Tử vi

Chương 38: Thiên Tam Yếu Linh Ứng

Tam Yếu Linh Ứng quây quần trong ba yếu Tố Nhĩ, Mục, Tâm, linh ứng là linh diệu ứng nghiệm vậy.

Xét Nhĩ để mà nghe, Mục để mà nhìm xem, Tâm để mà lo nghĩ. Ba yếu tố ấy, người ta không thể hiểu được, mà cái lý thuyết của vạn vật cũng không ra ngoài phương thức ấy được.

Để cho thích đáng với sự chiêm quyết, yên lặng mà nghe, mà nhận thức sự lo nghĩ, tịnh mà xem xét vạn vật, mà nhận xét các âm thanh, để biết cát hung, thấy rõ hình ảnh của thiện ác, thấy rõ cái lý của họa phước đều do sự chứng nghiệm của thuật chiêm bốc.

Bạn đang xem: Chương 38: Thiên Tam Yếu Linh Ứng

Như hợp với cái ứng thanh, như bóng theo hình làm sáng tỏ cho ta thấy vậy.

Cái chân lý của Chu Dịch là: gần thì thủ (lấy chư thân (mình), xa thì thủ chư vật.

Chu Dịch là do của Tiên hiền, Tiên sư làm ra và đã chọn lựa lấy những thành ngữ của thế tục làm thành lệ, mà nghiệm ra như Quỷ Cốc Tử, Nghiêm Quân Bình, Đông Phương Sóc, Gia Cát Khổng Minh, Quách Phác, Quản Lộ, Lý Thuần Phong, Viên Thiên Cương, Hoàng Phủ Chân nhân, Ma Y Tiên, Trần Hy Di, kế sau Thiệu Khang Tiết, Thiệu Bá Ôn, Ngưu Tư Hối, Ngưu Tư Kế, Cao Xử Sĩ, Lưu Trạm Nhiên, Phu Thọ Tử, Thái Nhiên Tử, Chu Thanh Linh Tử mà thời đại tương truyền không chuyên nhất, mà chẳng biết tên họ, chẳng tham dự vào đó hay sao?

Và xét ra thì trời cao đất dày, vạn vật tan rã, âm trọc dương thanh, ngũ khí phơi bày, họa phước khó tránh khỏi số mạng, cát hung đều có cơ. Người đứng đầu trong muôn vật, cái Tâm là chủ cái thân, Mắt ngụ ra hình sắc, Tai nhận lãnh âm thanh, ba yếu tố ấy bao gồm đầy đủ cả muôn vật.

Như trên là cái linh ứng của Thiên Địa vạn vật, mà Nhĩ, Mục Tâm là ba yếu tố nên gọi là Tam Yếu.

  • Cho nên gặp triệu tốt mà thuận là tốt – Gặp triệu xấu, thì chẳng có thể tránh được sự hung – Vật tròn là thể hiện sự thành, vật khuyết (sứt mẻ, hư hỏng) là thể hiện sự hại.

Cái lý do đó, đoan nhiên chẳng phải nghi ngờ gì nữa, như trên là xét vật khắc ứng, thấy tốt tức là tốt, gặp hung ắt là xấu.

  • Như mây tan thì thấy trời, sự vật đều sáng (tốt), khí sương mù che lấp không trung, vật bị phai mờ (xấu). Thình lình trận cuồng phong làm cho trôi dạt (rối rít) – Gặp Chấn sấm động thì rối loạn, hoảng sợ khống – Mặt trăng thình lình ló dạng, thì trong trẻo sáng suốt – Thốt nhiên mưa thầm nhuần áo, khá nhờ ân trạch (ân huệ).

Như trên nhận xét Thiên văn mà suy luận vậy.

  • Trùng sơn ngăn cách khó gặp, trùng trạch (ao đầm), nhuần thấm càng sâu; nước chảy sự việc thông; đất dồn chứa lại sự việc dình trệ – Đá cứng bền là nhờ ruột rắn chắc (cứng); cát vải ra thì tay phải xòe; sóng nổi cuộn thì chủ kinh hoàng khốn khổ – Núi sụp lở chủ hao tán thổ điền – Gần kề ao khô cạn, tâm lực kiệt mòn – Đứng dưới cây khô, tướng mạo suy vi.

Ấy là xét địa lý mà suy nhân sự.

  • Gặp người phẩm giá, là ứng điềm tốt lành – Gặp hiển quan cao tước ắt thấy sự sang trọng – Gặp phú thương đại gia, chớ lo chi tài – Thấy nhi đồng than khóc ắt phải ưu lo cho con cháu – Lại, Tốt (Lại là viên chức, Tốt là binh lính) kêu xôn xao, kỵ nhất là kiện cáo – Hai nam hai nữ là triệu trùng hôn – Nhất đạo nhất tăng là triệu ở riêng một cõi – Phu nhân cười nói, sự vui mừng ngầm sẽ tới – Nữ tử giằng co nhau là triệu bí ẩn (tà gian) thấy lụy – Gặp thợ, chủ cải hoán gia môn – Gặp đồ tể, ắt cốt nhục phân ly – Gặp người săn thú, ắt được ngoại tài đồng áng- Gặp ngư phủ, ắt có lợi về giang biên – Gặp đàn bà chửa thì sự việc trong tâm bộc phát – Gặp người mù thì trong tâm sẵn mối lo buồn.

Ấy là xem nhân phẩm mà xét nhân sự.

  • Chí như vẫy tay bảo đừng, hoặc lắc đầu chẳng chịu, dụi mắt, sịt mũi, phun nước, phà hơi, hắt hơi, là điềm tang khốc – Gãi đầu búng gàu chắc là có sự lo âu – Chân lay động là dấu hiệu đi – Khoanh hai tay là triệu tổn thất – Co ngón tay lại, là trở tiết danh – Thở ra là sự bi ưu – Le lưỡi ra mà lay động, là chủ sự thị phi – Cùng đâu lưng lại, xem chừng lường gạt giả dối – Vung cánh tay lên, triệu chứng tranh đoạt hơn thua – Hạ chân xuống là triệu khuất phục để cầu xin.

Ấy là xem sự cử động chư thân gần nhất để ứng vào sự việc.

  • Nhược gặp kẻ nào trao sách cho, ắt rắc rối về văn thư, từ tụng – Chủ đánh tớ, phòng bề trên khiển trách – Giảng luận kinh sử, ắt hẳn sự thể đổ vỡ, rạn nứt vì hư khuyết – Hát xướng ngâm nga, mưu sự (đồ mưu) trở thành tán thán (tưng bốc, ca ngợi) – Thấy cờ bạc, chủ tranh đấu về tài – Gặp biên chép, viết lách, chủ động văn thơ – Thấy tay nắm dắt vật gì, là được người giúp việc – Nắm tay lôi kéo, gặp nhiều liên lụy.

Ấy là ứng vào nhân sự.

  • Gặp lái đò chèo thuyền, ắt gặp được người dẫn đường chỉ lối – Xa mã lên đường là triệu mang trách nhiệm nặng nề đã hết – Dương cung nách tên, ắt được tiến cử tài danh – Có tên không cung, tài danh chưa khá đạt – Cầm đao nắm kiếm ắt được khoái lạc hân hoan – Vạch giáp múa đao đoán chắc binh quyền chi triệu – Thấy ươm tơ, mọi việc rối như vò – Đánh cờ vây (đánh cờ bàn), chỗ chủ yếu phơi bày trước tứ chúng – Trang hoa (trang sức) chạm quả, sự giao kết cuối cùng không trọn – Họa ảnh vẽ hình, đều thuộc loài trang điểm – Kết hợp đều thành (quây, cuốn, chắp nối mối tơ, chỉ) cầu chức vụ càng tốt – Bút mực hiện thấy là triệu cầu văn – Gặp nghiêng dù (nghiêng dù để chào) là chủ thối quyền – Thình lình soi kiến, ắt được chiếu chỉ – Ôm cầm vật quý, ắt được trọng dụng phi thường – Vác cây khiên gỗ, có tài (của) chẳng ít – Gặp đồ đong lường (như cái lít, cái cân chẳng han) phải nên trù liệu tinh tường – Gặp thước kéo nên đắn đo sự việc – (giảm mức độ) – Thấy chân đá, gạt, bị người gạt bỏ khinh khi – Mở khóa cởi vòng, gặp việc ít thông – Thấy sửa chửa đồ vật, ắt lâu chẳng bền – Cầm đá mài kiếng soi, sự việc hai lần mới được – Chơi đùa búa rìu, mài sắt thép, sự việc chậm trễ mới nên – Vung dao chặt cây, thì có thương tài mới được việc – Cắt áo quần trước tổn sau thành – Làm đồ gốm, trước thành sau bại – Đánh cờ bàn, giữ mưu thủ kế – Bủa lưới (giăng lưới) tìm tòi phương sách kế hoạch cũng tất không – Cầm búa cầm cưa ắt sẽ bị thương – Rửa chén, sút bình phòng họa vì uống – Phất quạt thân yêu chiêu đãi chi nghĩa – Bận áo dơ bẩn, đề phòng mưu hại.

Trên đây là ứng về vật khí, tức xa thì dùng chư vật.

  • Thảo mộc tuy vô hình, nhưng cũng có ứng với khoa chiêm bốc: cỏ Chi, cỏ Lan ứng điềm tốt lành – cây Tùng cây Bá là điềm thọ – Gặp cây Thung, cây Cổi thì sống lâu – Gặp mạ non, nấm thì sớm nở chiều tàn, chiêm sinh sản hoặc bịnh gặp phải triệu này thì chết – Cành lá xác xơ, nhiều nỗi vất vả – Rễ hột rời rạc là liên lụy với người – Thấy bông hoa ấy thực hư hao – Thấy trái quả là có kết quả tốt đẹp.

Trên đây là ứng vào loài thảo mộc

  • Chí như bay chạy cũng là điềm ứng – Con chim quạ báo tai ương – Nhện giăng báo hỉ – Chim Hồng chim Nhạn chủ bằng hữu chí tín – Rắn hổ mang, phòng mưu độc hại – Chuột cắn áo, phòng tiểu khẩu (gây lộn) – Chim sẻ kêu trên mái nhà, báo tin người đi xa về – Chó cắn nhau phòng đạo tặc – Gà đá nhau, chủ sự ồn ào – Dắt Dê được nhiều khánh hỷ – Cởi ngựa thì buôn bán chi thu có lợi – Khỉ vượn leo cây, thân tâm chẳng yên – Cá gáy nhảy lên khô, sự biến chẳng phải tầm thường – Thấy dây dàng ngựa, bịnh tật chẳng an – Thấy chuồng, lồng muông chim, nhờ cậy người chưa dứt.

Ấy là ứng về cầm thú

  • Chí như rượu là món giải phiền, thuốc dùng để giải bịnh, tuy vậy, chén rượu bị bể, là điềm cực lạc sinh bi – Gặp được Y sư giữa đường, nạn trung hữu cứu – Dây sắn, dây bìm, dây bầu, dây mướp là loại ỷ tựa vào người – Dáng điệu hổ báo là vẻ thị oai – Cày ruộng, bừa đất là sự thể loay quay tráo trở – Chẻ tre, rạch nứa. sự thế ắt thuận lợi yên vui – Xuân hoa, Thu nguyệt tuy không thực nhưng có cảnh thái, Hạ cây bông, Đông cây sắn, tuy hữu dụng nhưng trái thời – Cái quạt mỏng, để quạt cho mát, nhưng lắm lúc vô dụng – Cái dù, cái lọng, lúc tạnh ráo thì bỏ suông (không xài) – Ảnh bong bóng (bọt) nước và ánh đèn là triệu hư ảo khó tin – Mạng nhện, kém tằm, xảo kế thành công.

Trên đây là xem tạp vật ứng

Xem hình vật tức nhiên biết thể chữ(*).

  • Đá gặp da thì rách, tức là chữ Phò (chữ Phá một bên chữ Thạch là đá, một bên chữ bì là da).
  • Người đứng bên cây là chữ Hưu là vui (chữ hưu một bên có chữ nhân là người, còn bên có chữ mộc là cây.
  • Nón trôi ở ven nước, rõ ràng là chữ Khấp là khóc (chữ khấp một bên có ba chấm thủy tức là ven nước, một bên chữ lập, đọc trại là liệp, tức là cái nón).
  • Lửa vào núi rừng, đốt hình sẽ thấy là chữ Phần là đốt (chữ phần tên có chữ lâm là rừng, dưới chữ hỏa là lửa).
  • Ba cô gái là có gian xảo tà dâm tức là chữ Gian (chữ gian có ba chữ nữ, một trên và hai dưới).
  • Ba trâu là triệu bôn tẩu chi ưu, tức chữ Bôn (chữ bôn có ba chữ ngưu, một trên hai dưới).
  • Một cây hai lửa là triệu quang vinh, tức là chữ Vinh (chữ vinh trên hai chữ hỏa là lửa, giữa chữ nhất và dưới chữ mộc là cây).
  • Một nước bốn cá là tượng góa vợ tức là chữ Quan (chữ quan một bên là chữ ngư là cá, một bên thì chữ tứ là bốn, dưới hết chữ thủy là nước).
  • Người kề trâu lộn ngược đề phòng thất thoát tức là chữ Thất là mất (chữ thất xemg iống chữ ngưu con trâu đảo ngược lên và có chữ nhân là người ở kế).
  • Người nói chó buồn lo ngục tù, tức chữ Ngục (chữ ngục một bên có bộ như chữ nhân đứng tức người, giữa chữ ngôn là nói, bên phải có chữ khuyển là chó)
  • Một cái đấu vào cửa trống, chủ đấu tranh, tức là chữ Đấu (chữ đấu ở ngoài chữ môn là cửa, trong lòng chữ đấu là cái đấu đong lường)
  • Hai sợi tơ đèo cây trắng là triệu sự vui, tức là chũ Lạc (chữ lạc giữa chữ bạch là trắng, hai bên đèo hai bộ mịch là sợi tơ, dưới chữ mộc là cây).
  • Một người đứng trong cửa, mọi việc nên né mình mà tránh, tức là chữ Thiểm (chữ thiểm ngoài chữ môn là cửa, trong lòng có chữ nhân đứng là người đứng).
  • Hai người đứng hai bên cây, là triệu hỏi gì được nấy tức là chữ lai là tới (chữ lai giữa chữ mộc là cây, hai bên có hai chữ nhân là người).

Trên đây là ứng vào chiết tự chữ Hán.

Ghi chú: (*) Chữ Hán, đây nói về chiết tự, bây giờ ít dùng nhưng cũng xin dịch để xem cho biết.

  • Chí như tên vật, cũng lấy nghĩa đồng âm mà ứng vào các triệu như: thấy con Lộc (con Hươu) ấy là có lộc – Thấy Phong (con ong) là điềm được thụ phong – Thấy cây Lê là chủ phân biệt – Thấy cây Đào là triệu đào tẩu – Thấy cây Lý chiêm tụng sự đắc lý – Phùng quan (quan là cái mão), cầu quan ắt thành – Thấy hài (là giày, dép), trăm sự hòa giải – Thấy khạp (cái cốc đựng rượu) mọi việc đều hợp.

Hãy còn nhiều lắm khỏ tả cho hết, mà chỉ cần tại trí biến thông.

  • Lại như xét ở thân ta mà ứng vào sự việc của người, ắt phải hiểu rõ quan hệ khác nhau của lời nói – Tương phản nhau thì lời nói ngượng ngùng – Nghi kỵ nhau thì lời nói chống đối – Người hiền lành êm dịu thì ít nói – Người xao động tính nóng nảy, thì nói nhiều. Nói vu lỗi cho người hiền thì lời nói vu vơ không bằng cớ – Mất đức liêm khiết, chân thật, là lời nói chìu luồn.

Trên đây là nhất động, nhất tịnh, gần thì lấy chư thân mà ứng vào việc.

Đã suy luận Ngũ hành, tất phải tinh tường Bát quái quẻ tốt mà ứng cát, thì cát vẹn toàn; quẻ xấu mà ứng hung thì vẹn hung.

Quẻ và Ứng một tốt, một xấu, thì sự việc phần cát, phần hung.

Suy rõ Sinh Khắc chi lý, xét rõ động tịnh chi cơ, sự tương quan (có quan hệ với nhau), vật vật tương hợp. Như vậy là cái chân lý của Ngũ hành, Bát quái, Khắc Ứng, Động Tịnh của Dịch, ắt phải do cái linh động hoạt bát của tấc lòng (tâm linh).

Sự mầu nhiệm của huyền cơ, lại còn do ở thầy truyền, ví phỏng muôn chúng phân vân, duy chỉ có một lý do mà xuyên suốt, sự là do cơ mà nảy sanh, thì tất yếu phải am tường sự việc đang gặp phải.

Trên đây là cái lý của phép chiêm bốc, mà hay là ở tại người biết biến thông linh diệu.

Chí như, xưa Phương Sóc, bói mà biết được các vật dấu ẩn khuất; Chư Cát đứng trước ngựa, mà định được cát hung trong giây lát; Hoàng Phủ tự dưng khai phá được cái ảo diệu; Thần Phong giác ngộ nhờ điểu giác. Tuy sở dụng thì có khác nhau, nhưng đồng chung một ý, chẳng khác nhau vậy.

Tất cả trên đây nói về Tam Yếu linh ứng ky diệu.

Khá kết hợp ý chí tình của quỷ thần, mà hiệp với linh thuật Thi Quy (cách bói cỏ Thi và vỏ Rùa). Song le, người trong tam thế quá khứ, hiện tại và vị lai chưa thấu rõ sự huyền vi của tâm mà chẳng có thất khiếu (bảy lỗ: tai, mắt, mũi và miệng) cúng chưa giác ngộ được sự diệu lý; cho nên hiểu được thuật, cần phải kín đáo, người chẳng truyền thì không nên truyền, khinh thì làm tiết lậu thiên cơ, trọng thì vướng phải âm trách, gầy đắp sâu rộng thì khá nhập được đạo, áp dụng lâu dài ắt được thần thông.

Trên đây là bàn về sự kỳ diệu linh ứng, chẳng nên truyền xằng trao lẫn, cần thận trọng sâu kín, để bảo trọng lấy đạo vậy.

(Dẫn theo trang huyenhocvadoisong.com)

Đăng bởi: Phật Giáo Việt Nam

Chuyên mục: Học tử vi

Xem thêm Chương 38: Thiên Tam Yếu Linh Ứng

Tam Yếu Linh Ứng quây quần trong ba yếu Tố Nhĩ, Mục, Tâm, linh ứng là linh diệu ứng nghiệm vậy.

Xét Nhĩ để mà nghe, Mục để mà nhìm xem, Tâm để mà lo nghĩ. Ba yếu tố ấy, người ta không thể hiểu được, mà cái lý thuyết của vạn vật cũng không ra ngoài phương thức ấy được.

Để cho thích đáng với sự chiêm quyết, yên lặng mà nghe, mà nhận thức sự lo nghĩ, tịnh mà xem xét vạn vật, mà nhận xét các âm thanh, để biết cát hung, thấy rõ hình ảnh của thiện ác, thấy rõ cái lý của họa phước đều do sự chứng nghiệm của thuật chiêm bốc.

Như hợp với cái ứng thanh, như bóng theo hình làm sáng tỏ cho ta thấy vậy.

Cái chân lý của Chu Dịch là: gần thì thủ (lấy chư thân (mình), xa thì thủ chư vật.

Chu Dịch là do của Tiên hiền, Tiên sư làm ra và đã chọn lựa lấy những thành ngữ của thế tục làm thành lệ, mà nghiệm ra như Quỷ Cốc Tử, Nghiêm Quân Bình, Đông Phương Sóc, Gia Cát Khổng Minh, Quách Phác, Quản Lộ, Lý Thuần Phong, Viên Thiên Cương, Hoàng Phủ Chân nhân, Ma Y Tiên, Trần Hy Di, kế sau Thiệu Khang Tiết, Thiệu Bá Ôn, Ngưu Tư Hối, Ngưu Tư Kế, Cao Xử Sĩ, Lưu Trạm Nhiên, Phu Thọ Tử, Thái Nhiên Tử, Chu Thanh Linh Tử mà thời đại tương truyền không chuyên nhất, mà chẳng biết tên họ, chẳng tham dự vào đó hay sao?

Và xét ra thì trời cao đất dày, vạn vật tan rã, âm trọc dương thanh, ngũ khí phơi bày, họa phước khó tránh khỏi số mạng, cát hung đều có cơ. Người đứng đầu trong muôn vật, cái Tâm là chủ cái thân, Mắt ngụ ra hình sắc, Tai nhận lãnh âm thanh, ba yếu tố ấy bao gồm đầy đủ cả muôn vật.

Như trên là cái linh ứng của Thiên Địa vạn vật, mà Nhĩ, Mục Tâm là ba yếu tố nên gọi là Tam Yếu.

  • Cho nên gặp triệu tốt mà thuận là tốt – Gặp triệu xấu, thì chẳng có thể tránh được sự hung – Vật tròn là thể hiện sự thành, vật khuyết (sứt mẻ, hư hỏng) là thể hiện sự hại.

Cái lý do đó, đoan nhiên chẳng phải nghi ngờ gì nữa, như trên là xét vật khắc ứng, thấy tốt tức là tốt, gặp hung ắt là xấu.

  • Như mây tan thì thấy trời, sự vật đều sáng (tốt), khí sương mù che lấp không trung, vật bị phai mờ (xấu). Thình lình trận cuồng phong làm cho trôi dạt (rối rít) – Gặp Chấn sấm động thì rối loạn, hoảng sợ khống – Mặt trăng thình lình ló dạng, thì trong trẻo sáng suốt – Thốt nhiên mưa thầm nhuần áo, khá nhờ ân trạch (ân huệ).

Như trên nhận xét Thiên văn mà suy luận vậy.

  • Trùng sơn ngăn cách khó gặp, trùng trạch (ao đầm), nhuần thấm càng sâu; nước chảy sự việc thông; đất dồn chứa lại sự việc dình trệ – Đá cứng bền là nhờ ruột rắn chắc (cứng); cát vải ra thì tay phải xòe; sóng nổi cuộn thì chủ kinh hoàng khốn khổ – Núi sụp lở chủ hao tán thổ điền – Gần kề ao khô cạn, tâm lực kiệt mòn – Đứng dưới cây khô, tướng mạo suy vi.

Ấy là xét địa lý mà suy nhân sự.

  • Gặp người phẩm giá, là ứng điềm tốt lành – Gặp hiển quan cao tước ắt thấy sự sang trọng – Gặp phú thương đại gia, chớ lo chi tài – Thấy nhi đồng than khóc ắt phải ưu lo cho con cháu – Lại, Tốt (Lại là viên chức, Tốt là binh lính) kêu xôn xao, kỵ nhất là kiện cáo – Hai nam hai nữ là triệu trùng hôn – Nhất đạo nhất tăng là triệu ở riêng một cõi – Phu nhân cười nói, sự vui mừng ngầm sẽ tới – Nữ tử giằng co nhau là triệu bí ẩn (tà gian) thấy lụy – Gặp thợ, chủ cải hoán gia môn – Gặp đồ tể, ắt cốt nhục phân ly – Gặp người săn thú, ắt được ngoại tài đồng áng- Gặp ngư phủ, ắt có lợi về giang biên – Gặp đàn bà chửa thì sự việc trong tâm bộc phát – Gặp người mù thì trong tâm sẵn mối lo buồn.

Ấy là xem nhân phẩm mà xét nhân sự.

  • Chí như vẫy tay bảo đừng, hoặc lắc đầu chẳng chịu, dụi mắt, sịt mũi, phun nước, phà hơi, hắt hơi, là điềm tang khốc – Gãi đầu búng gàu chắc là có sự lo âu – Chân lay động là dấu hiệu đi – Khoanh hai tay là triệu tổn thất – Co ngón tay lại, là trở tiết danh – Thở ra là sự bi ưu – Le lưỡi ra mà lay động, là chủ sự thị phi – Cùng đâu lưng lại, xem chừng lường gạt giả dối – Vung cánh tay lên, triệu chứng tranh đoạt hơn thua – Hạ chân xuống là triệu khuất phục để cầu xin.

Ấy là xem sự cử động chư thân gần nhất để ứng vào sự việc.

  • Nhược gặp kẻ nào trao sách cho, ắt rắc rối về văn thư, từ tụng – Chủ đánh tớ, phòng bề trên khiển trách – Giảng luận kinh sử, ắt hẳn sự thể đổ vỡ, rạn nứt vì hư khuyết – Hát xướng ngâm nga, mưu sự (đồ mưu) trở thành tán thán (tưng bốc, ca ngợi) – Thấy cờ bạc, chủ tranh đấu về tài – Gặp biên chép, viết lách, chủ động văn thơ – Thấy tay nắm dắt vật gì, là được người giúp việc – Nắm tay lôi kéo, gặp nhiều liên lụy.

Ấy là ứng vào nhân sự.

  • Gặp lái đò chèo thuyền, ắt gặp được người dẫn đường chỉ lối – Xa mã lên đường là triệu mang trách nhiệm nặng nề đã hết – Dương cung nách tên, ắt được tiến cử tài danh – Có tên không cung, tài danh chưa khá đạt – Cầm đao nắm kiếm ắt được khoái lạc hân hoan – Vạch giáp múa đao đoán chắc binh quyền chi triệu – Thấy ươm tơ, mọi việc rối như vò – Đánh cờ vây (đánh cờ bàn), chỗ chủ yếu phơi bày trước tứ chúng – Trang hoa (trang sức) chạm quả, sự giao kết cuối cùng không trọn – Họa ảnh vẽ hình, đều thuộc loài trang điểm – Kết hợp đều thành (quây, cuốn, chắp nối mối tơ, chỉ) cầu chức vụ càng tốt – Bút mực hiện thấy là triệu cầu văn – Gặp nghiêng dù (nghiêng dù để chào) là chủ thối quyền – Thình lình soi kiến, ắt được chiếu chỉ – Ôm cầm vật quý, ắt được trọng dụng phi thường – Vác cây khiên gỗ, có tài (của) chẳng ít – Gặp đồ đong lường (như cái lít, cái cân chẳng han) phải nên trù liệu tinh tường – Gặp thước kéo nên đắn đo sự việc – (giảm mức độ) – Thấy chân đá, gạt, bị người gạt bỏ khinh khi – Mở khóa cởi vòng, gặp việc ít thông – Thấy sửa chửa đồ vật, ắt lâu chẳng bền – Cầm đá mài kiếng soi, sự việc hai lần mới được – Chơi đùa búa rìu, mài sắt thép, sự việc chậm trễ mới nên – Vung dao chặt cây, thì có thương tài mới được việc – Cắt áo quần trước tổn sau thành – Làm đồ gốm, trước thành sau bại – Đánh cờ bàn, giữ mưu thủ kế – Bủa lưới (giăng lưới) tìm tòi phương sách kế hoạch cũng tất không – Cầm búa cầm cưa ắt sẽ bị thương – Rửa chén, sút bình phòng họa vì uống – Phất quạt thân yêu chiêu đãi chi nghĩa – Bận áo dơ bẩn, đề phòng mưu hại.

Trên đây là ứng về vật khí, tức xa thì dùng chư vật.

  • Thảo mộc tuy vô hình, nhưng cũng có ứng với khoa chiêm bốc: cỏ Chi, cỏ Lan ứng điềm tốt lành – cây Tùng cây Bá là điềm thọ – Gặp cây Thung, cây Cổi thì sống lâu – Gặp mạ non, nấm thì sớm nở chiều tàn, chiêm sinh sản hoặc bịnh gặp phải triệu này thì chết – Cành lá xác xơ, nhiều nỗi vất vả – Rễ hột rời rạc là liên lụy với người – Thấy bông hoa ấy thực hư hao – Thấy trái quả là có kết quả tốt đẹp.

Trên đây là ứng vào loài thảo mộc

  • Chí như bay chạy cũng là điềm ứng – Con chim quạ báo tai ương – Nhện giăng báo hỉ – Chim Hồng chim Nhạn chủ bằng hữu chí tín – Rắn hổ mang, phòng mưu độc hại – Chuột cắn áo, phòng tiểu khẩu (gây lộn) – Chim sẻ kêu trên mái nhà, báo tin người đi xa về – Chó cắn nhau phòng đạo tặc – Gà đá nhau, chủ sự ồn ào – Dắt Dê được nhiều khánh hỷ – Cởi ngựa thì buôn bán chi thu có lợi – Khỉ vượn leo cây, thân tâm chẳng yên – Cá gáy nhảy lên khô, sự biến chẳng phải tầm thường – Thấy dây dàng ngựa, bịnh tật chẳng an – Thấy chuồng, lồng muông chim, nhờ cậy người chưa dứt.

Ấy là ứng về cầm thú

  • Chí như rượu là món giải phiền, thuốc dùng để giải bịnh, tuy vậy, chén rượu bị bể, là điềm cực lạc sinh bi – Gặp được Y sư giữa đường, nạn trung hữu cứu – Dây sắn, dây bìm, dây bầu, dây mướp là loại ỷ tựa vào người – Dáng điệu hổ báo là vẻ thị oai – Cày ruộng, bừa đất là sự thể loay quay tráo trở – Chẻ tre, rạch nứa. sự thế ắt thuận lợi yên vui – Xuân hoa, Thu nguyệt tuy không thực nhưng có cảnh thái, Hạ cây bông, Đông cây sắn, tuy hữu dụng nhưng trái thời – Cái quạt mỏng, để quạt cho mát, nhưng lắm lúc vô dụng – Cái dù, cái lọng, lúc tạnh ráo thì bỏ suông (không xài) – Ảnh bong bóng (bọt) nước và ánh đèn là triệu hư ảo khó tin – Mạng nhện, kém tằm, xảo kế thành công.

Trên đây là xem tạp vật ứng

Xem hình vật tức nhiên biết thể chữ(*).

  • Đá gặp da thì rách, tức là chữ Phò (chữ Phá một bên chữ Thạch là đá, một bên chữ bì là da).
  • Người đứng bên cây là chữ Hưu là vui (chữ hưu một bên có chữ nhân là người, còn bên có chữ mộc là cây.
  • Nón trôi ở ven nước, rõ ràng là chữ Khấp là khóc (chữ khấp một bên có ba chấm thủy tức là ven nước, một bên chữ lập, đọc trại là liệp, tức là cái nón).
  • Lửa vào núi rừng, đốt hình sẽ thấy là chữ Phần là đốt (chữ phần tên có chữ lâm là rừng, dưới chữ hỏa là lửa).
  • Ba cô gái là có gian xảo tà dâm tức là chữ Gian (chữ gian có ba chữ nữ, một trên và hai dưới).
  • Ba trâu là triệu bôn tẩu chi ưu, tức chữ Bôn (chữ bôn có ba chữ ngưu, một trên hai dưới).
  • Một cây hai lửa là triệu quang vinh, tức là chữ Vinh (chữ vinh trên hai chữ hỏa là lửa, giữa chữ nhất và dưới chữ mộc là cây).
  • Một nước bốn cá là tượng góa vợ tức là chữ Quan (chữ quan một bên là chữ ngư là cá, một bên thì chữ tứ là bốn, dưới hết chữ thủy là nước).
  • Người kề trâu lộn ngược đề phòng thất thoát tức là chữ Thất là mất (chữ thất xemg iống chữ ngưu con trâu đảo ngược lên và có chữ nhân là người ở kế).
  • Người nói chó buồn lo ngục tù, tức chữ Ngục (chữ ngục một bên có bộ như chữ nhân đứng tức người, giữa chữ ngôn là nói, bên phải có chữ khuyển là chó)
  • Một cái đấu vào cửa trống, chủ đấu tranh, tức là chữ Đấu (chữ đấu ở ngoài chữ môn là cửa, trong lòng chữ đấu là cái đấu đong lường)
  • Hai sợi tơ đèo cây trắng là triệu sự vui, tức là chũ Lạc (chữ lạc giữa chữ bạch là trắng, hai bên đèo hai bộ mịch là sợi tơ, dưới chữ mộc là cây).
  • Một người đứng trong cửa, mọi việc nên né mình mà tránh, tức là chữ Thiểm (chữ thiểm ngoài chữ môn là cửa, trong lòng có chữ nhân đứng là người đứng).
  • Hai người đứng hai bên cây, là triệu hỏi gì được nấy tức là chữ lai là tới (chữ lai giữa chữ mộc là cây, hai bên có hai chữ nhân là người).

Trên đây là ứng vào chiết tự chữ Hán.

Ghi chú: (*) Chữ Hán, đây nói về chiết tự, bây giờ ít dùng nhưng cũng xin dịch để xem cho biết.

  • Chí như tên vật, cũng lấy nghĩa đồng âm mà ứng vào các triệu như: thấy con Lộc (con Hươu) ấy là có lộc – Thấy Phong (con ong) là điềm được thụ phong – Thấy cây Lê là chủ phân biệt – Thấy cây Đào là triệu đào tẩu – Thấy cây Lý chiêm tụng sự đắc lý – Phùng quan (quan là cái mão), cầu quan ắt thành – Thấy hài (là giày, dép), trăm sự hòa giải – Thấy khạp (cái cốc đựng rượu) mọi việc đều hợp.

Hãy còn nhiều lắm khỏ tả cho hết, mà chỉ cần tại trí biến thông.

  • Lại như xét ở thân ta mà ứng vào sự việc của người, ắt phải hiểu rõ quan hệ khác nhau của lời nói – Tương phản nhau thì lời nói ngượng ngùng – Nghi kỵ nhau thì lời nói chống đối – Người hiền lành êm dịu thì ít nói – Người xao động tính nóng nảy, thì nói nhiều. Nói vu lỗi cho người hiền thì lời nói vu vơ không bằng cớ – Mất đức liêm khiết, chân thật, là lời nói chìu luồn.

Trên đây là nhất động, nhất tịnh, gần thì lấy chư thân mà ứng vào việc.

Đã suy luận Ngũ hành, tất phải tinh tường Bát quái quẻ tốt mà ứng cát, thì cát vẹn toàn; quẻ xấu mà ứng hung thì vẹn hung.

Quẻ và Ứng một tốt, một xấu, thì sự việc phần cát, phần hung.

Suy rõ Sinh Khắc chi lý, xét rõ động tịnh chi cơ, sự tương quan (có quan hệ với nhau), vật vật tương hợp. Như vậy là cái chân lý của Ngũ hành, Bát quái, Khắc Ứng, Động Tịnh của Dịch, ắt phải do cái linh động hoạt bát của tấc lòng (tâm linh).

Sự mầu nhiệm của huyền cơ, lại còn do ở thầy truyền, ví phỏng muôn chúng phân vân, duy chỉ có một lý do mà xuyên suốt, sự là do cơ mà nảy sanh, thì tất yếu phải am tường sự việc đang gặp phải.

Trên đây là cái lý của phép chiêm bốc, mà hay là ở tại người biết biến thông linh diệu.

Chí như, xưa Phương Sóc, bói mà biết được các vật dấu ẩn khuất; Chư Cát đứng trước ngựa, mà định được cát hung trong giây lát; Hoàng Phủ tự dưng khai phá được cái ảo diệu; Thần Phong giác ngộ nhờ điểu giác. Tuy sở dụng thì có khác nhau, nhưng đồng chung một ý, chẳng khác nhau vậy.

Tất cả trên đây nói về Tam Yếu linh ứng ky diệu.

Khá kết hợp ý chí tình của quỷ thần, mà hiệp với linh thuật Thi Quy (cách bói cỏ Thi và vỏ Rùa). Song le, người trong tam thế quá khứ, hiện tại và vị lai chưa thấu rõ sự huyền vi của tâm mà chẳng có thất khiếu (bảy lỗ: tai, mắt, mũi và miệng) cúng chưa giác ngộ được sự diệu lý; cho nên hiểu được thuật, cần phải kín đáo, người chẳng truyền thì không nên truyền, khinh thì làm tiết lậu thiên cơ, trọng thì vướng phải âm trách, gầy đắp sâu rộng thì khá nhập được đạo, áp dụng lâu dài ắt được thần thông.

Trên đây là bàn về sự kỳ diệu linh ứng, chẳng nên truyền xằng trao lẫn, cần thận trọng sâu kín, để bảo trọng lấy đạo vậy.

(Dẫn theo trang huyenhocvadoisong.com)

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button