Tử vi

Chương 37: Luận Đoán Vận Hạn

I. Phương Pháp Luận Đoán Vận Hạn

(1) Quan Sát

– Gốc đại hạn mười năm

Bạn đang xem: Chương 37: Luận Đoán Vận Hạn

– Lưu đại hạn một năm

– Lưu niên tiểu hạn một năm

– Sự tương sinh, tương khắc giữa

+ Cung nhập hạn và Bản Mệnh.

+ Cung nhập hạn và Chính diệu nhập hạn (nếu có)

+ Chính diệu nhập hạn và Bản Mệnh (nếu có)

– Chính diệu nhập hạn và chính tọa thủ Mệnh thuộc cùng nhóm hay khác nhóm

– Sự tốt xấu của các sao hội hợp nhập hạn

– Đặc biệt chú ý đến Sát tinh và Bại tinh (nếu có)

 

(2) Kết Hợp Nhận Định

– Quan sát vận hạn, nếu thấy có nhiều sự tương sinh là tốt đẹp. Trái lại, nhiều sự tương khắc là xấu xa. Thuận lý: cung nhập hạn sinh Chính diệu nhập hạn, Chính diệu nhập hạn lại sinh Bản Mệnh.

– Tại cung nhập hạn, trong số những sao hội hợp nếu quá nửa tốt đẹp được coi ở hạn tốt. Trái lại nếu quá nửa xấu xa, phải coi là hạn xấu.

– Nhận xét vị trí và ảnh hưởng tốt xấu của những sao lưu động, đặc biệt chú ý lưu Thái Tuế.

– Cân nhắc sự tốt xấu của đại hạn mười năm, lưu đại hạn một năm, lưu niên tiểu hạn một năm và ảnh hưởng của những sao lưu động.

– Vận hạn ở cung nào phải đặc biệt chú ý đến những sự hay dở và những việc xảy ra trong phạm vi cung đó.

Thí dụ: Vận hạn ở cung Quan Lộc, tất trong khoảng mười năm hay một năm (tùy theo đại hạn mười năm hay lưu niên tiểu hạn một năm) thường có nhiều việc xảy đến, liên quan tới công danh sự nghiệp.

– Kết hợp tính chất của những sao hội hợp nhập hạn để luận đoán những sự may mắn, tốt lành hay không tai ương họa hại. Muốn rộng đường luận đoán, đồng thời đi sâu vào chi tiết của vận hạn, nên hỏi: “Thức ăn, thức uống, vật dụng và cơ thể, biểu tượng bằng các sao”. Sự kết hợp này chỉ nên áp dụng triệt để và đặc biệt trong lưu niên tiểu hạn.

– Luận đoán rất cẩn thận, trước hết là cung Phúc Đức sau đến Mệnh, Thân, để cân nhắc họa phúc. Sự tốt xấu của ba cung này thưởng làm tăng hay giảm những sự đáng mừng hay đáng lo trong vận hạn.

 

II. Nhận Định Về Hạn

(1) Liên Hệ Giữa Đại Hạn Và Tiểu Hạn

Trong khoảng đại hạn mười năm tốt đẹp, xem tiểu hạn một năm xấu cũng không đáng lo ngại vì ảnh hưởng cứu giải của đại hạn đã giải trừ được một phần lớn những tai ương họa hại của tiểu hạn.

Trái lại, trong khoảng đại hạn mười năm xấu xa, xem tiểu hạn một năm tốt thì tất nhiên sự tốt đẹp cũng bị giảm bớt.

 

(2) Liên Hệ Giữa Tiểu Hạn Và Lưu Nguyện Hạn

– Hạn một năm tốt đẹp nhưng trong năm đó hạn một tháng lại xấu cũng không đáng lo ngại.

– Trái lại hạn một năm xấu xa nhưng trong năm đó hạn một tháng lại tốt thì tất nhiên sự tốt đẹp cũng bị giảm bớt.

 

(3) Liên Hệ Giữa Bản Mệnh Và Cung Nhập Hạn ( Tiểu Hạn Một Năm )

– Kim Mệnh: hạn đến cung Tý, thuộc quẻ Khảm (thuộc Thủy) Kim sinh Thủy, ví như vàng chảy ra nước nên Bản Mệnh bị hao tổn, bởi vậy thường mắc tai ương, rất đáng lo ngại.

– Mộc Mệnh: hạn đến cung Ngọ, thuộc quẻ Ly (thuộc Hỏa) Mộc sinh Нỏa, ví như củi gỗ nhóm lửa sau tán thành tro than nên Bản Mệnh tuy sáng sủa rực rỡ, nhưng chẳng được lâu bền, bởi vậy rất khó tránh những tai ương họa hại.

– Thủy Mệnh: hạn đến cung Dần, thuộc quẻ Cấn (thuộc Mộc) Thủy dưỡng Mộc, ví như nước tưới tắm cho cây cỏ, về sau bị khô сạn nên Bản Mệnh lâm vào chỗ bế tắc, bởi vậy mọi việc đều bị trắc trở, không được xứng ý toại lòng.

– Hỏa Mệnh: hạn đến cung Dậu, thuộc quẻ Đoài (thuộc Kim) Hỏa khắc Kim, ví như lửa

nung vàng nóng chảy nên Bàn Mệnh bị nguy khốn, bởi vậy khó mà tránh thoát được những tai ương

khủng khiếp.

– Thổ Mệnh: hạn đến cung Mão, thuộc quẻ Chấn (thuộc Mộc) Thổ khắc Mộc, vả lại Chấn là biểu tượng của sấm sét điện lửa nên Bản Mệnh đã suy nhược lại bị hoại thương, bởi vậy thường hay mắc bệnh điên cuồng hay bệnh khí huyết rất nguy hiểm.

Những trường hợp trên đây, nếu gặp Tuần, Triệt án ngữ, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành.

 

(4) Liên Hệ Giữa Mệnh, Thân Và Hạn

A – Đại Cương

Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng hạn tốt. Mệnh tốt chỉ được xứng ý toại lòng lúc còn trẻ tuổi. Đến lúc đứng tuổi về hậu vận lại cần phải có Thân tốt mới khá giả. Nhưng Mệnh, Thân tốt cũng không bằng Hạn tốt. Nếu Mệnh, Thân mờ ám, nhưng hạn rực rỡ cũng vẫn phát đạt ví như lúa non gặp mưa thuận, gió hòa. Mệnh tốt, Thân tốt, Hạn cũng tốt tất được hưởng giàu sang sung sướng từ lúc cất tiếng khóc chào đời cho đến khi nhắm mắt trở về với cát bụi. Mệnh, Thân thật rực rỡ, nhưng chẳng may gặp Hạn suy kém cũng đỡ lo ngại, vì Mệnh Thân đây có thể giải trừ khá nhiều sự chẳng lành. Đáng lo buồn nhất là Mệnh xấu, Thân xấu, Hạn cũng xấu. Thật là một đời cùng khốn, nếu chết non là may mắn, còn sống ngày nào tất phải điêu đứng ngày đó.

– Mệnh có Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đổng, Lương sáng sủa tốt đẹp. Hạn lại phải gặp những sao cũng thuộc nhóm đó và cũng phải sáng sủa tốt đẹp mới được hiển hách, mới được xứng ý toại lòng.

– Mệnh có Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh sáng sủa tốt đẹp. Hạn phải gặp những sao cũng thuộc nhóm đó và cũng phải sáng sủa tốt đẹp thì mọi sự mới được hành thông và danh tài hưng vượng. (nên chú ý rằng Sát tinh hay Bại tinh thường phủ tá cho Sát, Phá, Liêm, Tham). Trong trường hợp này nếu Hạn gặp Sát, Phá, Liêm, Tham mờ ám xấu xa nhưng lại được Sát tinh hay Bại tinh sáng sủa tốt đẹp hội hợp cũng không đáng lo ngại.

– Mệnh, Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa tốt đẹp. Hạn gặp Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh cùng sáng sủa tốt đẹp, tất trong cái may có chứa đựng nhiều cái rủi, tuy khá giả nhưng luôn luôn phải đề phòng mọi tai họa bất kỳ (ngoại trừ tuổi Kỷ) nhưng nếu Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh nhập Hạn lại mờ ám xấu xa, tất không thể tránh được tai ương họa hại và hay phải lo nghĩ buồn phiền.

– Mệnh có Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh sáng sủa tốt đẹp. Hạn gặp Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương cũng sáng sủa tốt đẹp, tuy khá giả nhưng vẫn chưa được toại nguyện. Nếu Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương nhập Hạn lại mờ ám xấu xa tất mọi sự đều bế tắc, thành ít bại nhiều.

– Mệnh có Vũ, Tướng sáng sủa tốt đẹp, Hạn lại gặp Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hay gặp Sát, Phá, Liêm, Tham, hay gặp Sát tinh, Bại tinh nhưng tất cả đều sáng sủa tốt đẹp cũng vẫn phát đạt tài quan song mỹ. Trong trường hợp này nếu những sao nhập Hạn kể trên lại mờ ám xấu xa cũng không đáng lo ngại lắm.

– Mệnh có Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hay Sát, Phá, Liêm, Tham, hay Sát tinh, Bại tinh tất cả đều sáng sủa tốt đẹp. Hạn gặp Vũ, Tướng cũng sáng sủa tốt đẹp tất danh tài hoạnh phát, gặp nhiều sự may mắn. Cũng trong trường hợp này nếu Vũ, Tướng nhập Hạn lại mờ ám xấu xa tất danh tài bị chiết giảm đôi chút nhưng cũng không đáng lo ngại lắm.

– Mệnh vô Chính diệu cần gặp Sát, Phá, Liêm, Tham hay Sát tinh, Bại tinh sáng sủa tốt đẹp nhập Hạn hơn là Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa tốt đẹp nhập Hạn. Mệnh vô Chính diệu có Hạn gặp Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh dù tốt đẹp hay xấu xa thì mưu sự bao giờ cũng trước khó sau dễ, có vượt được trở ngại ban đầu về sau mới khá giả. Trong trường hợp này, nếu những sao kể trên nhập Hạn lại sáng sủa tốt đẹp, chắc chắn là danh tài hoạnh phát mọi sự đều hành thông. Nhưng nếu trái lại, những sao kể trên nhập Hạn lại mờ ám xấu xa, tuy vẫn khá giả nhưng thường may ít rủi nhiều và hay phải lo lắng buồn phiền.

– Mệnh vô Chính diệu, cung nhập Hạn cũng vô Chính diệu tất mọi sự đều dở dang bế tắc, không được xứng ý toại lòng vì thành ít bại nhiều. Trong trường hợp này nếu cung nhập hạn vô Chính diệu lại gặp Tuần, Triệt án ngữ tất mọi sự hành thông danh tài hưng vượng.

– Mệnh rất mờ ám xấu xa, nhưng nếu cung nhập Hạn lại là cung Mệnh, cũng không đáng lo ngại (ngoại trừ trường hợp Không, Kiếp thủ Mệnh).

 

B – Tiểu Luận

– Mệnh có Tử, Phủ, Vũ, Tướng hội hợp. Hạn gặp La, Tử, Tuyệt, Cự, Đồng hội hợp và có nhiều Sát tinh xâm phạm tất phái bỏ mình nơi trận mạc, như Quan Vân Trường đời Tam Quốc.

– Tuổi Giáp, Kỷ, Mệnh có Tử, Phủ, Vũ, Tướng hội hợp. Hạn gặp Hồng, Xương, Tấu, Kình hội hợp, nên mọi sự đều hành thông, tài lộc được tăng tiến.

– Tuổi Kỷ, Mệnh có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hội hợp. Hạn gặp Sốt, Phá, Liêm, Tham hội hợp cùng với Tả, Hữu nên công danh sớm phát đạt.

– Tuổi Ất, Tân. Mệnh có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hội hợp và có Hư, Kình, Tuế, Khách xâm phạm. Hạn lại gặp những sao kể trên nên hoạnh đạt về võ nghiệp.

– Thân, Sát, Phá, Liêm, Tham hội hợp. Hạn gặp Võng, Hình, Khôi hội hợp và Kỵ Đà xâm phạm tất bị ám sát như Trương Dực Đức đời Tam Quốc.

– Cung Mệnh an tại Sửu, Mùi có Tử, Phủ tọa thủ đồng cung. Hạn đến cung Thổ có Tả Hữu hội hợp, nên xứng ý toại lòng vì tài quan song mỹ. Trong trường hợp này nếu Thân lại có Hồng, Lộc, Khoa hội hợp chắc chắn là mọi sự đều hành thông tốt đẹp ví như rồng mây gặp hội vậy.

– Mệnh an tại Ngọ, có Nhật tọa thủ. Hạn gặp Hình, Tang, Hổ, Khốc hội hợp nên phát đạt khá giả.

– Mệnh аn tại Ngọ có Tử Vi tọa thủ, hội hợp Khoa, Quyền. Lộc, Hình, Ẩn, Xương, Khôi, Hồng, Bật nên vẻ mặt đẹp đẽ, dáng đi hùng dũng nhưng Hạn gặp Cự, Sát, Đà, Linh hội hợp tất phải chết vì uất hận như Chu Du đời Tam Quốc.

– Mệnh an tại Tý, có Tử Vi tọa thủ khó cứu giải được tai họa. Hạn đến cung Thìn, Tuất gặp nhiều Sát tinh hội hợp tất không thế tránh được tù tội.

– Mệnh an tại Dần, Thần, có Cự, Nhật tọa thủ đồng cung. Hạn gặp Kiếp Sát, Hình, Kiếp, Kỵ hội hợp phải đề phòng bệnh tim phổi, nếu gặp thêm Mã, tất phải mang thương tích ở chân tay.

– Mệnh có Cự hay Kỵ tọa thủ. Hạn gặp Tuế, Đà, Phủ hội hợp, tất hay mắc kiện tụng hay tranh chấp thị phi.

– Thân an tại Dần có Cơ, Nguyệt tọa thủ đồng cung. Hạn gặp Liêm, Hổ, Linh, Riêu hội hợp tất khó nuôi con, đàn bà có mang tất bị trụy thai. Nếu lại gặp thêm Kiếp, Hình hội hợp, thật khó tránh được ngục tù, đàn ông gặp Hạn này rất đáng lo ngại. Đây chỉ có Khoa, Phượng nhập Hạn đồng cung mới có thể cứu giải được.

– Mệnh an tại Hợi, có Nguyệt tọa thủ. Hạn gặp Quyền, Kỵ, Khúc, Xương hội hợp, nên rất khá giả.

– Mệnh có Nguyệt tọa thủ, hội hợp Hồng, Kình, Riêu, Kỵ. Hạn gặp Xương, Vũ hội hợp, nên xuân tình phát động, trai hay gái gặp hạn này đều khó kiềm lòng trước sự cám dỗ của sắc dục.

– Mệnh an tại Mão có Thiên Tướng tọa thủ, hội hợp Sinh, Vượng, Hồng, Đào, Tả, Hữu, Quyền Xương là người vũ dũng, mặt đẹp như hoa nhưng Hạn gặp Phá, Kiếp, Kình, Đà hội hợp tất phải lẩn quẩn trong vòng tình ái và mang lụy vì nữ sắc như Lã Bố vậy.

– Tuổi Mậu, Canh, Âm nữ, Mệnh an tại Thìn hay Tuất có Vũ Khúc hay Tham Lang tọa thủ là người có tài, nhưng không có đức hạnh, thêm Kiếp, Không hội hợp lại càng xấu xa đê tiện. Hạn gặp Kình, Đà hội hợp tất không toàn được tính mạng.

– Mệnh, Thân có Sát tọa thủ. Hạn gặp Kình hay Đà tất hay mắc phải những tai họa khủng khiếp.

– Mệnh có Sát hay Hình, Linh tọa thủ. Hạn gặp Hổ tất khó tránh được tù tội.

– Tuổi Tân, Đinh, Mệnh an tại Dần, Thân có Phá Quân tọa thủ, hội hợp Hỏa, Việt là người giỏi về máy móc. Hạn gặp Mã, Tuyệt hội hợp có nhiều Sát tinh xâm phạm, tất khó tránh được những tai nạn què gãy chân tay.

– Mệnh an tại Tý, Ngọ có Liêm, Tướng tọa thủ đồng cung. Hạn gặp La, Võng, Tham, Linh, Đà hội hợp, tất bị chết chém một cách thê thảm như Hàn Tín đời Đông Hán.

– Tuổi Ất, Kỷ, Âm nam, Mệnh an tại Sửu, Mùi có Liêm, Sát tọa thủ đồng cung là người trí dũng. Hạn gặp Khoa, Sinh hội hợp nên hoạnh phát công danh và tài lộc.

– Mệnh có Tham tọa thủ. Hạn gặp Song Hao tất phải túng thiếu, sa sút của cải.

– Mệnh có Tham tọa thủ. Hạn gặp Lộc nên tiền tài phong túc.

– Mệnh có Không hay Kiếp tọa thủ hay bi Tuần, Triệt án ngữ. Hạn dù có gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp cũng vẫn bị trắc trở buổi đầu.

– Mệnh có Không hay Kiếp tọa thủ. Hạn lại đến Mệnh gặp Không hay Kiếp tất sự nghiệp phải sụp đổ và tính mệnh cũng không thể an toàn được.

– Mệnh có Hỏa hay Linh tọa thủ. Hạn gặp Kiếp, Không, Thương, Sứ hội hợp tất hay gặp tai họa khủng khiếp

– Mệnh có Lộc tọa thủ. Hạn gặp Song Hao tất phải nghèo túng khốn khổ.

– Mệnh có Song Hao tọa thủ. Hạn gặp Lộc nên có nhiều tiền bạc ăn tiêu dư dật.

– Mệnh có Song Hao tọa thủ. Hạn gặp nhiều Sát tinh hội hợp tất bị túng thiếu.

– Mệnh hay Thân có Khôi, Việt tọa thủ, cung nhập Hạn là cung Mệnh hay cung Thân, nên hoạnh phát danh tài và chắc chắn là được lui tới gần bên bậc nguyên thủ.

– Mệnh có Tướng Quân tọa thủ, hội hợp Cái, Đào, Khúc, Mộc là người dâm đãng. Hạn gặp Cơ, Riêu hội hợp nên đêm nằm tràn trọc vì có sự thôi thúc của nhu cầu sinh lý.

– Tuổi Bính, Nhâm, Mệnh an tại Tỵ, Hợi có Tướng, Binh, Ấn hội hợp là người có uy quyền hiển hách. Hạn gặp Phá, Quyền, Lộc hội hợp nên hoạnh phát danh tài.

– Mệnh vô Chính diệu. Hạn gặp Sát, Phá, Tham hội hợp Đào, Hồng, Suy, Tuyệt, tất tính mạng không thể an toàn được. Số Gia Cát Võ Hầu đời Tam Quốc cũng Mệnh vô Chính diệu chẳng may gặp Hạn này nên phải về chầu trời.

 

(5) Liên Hệ Giữa Năm Tuổi Và Năm Hạn, Năm Xung

Có những tuổi kỵ gặp những năm Hạn và năm Xung. Nếu gặp thường hay xảy ra những sự chẳng lành. Như vậy rất cần phải có sự cứu giải của những sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp.

Tuổi Năm Hạn Năm Xung Phụ Chú
Dần, Thân Tý Ngọ  
Sửu, Ngọ Sửu, Ngọ   Rất đáng lo ngại nếu có Sát nhập Hạn
Dần, Mão Tỵ, Hợi Dần, Thân, Mão, Dậu  
Thìn   Thìn, Tuất Ngoài ra lại rất kỵ gặp Hạn đến cung Thìn, Tuấtvà cung An Thân
Tỵ   Tỵ, Hợi Ngoài ra lại rất kỵ gặp Hạn đến cung Tỵ và cungAn Thân
Mùi Dậu, Hợi   Rất đáng lo ngại nếu có nhập Hạn
Thân Ngọ Thân, Dần Rất kỵ gặp Hỏa, Linh nhập Hạn
Dậu Dậu, Mão   Rất kỵ gặp Kình, Đà nhập Hạn
Tuất Tỵ Tuất, Thìn Ngoài ra lại rất kỵ gặp Hạn đến cung Tuất, Thìnvà cung An Thân
Hợi Hợi, Tý   Rất kỵ gặp Kình, Đà nhập Hạn

(Dẫn theo trang www.huyenhocvadoisong.com)

Đăng bởi: Phật Giáo Việt Nam

Chuyên mục: Học tử vi

Xem thêm Chương 37: Luận Đoán Vận Hạn

I. Phương Pháp Luận Đoán Vận Hạn

(1) Quan Sát

– Gốc đại hạn mười năm

– Lưu đại hạn một năm

– Lưu niên tiểu hạn một năm

– Sự tương sinh, tương khắc giữa

+ Cung nhập hạn và Bản Mệnh.

+ Cung nhập hạn và Chính diệu nhập hạn (nếu có)

+ Chính diệu nhập hạn và Bản Mệnh (nếu có)

– Chính diệu nhập hạn và chính tọa thủ Mệnh thuộc cùng nhóm hay khác nhóm

– Sự tốt xấu của các sao hội hợp nhập hạn

– Đặc biệt chú ý đến Sát tinh và Bại tinh (nếu có)

 

(2) Kết Hợp Nhận Định

– Quan sát vận hạn, nếu thấy có nhiều sự tương sinh là tốt đẹp. Trái lại, nhiều sự tương khắc là xấu xa. Thuận lý: cung nhập hạn sinh Chính diệu nhập hạn, Chính diệu nhập hạn lại sinh Bản Mệnh.

– Tại cung nhập hạn, trong số những sao hội hợp nếu quá nửa tốt đẹp được coi ở hạn tốt. Trái lại nếu quá nửa xấu xa, phải coi là hạn xấu.

– Nhận xét vị trí và ảnh hưởng tốt xấu của những sao lưu động, đặc biệt chú ý lưu Thái Tuế.

– Cân nhắc sự tốt xấu của đại hạn mười năm, lưu đại hạn một năm, lưu niên tiểu hạn một năm và ảnh hưởng của những sao lưu động.

– Vận hạn ở cung nào phải đặc biệt chú ý đến những sự hay dở và những việc xảy ra trong phạm vi cung đó.

Thí dụ: Vận hạn ở cung Quan Lộc, tất trong khoảng mười năm hay một năm (tùy theo đại hạn mười năm hay lưu niên tiểu hạn một năm) thường có nhiều việc xảy đến, liên quan tới công danh sự nghiệp.

– Kết hợp tính chất của những sao hội hợp nhập hạn để luận đoán những sự may mắn, tốt lành hay không tai ương họa hại. Muốn rộng đường luận đoán, đồng thời đi sâu vào chi tiết của vận hạn, nên hỏi: “Thức ăn, thức uống, vật dụng và cơ thể, biểu tượng bằng các sao”. Sự kết hợp này chỉ nên áp dụng triệt để và đặc biệt trong lưu niên tiểu hạn.

– Luận đoán rất cẩn thận, trước hết là cung Phúc Đức sau đến Mệnh, Thân, để cân nhắc họa phúc. Sự tốt xấu của ba cung này thưởng làm tăng hay giảm những sự đáng mừng hay đáng lo trong vận hạn.

 

II. Nhận Định Về Hạn

(1) Liên Hệ Giữa Đại Hạn Và Tiểu Hạn

Trong khoảng đại hạn mười năm tốt đẹp, xem tiểu hạn một năm xấu cũng không đáng lo ngại vì ảnh hưởng cứu giải của đại hạn đã giải trừ được một phần lớn những tai ương họa hại của tiểu hạn.

Trái lại, trong khoảng đại hạn mười năm xấu xa, xem tiểu hạn một năm tốt thì tất nhiên sự tốt đẹp cũng bị giảm bớt.

 

(2) Liên Hệ Giữa Tiểu Hạn Và Lưu Nguyện Hạn

– Hạn một năm tốt đẹp nhưng trong năm đó hạn một tháng lại xấu cũng không đáng lo ngại.

– Trái lại hạn một năm xấu xa nhưng trong năm đó hạn một tháng lại tốt thì tất nhiên sự tốt đẹp cũng bị giảm bớt.

 

(3) Liên Hệ Giữa Bản Mệnh Và Cung Nhập Hạn ( Tiểu Hạn Một Năm )

– Kim Mệnh: hạn đến cung Tý, thuộc quẻ Khảm (thuộc Thủy) Kim sinh Thủy, ví như vàng chảy ra nước nên Bản Mệnh bị hao tổn, bởi vậy thường mắc tai ương, rất đáng lo ngại.

– Mộc Mệnh: hạn đến cung Ngọ, thuộc quẻ Ly (thuộc Hỏa) Mộc sinh Нỏa, ví như củi gỗ nhóm lửa sau tán thành tro than nên Bản Mệnh tuy sáng sủa rực rỡ, nhưng chẳng được lâu bền, bởi vậy rất khó tránh những tai ương họa hại.

– Thủy Mệnh: hạn đến cung Dần, thuộc quẻ Cấn (thuộc Mộc) Thủy dưỡng Mộc, ví như nước tưới tắm cho cây cỏ, về sau bị khô сạn nên Bản Mệnh lâm vào chỗ bế tắc, bởi vậy mọi việc đều bị trắc trở, không được xứng ý toại lòng.

– Hỏa Mệnh: hạn đến cung Dậu, thuộc quẻ Đoài (thuộc Kim) Hỏa khắc Kim, ví như lửa

nung vàng nóng chảy nên Bàn Mệnh bị nguy khốn, bởi vậy khó mà tránh thoát được những tai ương

khủng khiếp.

– Thổ Mệnh: hạn đến cung Mão, thuộc quẻ Chấn (thuộc Mộc) Thổ khắc Mộc, vả lại Chấn là biểu tượng của sấm sét điện lửa nên Bản Mệnh đã suy nhược lại bị hoại thương, bởi vậy thường hay mắc bệnh điên cuồng hay bệnh khí huyết rất nguy hiểm.

Những trường hợp trên đây, nếu gặp Tuần, Triệt án ngữ, hay gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp, cũng giải trừ được một phần lớn những sự chẳng lành.

 

(4) Liên Hệ Giữa Mệnh, Thân Và Hạn

A – Đại Cương

Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng hạn tốt. Mệnh tốt chỉ được xứng ý toại lòng lúc còn trẻ tuổi. Đến lúc đứng tuổi về hậu vận lại cần phải có Thân tốt mới khá giả. Nhưng Mệnh, Thân tốt cũng không bằng Hạn tốt. Nếu Mệnh, Thân mờ ám, nhưng hạn rực rỡ cũng vẫn phát đạt ví như lúa non gặp mưa thuận, gió hòa. Mệnh tốt, Thân tốt, Hạn cũng tốt tất được hưởng giàu sang sung sướng từ lúc cất tiếng khóc chào đời cho đến khi nhắm mắt trở về với cát bụi. Mệnh, Thân thật rực rỡ, nhưng chẳng may gặp Hạn suy kém cũng đỡ lo ngại, vì Mệnh Thân đây có thể giải trừ khá nhiều sự chẳng lành. Đáng lo buồn nhất là Mệnh xấu, Thân xấu, Hạn cũng xấu. Thật là một đời cùng khốn, nếu chết non là may mắn, còn sống ngày nào tất phải điêu đứng ngày đó.

– Mệnh có Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đổng, Lương sáng sủa tốt đẹp. Hạn lại phải gặp những sao cũng thuộc nhóm đó và cũng phải sáng sủa tốt đẹp mới được hiển hách, mới được xứng ý toại lòng.

– Mệnh có Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh sáng sủa tốt đẹp. Hạn phải gặp những sao cũng thuộc nhóm đó và cũng phải sáng sủa tốt đẹp thì mọi sự mới được hành thông và danh tài hưng vượng. (nên chú ý rằng Sát tinh hay Bại tinh thường phủ tá cho Sát, Phá, Liêm, Tham). Trong trường hợp này nếu Hạn gặp Sát, Phá, Liêm, Tham mờ ám xấu xa nhưng lại được Sát tinh hay Bại tinh sáng sủa tốt đẹp hội hợp cũng không đáng lo ngại.

– Mệnh, Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa tốt đẹp. Hạn gặp Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh cùng sáng sủa tốt đẹp, tất trong cái may có chứa đựng nhiều cái rủi, tuy khá giả nhưng luôn luôn phải đề phòng mọi tai họa bất kỳ (ngoại trừ tuổi Kỷ) nhưng nếu Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh nhập Hạn lại mờ ám xấu xa, tất không thể tránh được tai ương họa hại và hay phải lo nghĩ buồn phiền.

– Mệnh có Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh sáng sủa tốt đẹp. Hạn gặp Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương cũng sáng sủa tốt đẹp, tuy khá giả nhưng vẫn chưa được toại nguyện. Nếu Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương nhập Hạn lại mờ ám xấu xa tất mọi sự đều bế tắc, thành ít bại nhiều.

– Mệnh có Vũ, Tướng sáng sủa tốt đẹp, Hạn lại gặp Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hay gặp Sát, Phá, Liêm, Tham, hay gặp Sát tinh, Bại tinh nhưng tất cả đều sáng sủa tốt đẹp cũng vẫn phát đạt tài quan song mỹ. Trong trường hợp này nếu những sao nhập Hạn kể trên lại mờ ám xấu xa cũng không đáng lo ngại lắm.

– Mệnh có Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hay Sát, Phá, Liêm, Tham, hay Sát tinh, Bại tinh tất cả đều sáng sủa tốt đẹp. Hạn gặp Vũ, Tướng cũng sáng sủa tốt đẹp tất danh tài hoạnh phát, gặp nhiều sự may mắn. Cũng trong trường hợp này nếu Vũ, Tướng nhập Hạn lại mờ ám xấu xa tất danh tài bị chiết giảm đôi chút nhưng cũng không đáng lo ngại lắm.

– Mệnh vô Chính diệu cần gặp Sát, Phá, Liêm, Tham hay Sát tinh, Bại tinh sáng sủa tốt đẹp nhập Hạn hơn là Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa tốt đẹp nhập Hạn. Mệnh vô Chính diệu có Hạn gặp Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh dù tốt đẹp hay xấu xa thì mưu sự bao giờ cũng trước khó sau dễ, có vượt được trở ngại ban đầu về sau mới khá giả. Trong trường hợp này, nếu những sao kể trên nhập Hạn lại sáng sủa tốt đẹp, chắc chắn là danh tài hoạnh phát mọi sự đều hành thông. Nhưng nếu trái lại, những sao kể trên nhập Hạn lại mờ ám xấu xa, tuy vẫn khá giả nhưng thường may ít rủi nhiều và hay phải lo lắng buồn phiền.

– Mệnh vô Chính diệu, cung nhập Hạn cũng vô Chính diệu tất mọi sự đều dở dang bế tắc, không được xứng ý toại lòng vì thành ít bại nhiều. Trong trường hợp này nếu cung nhập hạn vô Chính diệu lại gặp Tuần, Triệt án ngữ tất mọi sự hành thông danh tài hưng vượng.

– Mệnh rất mờ ám xấu xa, nhưng nếu cung nhập Hạn lại là cung Mệnh, cũng không đáng lo ngại (ngoại trừ trường hợp Không, Kiếp thủ Mệnh).

 

B – Tiểu Luận

– Mệnh có Tử, Phủ, Vũ, Tướng hội hợp. Hạn gặp La, Tử, Tuyệt, Cự, Đồng hội hợp và có nhiều Sát tinh xâm phạm tất phái bỏ mình nơi trận mạc, như Quan Vân Trường đời Tam Quốc.

– Tuổi Giáp, Kỷ, Mệnh có Tử, Phủ, Vũ, Tướng hội hợp. Hạn gặp Hồng, Xương, Tấu, Kình hội hợp, nên mọi sự đều hành thông, tài lộc được tăng tiến.

– Tuổi Kỷ, Mệnh có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hội hợp. Hạn gặp Sốt, Phá, Liêm, Tham hội hợp cùng với Tả, Hữu nên công danh sớm phát đạt.

– Tuổi Ất, Tân. Mệnh có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hội hợp và có Hư, Kình, Tuế, Khách xâm phạm. Hạn lại gặp những sao kể trên nên hoạnh đạt về võ nghiệp.

– Thân, Sát, Phá, Liêm, Tham hội hợp. Hạn gặp Võng, Hình, Khôi hội hợp và Kỵ Đà xâm phạm tất bị ám sát như Trương Dực Đức đời Tam Quốc.

– Cung Mệnh an tại Sửu, Mùi có Tử, Phủ tọa thủ đồng cung. Hạn đến cung Thổ có Tả Hữu hội hợp, nên xứng ý toại lòng vì tài quan song mỹ. Trong trường hợp này nếu Thân lại có Hồng, Lộc, Khoa hội hợp chắc chắn là mọi sự đều hành thông tốt đẹp ví như rồng mây gặp hội vậy.

– Mệnh an tại Ngọ, có Nhật tọa thủ. Hạn gặp Hình, Tang, Hổ, Khốc hội hợp nên phát đạt khá giả.

– Mệnh аn tại Ngọ có Tử Vi tọa thủ, hội hợp Khoa, Quyền. Lộc, Hình, Ẩn, Xương, Khôi, Hồng, Bật nên vẻ mặt đẹp đẽ, dáng đi hùng dũng nhưng Hạn gặp Cự, Sát, Đà, Linh hội hợp tất phải chết vì uất hận như Chu Du đời Tam Quốc.

– Mệnh an tại Tý, có Tử Vi tọa thủ khó cứu giải được tai họa. Hạn đến cung Thìn, Tuất gặp nhiều Sát tinh hội hợp tất không thế tránh được tù tội.

– Mệnh an tại Dần, Thần, có Cự, Nhật tọa thủ đồng cung. Hạn gặp Kiếp Sát, Hình, Kiếp, Kỵ hội hợp phải đề phòng bệnh tim phổi, nếu gặp thêm Mã, tất phải mang thương tích ở chân tay.

– Mệnh có Cự hay Kỵ tọa thủ. Hạn gặp Tuế, Đà, Phủ hội hợp, tất hay mắc kiện tụng hay tranh chấp thị phi.

– Thân an tại Dần có Cơ, Nguyệt tọa thủ đồng cung. Hạn gặp Liêm, Hổ, Linh, Riêu hội hợp tất khó nuôi con, đàn bà có mang tất bị trụy thai. Nếu lại gặp thêm Kiếp, Hình hội hợp, thật khó tránh được ngục tù, đàn ông gặp Hạn này rất đáng lo ngại. Đây chỉ có Khoa, Phượng nhập Hạn đồng cung mới có thể cứu giải được.

– Mệnh an tại Hợi, có Nguyệt tọa thủ. Hạn gặp Quyền, Kỵ, Khúc, Xương hội hợp, nên rất khá giả.

– Mệnh có Nguyệt tọa thủ, hội hợp Hồng, Kình, Riêu, Kỵ. Hạn gặp Xương, Vũ hội hợp, nên xuân tình phát động, trai hay gái gặp hạn này đều khó kiềm lòng trước sự cám dỗ của sắc dục.

– Mệnh an tại Mão có Thiên Tướng tọa thủ, hội hợp Sinh, Vượng, Hồng, Đào, Tả, Hữu, Quyền Xương là người vũ dũng, mặt đẹp như hoa nhưng Hạn gặp Phá, Kiếp, Kình, Đà hội hợp tất phải lẩn quẩn trong vòng tình ái và mang lụy vì nữ sắc như Lã Bố vậy.

– Tuổi Mậu, Canh, Âm nữ, Mệnh an tại Thìn hay Tuất có Vũ Khúc hay Tham Lang tọa thủ là người có tài, nhưng không có đức hạnh, thêm Kiếp, Không hội hợp lại càng xấu xa đê tiện. Hạn gặp Kình, Đà hội hợp tất không toàn được tính mạng.

– Mệnh, Thân có Sát tọa thủ. Hạn gặp Kình hay Đà tất hay mắc phải những tai họa khủng khiếp.

– Mệnh có Sát hay Hình, Linh tọa thủ. Hạn gặp Hổ tất khó tránh được tù tội.

– Tuổi Tân, Đinh, Mệnh an tại Dần, Thân có Phá Quân tọa thủ, hội hợp Hỏa, Việt là người giỏi về máy móc. Hạn gặp Mã, Tuyệt hội hợp có nhiều Sát tinh xâm phạm, tất khó tránh được những tai nạn què gãy chân tay.

– Mệnh an tại Tý, Ngọ có Liêm, Tướng tọa thủ đồng cung. Hạn gặp La, Võng, Tham, Linh, Đà hội hợp, tất bị chết chém một cách thê thảm như Hàn Tín đời Đông Hán.

– Tuổi Ất, Kỷ, Âm nam, Mệnh an tại Sửu, Mùi có Liêm, Sát tọa thủ đồng cung là người trí dũng. Hạn gặp Khoa, Sinh hội hợp nên hoạnh phát công danh và tài lộc.

– Mệnh có Tham tọa thủ. Hạn gặp Song Hao tất phải túng thiếu, sa sút của cải.

– Mệnh có Tham tọa thủ. Hạn gặp Lộc nên tiền tài phong túc.

– Mệnh có Không hay Kiếp tọa thủ hay bi Tuần, Triệt án ngữ. Hạn dù có gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp cũng vẫn bị trắc trở buổi đầu.

– Mệnh có Không hay Kiếp tọa thủ. Hạn lại đến Mệnh gặp Không hay Kiếp tất sự nghiệp phải sụp đổ và tính mệnh cũng không thể an toàn được.

– Mệnh có Hỏa hay Linh tọa thủ. Hạn gặp Kiếp, Không, Thương, Sứ hội hợp tất hay gặp tai họa khủng khiếp

– Mệnh có Lộc tọa thủ. Hạn gặp Song Hao tất phải nghèo túng khốn khổ.

– Mệnh có Song Hao tọa thủ. Hạn gặp Lộc nên có nhiều tiền bạc ăn tiêu dư dật.

– Mệnh có Song Hao tọa thủ. Hạn gặp nhiều Sát tinh hội hợp tất bị túng thiếu.

– Mệnh hay Thân có Khôi, Việt tọa thủ, cung nhập Hạn là cung Mệnh hay cung Thân, nên hoạnh phát danh tài và chắc chắn là được lui tới gần bên bậc nguyên thủ.

– Mệnh có Tướng Quân tọa thủ, hội hợp Cái, Đào, Khúc, Mộc là người dâm đãng. Hạn gặp Cơ, Riêu hội hợp nên đêm nằm tràn trọc vì có sự thôi thúc của nhu cầu sinh lý.

– Tuổi Bính, Nhâm, Mệnh an tại Tỵ, Hợi có Tướng, Binh, Ấn hội hợp là người có uy quyền hiển hách. Hạn gặp Phá, Quyền, Lộc hội hợp nên hoạnh phát danh tài.

– Mệnh vô Chính diệu. Hạn gặp Sát, Phá, Tham hội hợp Đào, Hồng, Suy, Tuyệt, tất tính mạng không thể an toàn được. Số Gia Cát Võ Hầu đời Tam Quốc cũng Mệnh vô Chính diệu chẳng may gặp Hạn này nên phải về chầu trời.

 

(5) Liên Hệ Giữa Năm Tuổi Và Năm Hạn, Năm Xung

Có những tuổi kỵ gặp những năm Hạn và năm Xung. Nếu gặp thường hay xảy ra những sự chẳng lành. Như vậy rất cần phải có sự cứu giải của những sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp.

Tuổi Năm Hạn Năm Xung Phụ Chú
Dần, Thân Tý Ngọ  
Sửu, Ngọ Sửu, Ngọ   Rất đáng lo ngại nếu có Sát nhập Hạn
Dần, Mão Tỵ, Hợi Dần, Thân, Mão, Dậu  
Thìn   Thìn, Tuất Ngoài ra lại rất kỵ gặp Hạn đến cung Thìn, Tuấtvà cung An Thân
Tỵ   Tỵ, Hợi Ngoài ra lại rất kỵ gặp Hạn đến cung Tỵ và cungAn Thân
Mùi Dậu, Hợi   Rất đáng lo ngại nếu có nhập Hạn
Thân Ngọ Thân, Dần Rất kỵ gặp Hỏa, Linh nhập Hạn
Dậu Dậu, Mão   Rất kỵ gặp Kình, Đà nhập Hạn
Tuất Tỵ Tuất, Thìn Ngoài ra lại rất kỵ gặp Hạn đến cung Tuất, Thìnvà cung An Thân
Hợi Hợi, Tý   Rất kỵ gặp Kình, Đà nhập Hạn

(Dẫn theo trang www.huyenhocvadoisong.com)

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button