh phạm giờ Quan sát, nếu qua khỏi được mọi bệnh nạn, sau lớn lên rất gan góc và ngang tàng. Muốn tính giờ Quan Sát coi bảng dưới đây:

Tháng Sinh Giờ Quan Sát
1 Tỵ
2 Ngọ
3 Mùi
4 Thân
5 Dậu
6 Tuất
7 Hợi
8
9 Sửu
10 Dần
11 Mão
12 Thìn

Thí dụ: trẻ sinh vào tháng tư giờ Thân là phạm giờ Quan Sát.

 

(3) Giờ Tướng Quân

Trẻ hay đau ốm nhất là hay mắc bệnh sài, khóc rất lớn và rất lâu, nhưng cũng không đáng lo ngại. Muốn tính giờ Tướng Quân, coi bảng dưới đây:

Mùa Sinh Giờ Tướng Quân
Xuân Thìn – Tuất – Dậu
Hạ Tý – Mão – Mùi
Thu Dần – Ngọ – Sửu
Đông Thân – Tỵ – Hợi

Thí dụ: Trẻ sinh vào tháng hai thuộc mùa Xuân, vào giờ Thìn là phạm giờ Tướng Quân.

 

(4) Giờ Diêm Vương

Trẻ hay hoảng sợ, giật mình, trợn mắt, lè lưỡi. Muốn tính giờ Diêm Vương, coi bảng dưới đây:

Mùa Sinh Giờ Diêm Vương
Xuân Sửu – Mùi
Hạ Thìn – Tuất
Thu Tý – Ngọ
Đông Mão – Dậu

Thí dụ: Trẻ sinh vào tháng năm thuộc mùa Hạ, vào giờ Thìn là phạm giờ Diêm Vương.

 

(5) Giờ Dạ Đề

Trẻ hay khóc về ban đêm. Muốn tính giờ Dạ Đề, coi bảng dưới đây:

Mùa Sinh Giờ Dạ Đề
Xuân Ngọ
Hạ Dậu
Thu
Đông Mão

Thí dụ: Trẻ sinh vào tháng bảy thuộc mùa Thu, vào giờ Tý là phạm giờ Dạ Đề.

 

II. Nhận Xét Cung Mệnh Và Cung Phúc Đức

Sau khi tính giờ sinh, nên nhận xét cung Mệnh và cung Phúc Đức để biết qua những sự khó dễ trong khi nuôi nấng.

Cung Mệnh và cung Phức Đức có nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nên trẻ mập mạp, hay ăn, chóng lớn, dù có phạm một trong những giờ kể trên cũng đỡ lo ngại Trái lại cung Mệnh và cung Phúc Đức có nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, tất trẻ gầy còm, hay quặt quẹo. Nếu chẳng may, trẻ lại sinh phạm một trong những giờ kể trên, thật là nguy nan vô cùng, đáng lo ngại nhất là phạm giờ Kim Xà Thiết Tỏa hay giờ Quan Sát.

 

III. Định Hạn

Muốn định hạn trẻ con (đồng hạng) coi bảng dưới đây:

Tuổi Cung
1 Mệnh
2 Tài Bạch
3 Tật Ách
4 Phu Thê
5 Phúc Đức
6 Quan Lộc
7 Nô Bộc
8 Thiên Di
9 Tử Tức
10 Huynh Đệ
11 Phụ Mẫu
12 Điền Trạch

Trẻ một tuổi, hạn đến cung Mệnh, hai tuổi hạn đến cung Tài Bạch, ba tuổi hạn đến cung Tật Ách: bốn tuổi hạn đến cung Thê Thiếp… đoạn cũng phải khỏi từ đó, định hạn lưu nguyệt, lưu nhật theo phương pháp đã trình bày ở phần Lập thành. Khi trẻ đã 13 tuổi, phải định hạn theo như người lớn (đại hạn mười năm, lưu đại hạn một năm, lưu niên tiểu hạn một năm).

Luận đoán hạn của trẻ con đòi hỏi một sự phối hợp, ảnh hưởng các sao, cùng một lúc với sự cân nhắc và chế hóa thật cẩn thận, thật tinh vi. Đôi khi xem hạn của trẻ, thấy có sự vui mừng, hay phát tài, thăng quan tiến chức, phải đoán rộng là những sự đó thuộc về cha mẹ. Những sự không may như tang thương, mất của cũng thế, trẻ còn thơ ngây chưa biết gì, vậy chính cha mẹ phải gánh chịu lấy những sự đó.

 

IV. Tổng Luận

Xem số tiểu nhi là một việc rất khó khăn, không thể quyết đoán ngay được, vì từ lúc lọt lòng mẹ cho đến năm 12 tuổi, trẻ còn non nớt, cơ thể chưa phát triển đầy đủ nên chưa chịu ảnh hưởng của các tinh tú một cách mật thiết

Có đứa trẻ tốt số, sinh không phạm giờ ác độc, nhưng lại chết trước năm 12 tuổi. Hay trái tại, có đứa trẻ xấu số sinh phạm giờ ác độc, nhưng lại sống được qua năm 12 tuổi. Thật là trái ngược và lạ lùng. Vậy cho nên, tốt hơn hết, khi xem số tiểu nhi, phải chờ qua 12 tuổi mới nên quyết đoán thọ yểu. Trẻ con dưới 12 tuổi phải được giữ gìn rất cẩn thận.

(Dẫn theo trang www.huyenhocvadoisong.com)

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button