Tử vi

Chương 4: đấu số chư tinh phân cấp cùng phân loại

Một, đấu số chư tinh phân cấp

Tử vi đấu sổ đem tất cả lớn nhỏ của tinh diệu dựa vào tác dụng lớn nhỏ, trình độ trọng yếu phân làm: Giáp, Ất, bính, đinh, Mậu năm loại cấp bậc. Giáp cấp tinh nặng nhất phải là vị thứ nhất, tại lúc luận mệnh chủ yếu đoán Giáp cấp tinh; Ất cấp tinh tiếp theo là vị thứ hai, gọi là loại phó tinh, khởi tác dụng phụ trợ giáp cấp chủ tinh; bính cấp tinh vị thứ ba, đinh cấp tinh vị thứ tư, Mậu cấp tinh vị thứ năm. Bính cấp tinh trở xuống của tinh diệu gọi chung là tạp diệu, tại nguyên cục trong mệnh bàn tác dụng không lớn, nhưng ở hạn vận lưu niên trong bàn tác dụng thì không thể nào đánh giá thấp.

Chư tinh cụ thể phân cấp như sau:

Bạn đang xem: Chương 4: đấu số chư tinh phân cấp cùng phân loại

1, Giáp cấp tinh: Tử vi tinh hệ sáu sao, Thiên phủ tinh hệ tám sao, tám cát tinh, sáu hung tinh, tứ hóa tinh, tổng 32 sao. Tại luận trúng đích chủ yếu đoán cái này 32 sao Giáp cấp chính chủ tinh cùng phụ tá tinh diệu (cụ thể tinh diệu xem tại đầu chương thứ 2).

2, Ất cấp tinh: Thiên quan, thiên phúc, thiên hư, thiên kh ốc, long trì, phượng các, Hồng Loan, thiên hỉ, cô thần, quả tú, phỉ liêm, phá toái, hoa cái, hàm trì, thiên đức, thiên tài, thiên thọ, thiên hình, thiên diêu, giải thần, thiên vu, Thiên Nguyệt, âm sát, thai phụ, phong cáo, bát tọa, tam thai, ân quang, thiên quý.

3, bính cấp tinh: Trường sinh mười hai thần, năm sinh bác sĩ mười hai thần, thiên thương, thiên sứ.

4, đinh cấp tinh: Lưu niên tinh bên trong gồm có: tuế kiến, long đức, thiên đức, tướng tinh, phàn an, tuế dịch, hoa cái.

5, Mậu cấp tinh: Lưu niên tinh bên trong hối khí, Tang Môn, quán sách, quan phù, tiểu hao, đại hao, bạch hổ, điếu khách, bệnh phù, kiếp sát, tai sát, Thiên Sát, tức thần, chỉ bối, hàm trì, nguyệt sát, vong thần.

Hai, đấu số chư tinh phân loại

(một) thông thường phân loại

1, phút chính tinh, phụ trợ tinh, phó tinh, cát tinh, sát tinh, t ứ hóa tinh, lưu tinh các loại, giải thích xem thêm Chương 03:.

2, phụ tá tám tinh diệu giải thích cùng khác nhau:

◎ phụ diệu: Thiên khôi, thiên việt, Tả Phụ, hữu bật bốn tinh diệu gọi là phụ diệu, thành công nhờ vào ” lực của nó”, tức vì người khác trợ lực, trợ lực thường thường là thiên nhiên, không cần vất vả cùng cố gắng tận lực truy cầu liền có thể tự nhiên mà được.

◎ tá diệu: Văn Xương, văn khúc, lộc tồn, thiên mã bốn tinh diệu gọi là tá diệu, thành công cần dựa vào” cố gắng”, tức cần nhờ chính mình cá nhân cố gắng tranh thủ mới có thể thu được thành công, không thể ỷ lại người khác trợ giúp tới lấy được thành công.

(hai) lấy đấu(ý là nam đẩu bắc đẩu) phân loại

1, bắc đẩu chư tinh tổng 12 sao

Chủ tinh: Tử vi (ở đây chủ tinh là bắc đẩu ý là tinh diệu trọng tâm)

Chính tinh: Tham lang, c ự môn, lộc tồn, văn khúc, liêm trinh, vũ khúc, phá quân. (này th ất tinh tức là tục xưng bắc đẩu thất tinh)

Trợ tinh: Tả Phụ, hữu bật, kình dương, đà la.

2, sao Nam Đẩu chư tinh tổng 11 sao

Chủ tinh: Thiên phủ (ở đây chủ tinh là sao Nam Đẩu ý là tinh diệu trọng tâm)

Chính tinh: Thiên lương, thiên cơ, thiên đồng, thiên tướng, thất sát, Văn Xương. (Thiên phủ tinh cộng thêm sáu sao này, tục gọi là sao Nam Đẩu thất tinh)

Trợ tinh: Thiên khôi, thiên việt, hỏa tinh, linh tinh.

3, trung thiên chư tinh tổng 40 sao

Chủ tinh: Thái âm, thái dương (ở đây chủ tinh là trung thiên ý là tinh diệu trọng tâm)

Chính tinh: Hóa lộc, hóa quyền, hóa khoa, hóa kị.

Trung thiên 17 cát tinh: Thai ph ụ, phong cáo, ân quang, thiên quý, thiên quan, thiên phúc, tam thai, bát tọa, long trì, phượng các, thiên tài, thiên thọ, Hồng Loan, thiên hỉ, thiên mã, giải thần, thiên vu.

Trung thiên 17 hung tinh: Thiên không, địa kiếp, địa không, thiên hình, thiên diêu, thiên thương, thiên sứ, thiên hư, thiên khốc, cô thần, quả tú, tiệt không, tuần không, phỉ liêm, phá toái, Thiên Nguyệt, âm sát.

4, năm sinh bác sĩ mười hai sao: Bác sĩ, lực sĩ, thanh long, tiểu hao, tướng quân, tấu sách, Phi Liêm, hỉ thần, bệnh phù, đại hao, phục binh, quan phù.

5, trường sinh mười hai sao: Trường sinh, mộc dục, quan đái, lâm quan, đế vượng, suy, bệnh, tử, mộ, tuyệt, thai, dưỡng.

Ba, cát hung phân loại

Cát tinh thiện tinh phần lớn là phú quý Phúc Thọ, ôn hòa hiền lành, lục thân duyên tốt, chính diện đặc tính tốt đẹp của tinh diệu, loại sao này phần lớn lực sáng tạo không bằng hung tinh ác tinh; hung tinh ác tinh phần lớn là nghèo hèn, lao lực, kiên cường, ngoan độc, tật bệnh, tàn tật, kiện cáo, lục thân duyên mỏng, có lòng tham, háo sắc, tính tình biến đổi thất thường các loại mặt trái đặc tính của tinh diệu, loại sao này phần lớn lực sáng tạo dồi dào.

Tử vi đấu sổ cát tinh cùng hung tinh căn bản là cùng loại, thể hiện cát cùng hung, thiện và ác cân bằng sinh thái. Cát hung thiện ác của sao chỉ là tương đối, không phải là tuyệt đối, cát tinh cũng có khuyết điểm, hung tinh cũng có một mặt tốt. Phía dưới phân loại bình thường là chỉ bản chất mà nói, tại trên thực tế có thể hay không đưa đến thiện hoặc ác, nó phụ thuộc có hay không miếu hãm, đắc địa, đắc lệnh, càng quan trọng hơn là xem các sao ở giữa phối hợp có hài hòa hay không. Phía dưới là đơn tinh nhận định, không bao gồm trường hợp tổ hợp nhiều sao.

1, cát tinh thiện tinh: Tử, phủ, vũ, nhật, nguyệt, lương, cơ, tướng, đồng, lộc, xương, khúc, phụ, bật, khôi, việt, hóa khoa, hóa quyền, hóa lộc, trung thiên 17 cát tinh (xem l ại phần trên hai của (hai) của 3), bác sĩ mười hai sao bên trong bác sĩ, lực sĩ, thanh long, tướng quân, tấu sách, hỉ thần, trường sinh mười hai sao bên trong trường sinh, quan đái, lâm quan, đế vượng, thai, dưỡng.

2, hung tinh ác tinh loại: Tham, cự, liêm, phá, sát, dương, đà, hỏa, linh, hóa kị, trung thiên

17 hung tinh (xem lại phần trên hai của (hai) của 3), bác sĩ mười hai sao bên trong tiểu hao, Phi Liêm, bệnh phù, đại hao, phục binh, quan phù, trường sinh mười hai sao bên trong mộc dục, suy, bệnh, tử, mộ, tuyệt.

Bốn, phụ lục: Chủ tinh mệnh cùng chủ tinh thân

Chủ tinh mệnh là chính tinh thủ cung mệnh, chi phối người phú quý nghèo hèn họa phúc thọ yểu, cùng tinh thần tư tưởng có quan hệ, chỗ tiên thiên tinh thần, là đặc tính tiên thiên vốn có. Tại cụ thể trong sử dụng, chủ tinh mệnh tốt xấu chỉ để phán đoán cung mệnh cát hung bổ sung.

Chủ tinh thân là chính tinh thủ ở cung thân, nắm giữ dinh dưỡng, tu vi (rèn luyện tu sửa tâm tính hành đông), âm đức, phúc đức các loại, chỗ tiên thiên của tinh lực tinh khí, là tiên thiên hành vi d ẫn đến hành vi bây giờ, cùng cung thân đồng dạng, là nơi mà cả đời để tâm vào đó, thuộc nhân tố hậu thiên nỗ lực cố gắng. Vận dụng cụ thể, chủ tinh thân tốt xấu chỉ để phán đoán cung thân cát hung bổ sung.

Chủ tinh mệnh, thân nên miếu vượng, tại cung sinh vượng, cùng cát tinh đồng cung thì là cát luận; nếu thất hãm, tại tử tuyệt không vong của cung, cùng sát tinh đồng cung thì là hung luận. Chủ tinh của mệnh thân miếu vượng, tại cung sinh vượng, đến cung sinh, có thể tăng cường sức mạnh của mệnh thân cung, lại được cát tinh cát cách, tất có thể tăng mạnh cường độ phú quý phúc thọ; như gặp thất hãm, tại cung tử tuyệt, bị cung khắc, có thể yếu đi sức mạnh của mệnh thân cung, lại gặp hung tinh hung cách, thì tăng cường nghèo hèn yểu tàn cường độ.

Chủ tinh của mệnh thân nhập mệnh thân cung, từ ta ý thức đặc biệt mạnh; là rồng về biển lớn, vừa vặn được chỗ tốt, gặp cát càng cát, gặp hung giảm hung.

Chủ tinh của mệnh thân nhập huynh đệ cung, dựa vào huynh đệ bằng hữu, cát thì huynh đệ bằng hữu hòa thuận có trợ lực, hung thì không cùng thiếu trợ lực.

Chủ tinh của mệnh thân nhập phu thê cung, chú tr ọng phu thê sinh hoạt, cát thì phu xướng phụ tùy, hung thì cãi lộn bất hòa, hình khắc.

Chủ tinh của mệnh thân nhập tử tôn cung, coi trọng chăm sóc tử tôn, nhân viên, cát thì bảo vệ tử tôn nhân viên, làm chủ lực mạnh; hung thì trái lại.

Chủ tinh của mệnh thân nhập cung tài bạch, truy cầu tài vật, cát thì tài lớn, hung thì khó

cầu.

Chủ tinh của mệnh thân nhập cung tật ách, cung cát chủ công việc hoàn cảnh tốt, thiếu niên đắc chí; cung hung chủ tật bệnh, nghĩ quẩn, thất bại.

Chủ tinh của mệnh thân nhập nô bộc cung, là ti tiện cung vị, dù có cát tinh cũng lao lực; lão bản kiêm làm công. Gặp quý nhân lộc mã cũng cát.

Chủ tinh của mệnh thân nhập cung quan lộc, truy cầu sự nghiệp, cuồng công việc, cát thì sự nghiệp trôi chảy Mà phú quý, hung thì bất lợi.

Chủ tinh của mệnh thân nhập cung thiên di, truy cầu trở nên nổi bật, nghĩ ra ngoài phát triển, biến động khá lớn, tốt nhất nên đi xa nhà; cát thì tăng lợi, được người kính trọng, hung thì giảm lợi, không có nhân duyên, cho làm con nuôi người khác hoặc vợ lẽ con thứ.

Chủ tinh của mệnh thân nhập cung điền trạch, coi trọng gia đình cùng kinh doanh, cát thì gia tăng tài phú, bất động sản; hung thì thiếu tụ tài.

Chủ tinh của mệnh thân nhập phúc đức cung, truy cầu hưởng thụ, cát thì hưởng thanh phúc, hung thì giảm phúc.

Chủ tinh của mệnh thân nhập cung phụ mẫu, dựa vào phụ mẫu, đi theo danh vọng, cát thì hiếu thuận, có danh vọng; hung thì thiếu áo thiếu lộc, bất hiếu, quan phi, có tiếng xấu.

(Tử vi đẩu số tinh hoa tập thành – Nhóm Thiên Hỏa Đồng Nhân biên dịch)

Đăng bởi: Phật Giáo Việt Nam

Chuyên mục: Học tử vi

Xem thêm Chương 4: đấu số chư tinh phân cấp cùng phân loại

Một, đấu số chư tinh phân cấp

Tử vi đấu sổ đem tất cả lớn nhỏ của tinh diệu dựa vào tác dụng lớn nhỏ, trình độ trọng yếu phân làm: Giáp, Ất, bính, đinh, Mậu năm loại cấp bậc. Giáp cấp tinh nặng nhất phải là vị thứ nhất, tại lúc luận mệnh chủ yếu đoán Giáp cấp tinh; Ất cấp tinh tiếp theo là vị thứ hai, gọi là loại phó tinh, khởi tác dụng phụ trợ giáp cấp chủ tinh; bính cấp tinh vị thứ ba, đinh cấp tinh vị thứ tư, Mậu cấp tinh vị thứ năm. Bính cấp tinh trở xuống của tinh diệu gọi chung là tạp diệu, tại nguyên cục trong mệnh bàn tác dụng không lớn, nhưng ở hạn vận lưu niên trong bàn tác dụng thì không thể nào đánh giá thấp.

Chư tinh cụ thể phân cấp như sau:

1, Giáp cấp tinh: Tử vi tinh hệ sáu sao, Thiên phủ tinh hệ tám sao, tám cát tinh, sáu hung tinh, tứ hóa tinh, tổng 32 sao. Tại luận trúng đích chủ yếu đoán cái này 32 sao Giáp cấp chính chủ tinh cùng phụ tá tinh diệu (cụ thể tinh diệu xem tại đầu chương thứ 2).

2, Ất cấp tinh: Thiên quan, thiên phúc, thiên hư, thiên kh ốc, long trì, phượng các, Hồng Loan, thiên hỉ, cô thần, quả tú, phỉ liêm, phá toái, hoa cái, hàm trì, thiên đức, thiên tài, thiên thọ, thiên hình, thiên diêu, giải thần, thiên vu, Thiên Nguyệt, âm sát, thai phụ, phong cáo, bát tọa, tam thai, ân quang, thiên quý.

3, bính cấp tinh: Trường sinh mười hai thần, năm sinh bác sĩ mười hai thần, thiên thương, thiên sứ.

4, đinh cấp tinh: Lưu niên tinh bên trong gồm có: tuế kiến, long đức, thiên đức, tướng tinh, phàn an, tuế dịch, hoa cái.

5, Mậu cấp tinh: Lưu niên tinh bên trong hối khí, Tang Môn, quán sách, quan phù, tiểu hao, đại hao, bạch hổ, điếu khách, bệnh phù, kiếp sát, tai sát, Thiên Sát, tức thần, chỉ bối, hàm trì, nguyệt sát, vong thần.

Hai, đấu số chư tinh phân loại

(một) thông thường phân loại

1, phút chính tinh, phụ trợ tinh, phó tinh, cát tinh, sát tinh, t ứ hóa tinh, lưu tinh các loại, giải thích xem thêm Chương 03:.

2, phụ tá tám tinh diệu giải thích cùng khác nhau:

◎ phụ diệu: Thiên khôi, thiên việt, Tả Phụ, hữu bật bốn tinh diệu gọi là phụ diệu, thành công nhờ vào ” lực của nó”, tức vì người khác trợ lực, trợ lực thường thường là thiên nhiên, không cần vất vả cùng cố gắng tận lực truy cầu liền có thể tự nhiên mà được.

◎ tá diệu: Văn Xương, văn khúc, lộc tồn, thiên mã bốn tinh diệu gọi là tá diệu, thành công cần dựa vào” cố gắng”, tức cần nhờ chính mình cá nhân cố gắng tranh thủ mới có thể thu được thành công, không thể ỷ lại người khác trợ giúp tới lấy được thành công.

(hai) lấy đấu(ý là nam đẩu bắc đẩu) phân loại

1, bắc đẩu chư tinh tổng 12 sao

Chủ tinh: Tử vi (ở đây chủ tinh là bắc đẩu ý là tinh diệu trọng tâm)

Chính tinh: Tham lang, c ự môn, lộc tồn, văn khúc, liêm trinh, vũ khúc, phá quân. (này th ất tinh tức là tục xưng bắc đẩu thất tinh)

Trợ tinh: Tả Phụ, hữu bật, kình dương, đà la.

2, sao Nam Đẩu chư tinh tổng 11 sao

Chủ tinh: Thiên phủ (ở đây chủ tinh là sao Nam Đẩu ý là tinh diệu trọng tâm)

Chính tinh: Thiên lương, thiên cơ, thiên đồng, thiên tướng, thất sát, Văn Xương. (Thiên phủ tinh cộng thêm sáu sao này, tục gọi là sao Nam Đẩu thất tinh)

Trợ tinh: Thiên khôi, thiên việt, hỏa tinh, linh tinh.

3, trung thiên chư tinh tổng 40 sao

Chủ tinh: Thái âm, thái dương (ở đây chủ tinh là trung thiên ý là tinh diệu trọng tâm)

Chính tinh: Hóa lộc, hóa quyền, hóa khoa, hóa kị.

Trung thiên 17 cát tinh: Thai ph ụ, phong cáo, ân quang, thiên quý, thiên quan, thiên phúc, tam thai, bát tọa, long trì, phượng các, thiên tài, thiên thọ, Hồng Loan, thiên hỉ, thiên mã, giải thần, thiên vu.

Trung thiên 17 hung tinh: Thiên không, địa kiếp, địa không, thiên hình, thiên diêu, thiên thương, thiên sứ, thiên hư, thiên khốc, cô thần, quả tú, tiệt không, tuần không, phỉ liêm, phá toái, Thiên Nguyệt, âm sát.

4, năm sinh bác sĩ mười hai sao: Bác sĩ, lực sĩ, thanh long, tiểu hao, tướng quân, tấu sách, Phi Liêm, hỉ thần, bệnh phù, đại hao, phục binh, quan phù.

5, trường sinh mười hai sao: Trường sinh, mộc dục, quan đái, lâm quan, đế vượng, suy, bệnh, tử, mộ, tuyệt, thai, dưỡng.

Ba, cát hung phân loại

Cát tinh thiện tinh phần lớn là phú quý Phúc Thọ, ôn hòa hiền lành, lục thân duyên tốt, chính diện đặc tính tốt đẹp của tinh diệu, loại sao này phần lớn lực sáng tạo không bằng hung tinh ác tinh; hung tinh ác tinh phần lớn là nghèo hèn, lao lực, kiên cường, ngoan độc, tật bệnh, tàn tật, kiện cáo, lục thân duyên mỏng, có lòng tham, háo sắc, tính tình biến đổi thất thường các loại mặt trái đặc tính của tinh diệu, loại sao này phần lớn lực sáng tạo dồi dào.

Tử vi đấu sổ cát tinh cùng hung tinh căn bản là cùng loại, thể hiện cát cùng hung, thiện và ác cân bằng sinh thái. Cát hung thiện ác của sao chỉ là tương đối, không phải là tuyệt đối, cát tinh cũng có khuyết điểm, hung tinh cũng có một mặt tốt. Phía dưới phân loại bình thường là chỉ bản chất mà nói, tại trên thực tế có thể hay không đưa đến thiện hoặc ác, nó phụ thuộc có hay không miếu hãm, đắc địa, đắc lệnh, càng quan trọng hơn là xem các sao ở giữa phối hợp có hài hòa hay không. Phía dưới là đơn tinh nhận định, không bao gồm trường hợp tổ hợp nhiều sao.

1, cát tinh thiện tinh: Tử, phủ, vũ, nhật, nguyệt, lương, cơ, tướng, đồng, lộc, xương, khúc, phụ, bật, khôi, việt, hóa khoa, hóa quyền, hóa lộc, trung thiên 17 cát tinh (xem l ại phần trên hai của (hai) của 3), bác sĩ mười hai sao bên trong bác sĩ, lực sĩ, thanh long, tướng quân, tấu sách, hỉ thần, trường sinh mười hai sao bên trong trường sinh, quan đái, lâm quan, đế vượng, thai, dưỡng.

2, hung tinh ác tinh loại: Tham, cự, liêm, phá, sát, dương, đà, hỏa, linh, hóa kị, trung thiên

17 hung tinh (xem lại phần trên hai của (hai) của 3), bác sĩ mười hai sao bên trong tiểu hao, Phi Liêm, bệnh phù, đại hao, phục binh, quan phù, trường sinh mười hai sao bên trong mộc dục, suy, bệnh, tử, mộ, tuyệt.

Bốn, phụ lục: Chủ tinh mệnh cùng chủ tinh thân

Chủ tinh mệnh là chính tinh thủ cung mệnh, chi phối người phú quý nghèo hèn họa phúc thọ yểu, cùng tinh thần tư tưởng có quan hệ, chỗ tiên thiên tinh thần, là đặc tính tiên thiên vốn có. Tại cụ thể trong sử dụng, chủ tinh mệnh tốt xấu chỉ để phán đoán cung mệnh cát hung bổ sung.

Chủ tinh thân là chính tinh thủ ở cung thân, nắm giữ dinh dưỡng, tu vi (rèn luyện tu sửa tâm tính hành đông), âm đức, phúc đức các loại, chỗ tiên thiên của tinh lực tinh khí, là tiên thiên hành vi d ẫn đến hành vi bây giờ, cùng cung thân đồng dạng, là nơi mà cả đời để tâm vào đó, thuộc nhân tố hậu thiên nỗ lực cố gắng. Vận dụng cụ thể, chủ tinh thân tốt xấu chỉ để phán đoán cung thân cát hung bổ sung.

Chủ tinh mệnh, thân nên miếu vượng, tại cung sinh vượng, cùng cát tinh đồng cung thì là cát luận; nếu thất hãm, tại tử tuyệt không vong của cung, cùng sát tinh đồng cung thì là hung luận. Chủ tinh của mệnh thân miếu vượng, tại cung sinh vượng, đến cung sinh, có thể tăng cường sức mạnh của mệnh thân cung, lại được cát tinh cát cách, tất có thể tăng mạnh cường độ phú quý phúc thọ; như gặp thất hãm, tại cung tử tuyệt, bị cung khắc, có thể yếu đi sức mạnh của mệnh thân cung, lại gặp hung tinh hung cách, thì tăng cường nghèo hèn yểu tàn cường độ.

Chủ tinh của mệnh thân nhập mệnh thân cung, từ ta ý thức đặc biệt mạnh; là rồng về biển lớn, vừa vặn được chỗ tốt, gặp cát càng cát, gặp hung giảm hung.

Chủ tinh của mệnh thân nhập huynh đệ cung, dựa vào huynh đệ bằng hữu, cát thì huynh đệ bằng hữu hòa thuận có trợ lực, hung thì không cùng thiếu trợ lực.

Chủ tinh của mệnh thân nhập phu thê cung, chú tr ọng phu thê sinh hoạt, cát thì phu xướng phụ tùy, hung thì cãi lộn bất hòa, hình khắc.

Chủ tinh của mệnh thân nhập tử tôn cung, coi trọng chăm sóc tử tôn, nhân viên, cát thì bảo vệ tử tôn nhân viên, làm chủ lực mạnh; hung thì trái lại.

Chủ tinh của mệnh thân nhập cung tài bạch, truy cầu tài vật, cát thì tài lớn, hung thì khó

cầu.

Chủ tinh của mệnh thân nhập cung tật ách, cung cát chủ công việc hoàn cảnh tốt, thiếu niên đắc chí; cung hung chủ tật bệnh, nghĩ quẩn, thất bại.

Chủ tinh của mệnh thân nhập nô bộc cung, là ti tiện cung vị, dù có cát tinh cũng lao lực; lão bản kiêm làm công. Gặp quý nhân lộc mã cũng cát.

Chủ tinh của mệnh thân nhập cung quan lộc, truy cầu sự nghiệp, cuồng công việc, cát thì sự nghiệp trôi chảy Mà phú quý, hung thì bất lợi.

Chủ tinh của mệnh thân nhập cung thiên di, truy cầu trở nên nổi bật, nghĩ ra ngoài phát triển, biến động khá lớn, tốt nhất nên đi xa nhà; cát thì tăng lợi, được người kính trọng, hung thì giảm lợi, không có nhân duyên, cho làm con nuôi người khác hoặc vợ lẽ con thứ.

Chủ tinh của mệnh thân nhập cung điền trạch, coi trọng gia đình cùng kinh doanh, cát thì gia tăng tài phú, bất động sản; hung thì thiếu tụ tài.

Chủ tinh của mệnh thân nhập phúc đức cung, truy cầu hưởng thụ, cát thì hưởng thanh phúc, hung thì giảm phúc.

Chủ tinh của mệnh thân nhập cung phụ mẫu, dựa vào phụ mẫu, đi theo danh vọng, cát thì hiếu thuận, có danh vọng; hung thì thiếu áo thiếu lộc, bất hiếu, quan phi, có tiếng xấu.

(Tử vi đẩu số tinh hoa tập thành – Nhóm Thiên Hỏa Đồng Nhân biên dịch)

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button