Tử vi

Phương pháp cơ bản luận đoán Tứ hóa Hà Lạc

△一、气数位分析论断法

– Phép luận đoán phân tích Khí Số Vị

从本宫为1数起,逆数到第9宫,称为本宫的”气数位”。例如从命宫为1,逆数到9宫为官禄宫,那么官禄宫就称为命宫的气数位;又如从财帛宫为1,逆数到9为命宫,则命宫就是财帛宫的气数位,其余类推。总之,各宫的官禄宫就是其气数位。

Từ một cung bất kì ghi là 1, đi ngược chiều đến cung thứ 9, thì cung đó gọi là Khí Số Vị của cung ta vừa xét. Ví dụ như từ Mệnh cung là 1, thì đếm ngược đến 9 là cung Quan lộc, vậy thì cung Quan lộc được gọi là Khí Số Vị của cung Mệnh; lại như từ Tài bạch cung đếm 1, ngược đến 9 là Mệnh cung, vậy Mệnh cung chính là Khí Số Vị của Tài bạch cung, các cung khác cũng đều vậy. Tóm lại, cung Quan lộc của các cung chính là Khí Số Vị của cung đó.

官禄宫是对命宫制约的宫位,所以,各宫的成败皆由各宫的官禄宫(气数位)决定。

Quan lộc cung là cung vị chế ước (quản chế, ước thúc) đối với Mệnh cung, cho nên, các cung trên lá số thành hay bại đều do Quan lộc cung (Khí Số Vị) của cung đó quyết định.

所谓”气数”,就是指有无生气,有生气则命存,无生气则命亡。气数位则是生气库藏的地方。既然是气,就有动态、影象、虚而不实的意思。所以,论命应以本宫为”体”,以气数位为”用”,气数位法只起兆示和辅助作用,仍应以本宫的星情论断法为主为实。

Sở dĩ nói là “Khí số”, là chỉ có hay không có “Sinh khí”, có Sinh khí thì Mệnh tồn, chẳng có Sinh khí thì Mệnh vong. Khí Số Vị chính là nơi mà tàng chứa Sinh khí. Nếu đã là Khí, liền có Động thái, Hình tượng, có ý rằng “Hư mà chẳng Thực”. Cho nên, luận mệnh nên lấy bản cung làm Thể, lấy Khí Số Vị làm Dụng, phép luận Khí Số Vị chỉ nêu lên tác dụng của dự báo và bổ trợ, vẫn nên dùng phép luận đoán tinh tình của bản cung làm căn bản, làm xác tín.

河洛四化法很重视”气数位”,以本宫(十二宫均可为本宫)的气数宫位的天干去四化,看化出的四化星落宫好坏,以应本宫的动态吉凶情况。看”气数位”,最重要的是命、财、官三宫,这三宫互为气数位。气数位论断法,不仅适用于原盘,也适用

于各级活盘,而且要上下盘双线交流以寻迹象,断其吉凶。一般命局看气运、格局高低,大限看时空,流年看破败点。

Phép xem Hà Lạc Tứ hóa rất xem trọng Khí Số Vị, lấy Tứ hóa của Thiên can cung Khí Số Vị của cung bất kì, xem Tứ hóa khi hóa xuất ở cung là tốt hay xấu, để xem tình trạng cát-hung của bản cung. Xem Khí Số Vị, quan trọng nhất là 3 cung Mệnh – Tài – Quan, ba cùng này Khí Số Vị của nhau. Phép luận đoán Khí Số Vị, không chỉ thích hợp với Nguyên bàn, mà cũng thích hợp với các cấp Hoạt bàn, hơn nữa cùng với sự trao đổi các tuyến của Thượng bàn, Hạ bàn để tìm “dấu tích”, để đoán cát-hung. Thông thường, Mệnh cục xem Khí vận, Cách cục cao thấp; Đại hạn xem về Không gian, Thời gian; Lưu niên xem điểm “phá bại”.

气数位法最重视父疾线和兄友线,四化只有入本宫的父疾线和兄友线才起重要作用,四化不入本宫的父疾线或兄友线,则表示不好也不坏,平常而己。父疾线主有无光明、幸运、贵气名望和行政文书管理才能,成败作用大于兄友线,偏于天成;兄友线主才干、能力、财气和财经管理才能,成败偏于自身的努力。

Phép xem KSV (Khí Số Vị) xem trọng nhất là tuyến Phụ-Tật và Huynh-Nô, Tứ hóa chỉ cần nhập vào tuyến Phụ Tật và Huynh Nô của bản cung tạo ra tác dụng trọng yếu, Tứ hóa nếu không nhập vào hai tuyến này, thì biểu thị không tốt cũng không xấu, bình thường mà thôi. Tuyến Phụ Tật chủ về có hay không có sự tài năng về: Tỏa sáng, May mắn, quí khí danh vọng và hành chính văn thư, quản lý, còn Thành hay Bại đa phần nằm ở tuyến Huynh Nô, tuyến Phụ Tật là yếu tố Thiên thành (trời cho); Tuyến Huynh Nô chủ về tài năng, năng lực, khả năng quản lý kinh tế, vận khí về tiền bạc, thành hay bại nghiêng về phần nỗ lực của bản thân.

“气数位”化三吉入本宫的父疾线主有光明、幸运、贵气名望和行政文书管理才能,成就天成,宜走行政文书等求名路线,父母宫成败天成,疾厄宫偏于身体力行;化忌入本宫的父疾线则主无光明,前途暗淡,难有贵气名望,不宜走行政文书等求名路线,可从事经商、技术等,且须努力拼搏。

KVS Tam cát hóa (Lộc, Quyền, Khoa) nhập vào tuyến Phụ Tật của bản cung chủ cho có sự rực rỡ, may mắn, danh tiếng, tài năng trong hành chính, văn thư, quản lý, thành tựu do “trời cho”, hợp theo đuổi việc cầu danh trong hành chính văn thư… Phụ mẫu cung thành bại là “trời cho”, Tật ách cung thì thiên hành động của bản thân; Hóa kị nhập tuyến Phụ Tật chủ không rực rỡ, tiền đồ ảm đạn, khó có công danh, không nên theo đuổi sự nghiệp hành chính văn thư… có thể làm công việc kinh doanh, kĩ thuật…. vả lại nên tự mình nỗ lực.

“气数位”化三吉入本宫的兄友线主有才干、能力、财气和财经管理才能,宜走财经路线,亦可有天然的助力;化忌入本宫的兄友线主无才干,无成就,无财气,甚至破财不聚,不宜经商,可走技术路线,且须努力拼搏。

KSV hóa Tam cát nhập tuyến Huynh Nô của bản cung chủ có tài cán, năng lực, tài khí và tài năng quản lý tài chính, nên chọn hướng về tài chính, cũng có thể có trợ lực tự nhiên; Hóa kị nhập tuyến Huynnh Nô chủ không có tài năng, thành tựu, tài khí, thậm chí phá tài bất tụ, không nên làm kinh doanh, có thể chọn nghề kĩ thuật, cũng cần nỗ lực.

若以命宫为本宫,官禄宫是命宫的气数位,所以论人的贵气、地位与运数,则以命宫为体,以官禄宫为用,以命宫的强弱论一生命数的高低,用官禄宫的天干四化来断一生的运数、机遇、吉凶祸福,应本命的荣辱,最重视父疾线。如果官禄宫干化三吉入父疾线,则一生前途光明,青云直上,有贵气名望,可在行政机构任职(化禄入表成功来得很天然幸运,权入是打拼得来,科入是得贵人助而成功);若化忌入父疾线,表损光明,一生命运多阻,无贵气名望,是非麻烦事多。如果官禄宫化三吉入兄友线,则其人能干,在事业运上将会有成就,宜财经界;若化忌入兄友线,表无才干,事业无成就,不宜经商。

Nếu như xét Mệnh cung, Quan lộc cung chính là KSV của Mệnh cung, cho nên luận quý khí, địa vị và vận số của đời người, thì lấy Mệnh cung là Thể, lấy Quan lộc cung làm Dụng, lấy sự cường-nhược của Mệnh cung luận một đời Mệnh là cao hay là thấp, dùng Thiên can của Quan lộc cung phi Tứ hóa để đoán vận số, cơ hội, cát hung họa phúc của đời người, còn sự vinh-nhục của bản mệnh, cần xem kĩ ở tuyến Phụ Tật. Nếu như Thiên can Quan lộc cung hóa Tam cát nhập tuyến Phụ Tật, thì tiền đồ rực rỡ, một mạch (đi) lên tận mây xanh, có quí khí danh vọng, có thể nhận chức vụ cao trong hành chính (Hóa lộc nhập biểu thị thành công đến là vận may tự nhiên, Hóa quyền nhập thì vất vả mà đạt được, Hóa khoa nhập thì nhờ có quí nhân hỗ trợ mà thành công); Nếu như Hóa kị nhập tuyến Phụ Tật, tất khó mà rực rỡ, một đời Mệnh Vận nhiều trở ngại, chẳng có quí khí danh vọng, thị phi phiền não nhiều. Nếu như Quan lộc cung hóa Tam cát nhập tuyến Huynh Nô, tất là người có tài cán, ở vận Quan lộc sẽ có thành tựu, nhiều khả năng ở trong giới kinh doanh; Nếu như Hóa kị nhập Huynh Nô, thì chẳng có tài cán, sự nghiệp không có thành tựu, chẳng nên kinh thương.

官禄宫化忌导至事业失败,必是一种人为因素,例如自己估计不足,或因个性问题造成。化忌所入之宫,表有生之年倒霉事的原因必与该宫有关;忌冲入那一宫,坏事就发生在那一宫,该宫的人事要倒霉;例如化忌入子女宫冲田宅宫,事必与子女、田宅有关,或与桃花事有关;化忌入兄弟宫冲交友宫,倒霉事必为兄弟朋友而起,交友为朋友、工人,冲交友就表示朋友、工人有问题,没有助益,没有搞头。官禄是我的事业,不怕忌入,忌入表拼搏,拼出成果来;但忌冲则凶,对事业不利。疾厄是官禄的田宅,是自己工作的地方、工厂、公司、商店,忌冲疾厄则表示有倒店的可能;忌入命迁线,表里外不顺,进退维谷。化曜入命,表工作有得做。若官禄四化不入父疾线或兄友线,则表示不好也不坏,平常而己。化曜入父母、兄弟的力量较实,入疾厄、奴仆的力量较虚。

Quan lộc cung Hóa kị dẫn đến sự nghiệp thất bại, tất là một loại nguyên nhân do con người tạo ra, ví dụ như tự mình dự đoán không đầy đủ, hoặc vì tạo thành vì lý do cá tính.

Cung mà Hóa kị nhập vào, biểu thị có nguyên nhân của việc không may mắn có quan hệ với cung đó; Hóa kị xung nhập vào cung nào, thì sự việc xấu sẽ phát sinh tại cung đó, lĩnh vực nhân sự mà cung đó quản chế sẽ gặp xui xẻo; Ví dụ như Hóa kị nhập Tử nữ cung xung Điền trạch cung, sự việc tất sẽ có liên quan tới Tử tức, Điền trạch hoặc có quan hệ với việc ái tình; Hóa kị nhập Huynh đệ xung Giao hữu cung (Nô bộc), việc không may tất nhiên sẽ vì anh em, bạn bè mà khởi lên, Giao hữu nghĩa là bạn bè, người làm công, xung Giao hữu cũng biểu thị bạn bè, người làm công có vấn đề, chẳng giúp ích được, cũng không làm chủ nổi; Quan lộc là sự nghiệp của ta, không sợ Kị nhập, Kị nhập biểu thị vất vả, vất vả sẽ có thành quả; Nhưng Kị xung là không tốt, đối với sự nghiệp không có lợi. Tật ách là Điền trạch cung của Quan lộc, là địa chỉ, nhà xưởng, công ty, cửa tiệm của chính mình, Kị xung Tật ách biệu thị có khả năng “mất bảng hiệu”; Kị nhập tuyến Mệnh Di, thì trong ngoài không thuận, tiền thoái đều khó khăn. Hóa diệu nhập Mệnh, biểu thị công việc phải làm. Nếu Quan lộc cung (phi) Tứ hóa không nhaapjf vào tuyến Phụ Tật hoặc Huynh Nô, thì không tốt cũng không xấu, bình thường mà thôi. Hóa diệu nhập Phụ mẫu, Huynh đệ thì “lực lượng” tương đối Thực, nếu nhập Tật ách, Nộ bộc thì lực lượng tương đối Hư.

官禄宫四化对精神生活产生作用,官忌入大限(即大限入官禄化忌之宫),主本大限内是非较多。

Quan lộc cung Tứ hóa có tạo ra tác dụng đối cuộc sống tinh thần, Quan Kị nhập Đại hạn (Tức là Đại hạn ở cung mà Quan lộc Hóa Kị), chủ trong Đại hạn nhiều thị phi.

若以财帛宫为本宫,命宫是财帛宫的气数位,所以论财运,以财帛宫为体,以命宫为用,用命宫的天干四化来断财运好坏。若命宫化禄入子田线,子田线为财帛的父疾线,表示可以有财名,因名得财,或因财而扬名,而且不会有财务纠纷;命宫化忌入子田线,主无财名,因财失名,财务纠纷多。若命宫化禄入父疾线,因父疾线为财帛的兄友线,因而在钱财上较善管理,可以有成就,发财利;命宫化忌入父疾线,则无财利或失财利(尤其是命宫化忌入子女宫冲田宅宫,表示一生与钱财无缘,不宜经商,只宜上班、技艺工作)。命宫化出的忌,主钱财,导至事业失败时,必与钱财有关,决定钱财损在什么地方,可能因资金短缺,靠借贷创业,结果如汤洗雪,入不敷出,越欠越多。命宫化忌入官禄宫,表示对任何事情都必亲自处理才放心。看那一大限发财,须看命宫化忌入宫的下一宫位(顺行运)或上一宫位(逆行运)。命忌不入子田、父疾线,一般主平顺,无多大风险。

Nếu như xét cung Tài Bạch, Mệnh cung sẽ là KSV của Tài Bạch cung, cho nên luận Tài vận, sẽ lấy Tài bạch cung là Thể, lấy Mệnh cung làm Dụng, dùng Tứ hóa từ Thiên can Mệnh cung để đoán Tài vận là tốt hay không tốt. Nếu Mệnh cung Hóa lộc nhập tuyến Tử Điền, tuyến Tử Điền chính là tuyến Phụ Tật của Tài Bạch cung, biểu thị có thế có tài-danh, nhờ danh mà được tiền tài, hoặc vì tiền tài mà dương danh, và cũng không có những phiền nhiễu, tranh chấp về tiền bạc; Mệnh cung Hóa kị nhập tuyến Tử Điền, chủ không có tài-danh, vì tiền bạc mà mất danh tiếng, tiền bạc nhiều phiền nhiễu. Nếu như Mệnh cung Hóa lộc nhập tuyến Phụ Tật, vì tuyến Phụ Tật chính là tuyến Huynh Nô của

Tài bạch, cho nên ở lĩnh vực tiền tài có sở trường quản lý, có thể có thành tựu, phát tiền tài, lợi ích; Mệnh cung Hóa kị nhập tuyến Phụ Tật, thì không có tài lợi hoặc mất tài lợi (đặc biệt là Mệnh cung Hóa kị nhập Tử Tức cung xung Điền trạch cung, biểu thị một đời không có duyên với tiền tài, không nên kinh doanh, nên làm công ăn lương, làm công việc về nghệ thuật, kĩ năng). Mệnh cung xuất Hóa kị, chủ tiền tài, dẫn đến lúc sự nghiệp thất bại, chắc chắn có quan hệ với tiền tài, đánh giá được tiền tài tổn hại là ở chỗ nào, có khả năng do thiếu vốn liếng, nhờ vào mượn tiền tài mà lập nghiệp, kết quả là như “dội nước sôi vào tuyết”, thu chẳng bù chi, càng nợ càng nhiều. Mệnh cung Hóa kị nhập Quan lộc cung, biểu thị đối với bất kì việc gì đều phải tự mình xử lý thì mới an tâm. Để xem đại hạn nào phát tài, cần cung vị sau cung vị mà Mệnh cung nhập Hóa kị vào (đối với Đại vận thuận hành) hoặc cung vị trước cung vị mà Mệnh cung nhập Hóa kị vào (đối với Đại vận nghịch hành). Mệnh cung Hóa kị không nhập tuyến Tử Điền, Phụ Tật, thông thường chủ sự bình thuận, không có nhiều nguy hiểm lớn.

论事业,官禄宫为本官,财帛宫是官禄宫的气数位,所以论事业,以官禄宫为体,以财帛宫为用,用财帛宫的天干四化来断事业的成败。若财帛宫干化三吉入兄友线,因兄友线是官禄的父疾线,因而表示在事业上名气好,容易得到提拨的机遇;若财帛宫干化忌入兄友线,则事业难以有名望。再者,若化禄逢空劫忌冲破,则表示所做的事业将要成功时,即美景成空。若财帛宫干化三吉入子田线,因子田线是官禄的兄友线,因而表示事业上能干,易成功;若化忌入子田线,则事业上因自己无能而无成就。由财帛宫化出的忌,导至事业失败,是因为事业出了差错,例如出现强劲的对手,订单出问题等。财帛化忌入官禄,表借贷投资。

Luận về sự nghiệp, thì xét Quan lộc cung, Tài bạch cung trở thành KSV của Quan lộc cung, cho nên luận về Sự nghiệp, lấy Quan lộc cung là Thể, lấy Tài bạch cung làm Dụng, dùng Tứ hóa từ Thiên can của Tài bạch cung để đoán thành bại của sự nghiệp. Nếu Thiên can Tài bạch hóa Tam cát nhập tuyến Huynh Nô, vì tuyến Huynh Nô chính là tuyến Phụ Tật của Quan lộc cung, cho nên biểu thị có danh tiếng tốt trong sự nghiệp, dễ có được cơ hội đề bạt, cất nhắc; nếu Tài bạc cung Thiên can Hóa kị nhập tuyến Huynh Nô, thì biểu thị sự nghiệp khó có danh vọng. Lại giả như, Hóa kị gặp Không Kiếp Kị xung phá, thì biểu thị vào lúc thành công của sự nghiệp, liền “mỹ cảnh thành không”. Nếu Tài bạch cung Thiên can Tam hóa cát nhập tuyến Tử Điền, vì tuyến Tử Điền chính là tuyến Huynh Nô của Quan lộc cung, nên biệu thị trong lĩnh vực sự nghiệp có tài cán, dễ thành công; nếu Hóa kị nhập tuyến Tử Điền, thì trong sự nghiệp vì không có tài năng nên không có thành tựu. Do Tài bạch cung xuất Hóa kị, dẫn đến sự nghiệp thất bại, là vì sự nghiệp mà có ra sai sót, ví dụ như xuất hiện đối thủ cường mạnh, đơn đặt hàng có vấn đề… Tài bạch Hóa kị nhập Quan lộc, biểu thị mượn tiền tài mà đầu tư.

一个人一生最大的成就表现在命宫(表人格的升华)、官禄宫(表事业的腾达)、财帛宫(表财富的多少)等三个方面。但还要看三者的配合情况以及运限是否相助,以及

四化之间的相互作用,而吉凶以化禄和化忌为重。方外人的同步断诀主要应用本命盘的命宫忌来断财运,用官禄宫的忌来断运途,用财帛宫的忌来断事业。

Thành tựu lớn nhất của cả một đời người biểu hiện ở ba phương diện: Mệnh cung (biểu thị sự thăng hoa của con người), Quan lộc cung (biểu thị sự thành đạt trong sự nghiệp), Tài bạch cung (biểu thị tài phú nhiều ít). Nhưng còn cần xem sự tình hính phối hợp của 3 phương diện này và vận hạn có sự tương trợ hay không, rồi đến tác dụng tương hộ giữa Tứ hóa, mà cát-hung thì trọng ở Hóa lộc và Hóa kị. Rồi mới đồng bộ đoán quyết, chủ yếu dùng Mệnh cung hóa Kị để đoán Tài vận, dùng Quan lộc cung Hóa kị để đoán vận-đồ (cho cả đời người – Mệnh), lấy Tài bạch cung Hóa kị để đoán Sự nghiệp.

其余各宫均可为本宫,以其气数位的宫干四化入宫情况来论本宫有无生气。

Ngoài ra đối vác các cung khác, lấy trạng thái KSV Thiên can Tứ hóa để luận cũng đó có hay không có Sinh khí.

例如兄弟宫又为母亲宫,要了解母亲有无生气,可以兄弟宫为本宫,则田宅宫为兄弟的气数值,看田宅宫干的四化落宫情况,若田宅宫干化禄入命迁线,因命迁线为母亲宫的父疾线,故表示母亲受教育良好,名誉较高;若化忌入此线,则表示母亲一辈子难有名声,困难重重;化忌入迁移宫冲命宫同论,表母亲受教育程度不高,没有社会地位。若田宅宫干化禄入夫官线,因夫官线为母亲的兄友线,表母亲在事业上很能干,有成就;反之,化忌入夫妻宫冲官禄宫,表母亲在事业上没有任何成就。

Ví dụ như Huynh đệ cung khi đóng vai trò Mẫu thân cung, muốn hiểu rõ Mẫu thân có hay không có sinh khí, có thể lấy Huynh đệ làm bản cung, thì Điền trạch cung là KSV của Huynh đệ cung, xem tình hình Tứ hóa do Điền trạch can cung Tứ hóa rơi vào cung nào, nếu Điền trạch can cung Hóa lộ nhập tuyến Mệnh Di, vì tuyến Mệnh Di chính là tuyến Phụ Tật của Mẫu thân, nên biểu thị Mẫu thận nhận được sự dưỡng dục tốt, danh tiếng khá cao nếu Hóa kị nhập vào tuyến này, thì biểu thị Mẫu thân một đời khó có danh tiếng, khó khăn trùng trùng; Hóa kịa nhập Thiên di cung xung Mệnh cũng cũng luận như vậy, biểu thị Mẫu thân không nhận được trình độ giáo dục cao, không có vị trí xã hội. Nếu Điền trạch can cung Hóa lộc nhập tuyến Phu Quan, vì tuyến Phu Quan là tuyến Huynh Nô của Mẫu thân, biểu thị Mẫu thân có tài cán trong sự nghiệp, có thành tựu; ngược lại, Hóa kị nhập Phu thê cũng xung Quan lộc cung, biểu thị Mẫu thân không có thành tựu gì trong sự nghiệp.

论子女有无出息,以子女为本官,父母宫为子女的气数位。父母化禄入夫妻宫,因夫妻是子女的父疾线(文书线),故表示子女聪明智慧,读书很轻松,成绩好,日后青云直上,光宗耀祖;父母化权入夫妻,表示子女能认真读书,成绩也不错;父母

化科入夫妻,表子女入学读书,是靠老师或别人帮助的;父母化忌入夫妻,表示子女智力不好,读书成绩不好,在文书上有麻烦。若父母化吉入财福线,因财福线是子女的兄友线,表示子女在财经方面有成就;父母化忌入财福线,则表子女财经上无成就。

Luận Tử Tức có hay không có tiền đồ, lấy Tử tức cung là bản cung, Phụ mẫu cung là KSV của Tử tức cung. Phụ mẫu Hóa lộc nhập Phu thê, vì Phu thê cung nằm trong tuyến Phụ Tật của Tử Tức cung (tuyến Văn thư), nên biểu thị con cái thông minh trí tuệ, học hành dễ dàng, thành tích tốt, ngày sau một mạch lên cao, khiến tổ tông vinh dự; Phụ mẫu Hóa quyền nhập Phu thế, biểu thị con cái nghiêm túc học hành, thành tích cũng rất tốt; Phụ mẫu Hóa khoa nhập Phu thế, thì con cái khi đi học, nhờ vào thầy cô giáo hay người người giúp đỡ; Phụ mẫu Hóa kị nhập Phu thê, biểu thị năng lực của con cái không tốt, thành tích học tập không cao, trong vấn đề Văn-thư có phiền não. Nếu Phụ mẫu Hóa cát nhập tuyến Tài Phúc, vì tuyến Tài Phúc chính là tuyến Huynh Nô của Tử Tức, biểu thị con cái trên lĩnh vực tài chính kinh doanh có thành tựu; Phụ mẫu Hóa kị nhập tuyến Tài Phú, thì con cái trong lĩnh vực tài chính kinh doanh không có thành tựu.

田宅是家,是房地产,是财之库。田宅的气数位为疾厄宫,疾厄宫干化吉入夫官线,因夫官线是田宅的父疾线,表示家世清白,家族在社会上有较高的声誉地位,不会有房地产纠纷。若疾厄宫干化吉入财福线,因财福线是田宅的兄友线,表示一家人主要走经商或财经界者居多,也主家族在财经方面较有成就。疾厄宫干化忌入夫官线或财福线,则家庭不幸,家庭财经困难。

Điền-trạch là nhà cửa, là bất động sản, là kho của tiền tài. Khí-số-vị của cung Điền-trạch là cung Tật-ách, cung Tật-ách Thiên-can hóa cát nhập tuyến Phu-Quan, bởi vì tuyến Phu-Quan chính là tuyến Phụ-Tật của Điền-trạch, biểu thị gia thế thanh bạch, gia tộc ở trong xã hội có danh dự và địa vị khá cao, không có tranh chấp về bất động sản. Nếu cung Tật-ách Thiên can hóa cát nhập tuyến Tài-Phúc, bởi vì tuyến Tài-Phúc chính là tuyến Huynh-Nô của Điền-trạch, biểu thị người trong gia đình chủ yếu đi kinh doanh hoặc người trong giới tài chính và kinh tế chiếm đa số, cũng chủ gia tộc ở phương diện tài chính và kinh tế tương đối có thành tựu. Cung Tật-ách Thiên can Hóa Kị nhập tuyến Phu-Quan hoặc tuyến Tài-Phúc, thì gia đình bất hạnh, tài chính và kinh tế của gia đình gặp trắc trở.

福德宫表祖德、财源和嗜好之宫,福德的气数位是迁移宫。迁移宫干化吉入父疾线,因父疾线是福德的兄友线,表示祖业茂盛;若化忌入父疾线,则表示祖业不景气。

父母宫是父亲之宫位,也是相貌宫和遗传位。奴仆宫是父母宫的气数位,奴仆宫干的四化入宫情况可看出父亲有无生气,也可看出本身有何暗疾,宿疾,不明原因的疾病。

Cung Phúc-đức biểu thị tổ đức, là cung của tài nguyên và sở thích, khí-số-vị của cung Phúc-đức là cung Thiên-di. Cung Thiên-di Thiên can hóa cát nhập tuyến Phụ-Tật, bởi vì tuyến Phụ-Tật chính là tuyến Huynh-Nô của Phúc-đức , biểu thị tổ nghiệp tốt đẹp; nếu Hóa Kị nhập tuyến Phụ-Tật, thì biểu thị tổ nghiệp không có sự phát đạt.

Cung Phụ-mẫu là cung vị của phụ-thân, cũng là cung tướng-mạo và di truyền. Cung Nô-Bộc chính là khí-số-vị của cung Phụ-mẫu, xét tình trạng khi cung Nô-Bộc Thiên can Tứ Hóa nhập vào các cung thì khán ra được phụ-thân có hay không có khí (hữu lực), cũng có thể khán ra bản thân có bệnh kín, bệnh cũ, bệnh không rõ nguyên nhân gì.

疾厄为身体,兄弟为疾厄的气数位,故兄弟的四化决定身体的健康、寿数。

Tật-ách là thân thể, cung Huynh-đệ là khí-số-vị của cung Tật-ách, cho nên cung Huynh-đệ khí Tứ Hóa quyết định sự khỏe mạnh của thân, và tuổi thọ.

如何同时看四化之间产生的复合作用呢?例如禄入兄友而忌入父疾,不能以双忌论。禄入兄友,表示走财经路线,事业有成;忌入父疾线,为文书,是非一大堆;综合看,做生意做得很好,但常常和人家打官司;所以在选择事业上,应避免带文书契约的工作。如果禄入父疾而忌入兄友,则表示作文书或带经纪、服务性的工作较有成就,而搞投资经商则较会有麻烦。

Làm thế nào xem được tác dụng phức hợp do Tứ Hóa cùng lúc tạo ra? Ví dụ như Hóa Lộc nhập tuyến Huynh-Nô mà Hóa Kỵ nhập tuyến Phụ-Tật, không thể lấy song-kị để luận được. Hóa Lộc nhập tuyến Huynh-Nô, biểu thị làm việc ở lĩnh vực tài chính và kinh tế, sự nghiệp có thành công; Hóa Kỵ nhập tuyến Phụ-Tật, làm việc trong mảng văn phòng, thì thị phi tích tụ ngày một lớn; tổng hợp lại thì, làm kinh doanh thì tốt, nhưng hay cùng với người khác có tranh cãi, kiện cáo; cho nên trong việc chọn nghề nghiệp, nên tránh công việc liên quan đến công-văn, khế-ước. Nếu như Hóa Lộc nhập tuyến Phụ-Tật mà Hóa Kị nhập tuyến Huynh-Nô, thì biểu thị công việc văn phòng hoặc quản lý, công việc mang tính phục vụ thì sẽ có thành tựu, mà làm đầu tư kinh doanh thì sẽ có những phiền phức.

如果禄、忌同宫或在对冲宫,以双忌论,但必须是同—

宫干化出的禄、忌才算,不相干的宫位之化耀只作闲神看。例如,生年干庚使太阳化禄入父母宫,而命宫干甲又使太阳化忌入父母,这不能算双忌,而且此禄还有解忌的能力。所谓化解,不是抵消,而是减轻作用。

Nếu như Lộc, Kị đồng cung hoặc ở cung đối xung, dùng song-kị luận, nhưng phải là do cùng do một can cung hóa xuất Lộc, Kị thì mới tính, nếu không phải hóa diệu do cung vị liên quan tạo ra thì chỉ xem như “thông thường”. Ví dụ như, can Canh của năm sinh khiến cho Thái-Dương Hóa-Lộc nhập cung Phụ-mẫu, mà cung Mệnh can Giáp lại khiến cho Thái-Dương Hóa-Kị, cái này không thể tính là song-kị, mà lại đến đây Lộc còn có năng lực hóa giả Hóa-Kị năng lực. Cái gọi là hóa giải, không phải là triệt tiêu, mà là làm giảm bớt tác dụng.

“气数位”化三吉入本宫的三方为吉;化忌入本宫的三方则有阻滞,但不算大凶;化忌冲本宫的三方则为大凶。

问题是气数位化三吉入本宫父疾线、兄友线而又化忌入本宫的三方,或者化忌入本宫的父疾线、兄友线而又化三吉入本宫的三方,将如何论断呢?两者相互化解缓和作用,吉者减吉,凶者减凶。四化入本宫父疾线、兄友线为兆象、机遇,吉凶较虚;四化入三方,三方为”我”宫,故吉凶较实;两者皆吉则增吉,一吉一忌则吉凶均减力。

原命、财、官三宫所化之忌,要入大限的父疾线才以大凶论;原命、财、官三宫所化三吉,要入大限的父疾线才以大吉论。

Khí-số-vị hóa tam cát nhập tam phương của bản-cung là cát; Hóa Kị nhập tam phương của bản-cung thì có trở ngại, nhưng không tính là đại hung; Hóa Kị xung tam phương của bản-cung thì là đại hung.

Vấn đề là khí-số-vị hóa tam cát nhập tuyến Phụ-Tật của bản-cung, tuyến Huynh-Nô của bản-cung; mà khi đó Hóa Kị nhập tam phương của bản-cung. Hoặc Hóa Kị nhập tuyến Phụ-Tật của bản-cung, tuyến Huynh-Nô của bản-cung; mà khi đó hóa tam cát nhập tam phương của bản-cung. Thì làm thế nào để luận đoán? Hai lực lượng này cùng nhau tạo ra tác dụng hóa giải hòa hoãn, cái cát cũng giảm cát, mà điều hung cũng giảm hung. Tứ Hóa nhập tuyến Phụ-Tật của bản-cung, tuyến Huynh-Nô của bản-cung thì là điềm tượng, cơ duyên, mức độ cát-hung tương đối “hư”; Tứ Hóa nhập tam phương, tam phương chính là cung của “Ta”, cho nên mức độ cát-hung tương đối “thực”; cả hai đều là cát thì tăng cát, một cát một kị thì cát-hung đều giảm lực.

Hóa-Kị của 3 cung Nguyên-Mệnh, Tài, Quan tạo ra, phải nhập tuyến Phụ-Tật của đại-hạn thì mới luận là đại hung; tam-cát của 3 cung Nguyên-Mệnh, Tài, Quan tạo ra, phải nhập tuyến Phụ-Tật của đại-hạn thì mới luận là đại cát.

△二、上中下三级相扣论断法

– Phép luận đoán sự ảnh hưởng lẫn nhau của ba cấp Thượng Trung Hạ

这一方法要结合”命局与限年四化的关系”一节来看。四化分为命盘、大限、流年、流月、流日、流时等六级。”在天成象,在地成形,在人成事”的三阶段法则同样适用于这六级中的任意三级,但必须是从上到下的三级,结果可分为命、限、年一组,限、年、月一组,年、月、日一组,月、日、时一组,共组成四组上中下三级盘。以这些三级四化的关系来分析事情的发生、发展和结果,称为三级相扣论断法,

主要用来断应期的,就是说,凡同一类人事吉凶必须以三级同看,上级兆示,中级定型,下级为应期。

Phương pháp này cần kết hợp với tiết “Quan hệ giữa Mệnh cục và niên hạn tứ hóa” để xem. Tứ Hóa chia làm Mệnh-bàn, đại-hạn, lưu-niên, lưu-nguyệt, lưu-nhật, lưu-thời 6 cấp. “Tại Thiên thành tượng, tại Địa thành hình, tại Nhân thành sự” chia làm 3 giai đoạn có thể áp dụng với 3 cấp tùy ý, nhưng phải là từ trên xuống dưới liên tục 3 cấp, kết quả có thể chia làm Mệnh, đại-hạn, lưu-niên thành một tổ hợp; đại-hạn, lưu-niên, lưu-nguyệt thành một tổ hợp; lưu-niên, lưu-nguyệt, lưu-nhật thành một tổ hợp; lưu-nguyệt, lưu-nhật, lưu-thời thành một tổ; tất cả có 4 tổ hợp gồm 3 cấp thượng trung hạ cấp. Lấy quan hệ của

3 cấp Tứ Hóa này để phân tích sự việc (gồm 3 giai đoạn): phát sinh, phát triển và kết quả, gọi là “tam cấp tương khấu luận đoán pháp”, chủ yếu dùng để đoán sự ứng-kì, tóm lại là, phàm đồng cát-hung của người hay việc, nhất định phải lấy cùng xem 3 cấp, thượng cấp chỉ ra điềm báo, trung cấp thành hình, hạ cấp là ứng kỳ.

本级四化的吉凶,首先兆示在本级,然后才发展到下级。原命局必然会有某个或吉或凶之人事;再看哪一大限中这个人事发展变化较大的,则吉凶就已基本定型,这个人事发展变化不大的大限则不用看;再看定型的大限中哪一年这个人事发展变化最大的,则吉凶的人事就必然在此年发生。例如,原局官禄落陷带煞化忌,兆示此人一生事业不利,当大限入官禄宫或大限官禄宫化忌冲本命官禄宫时则事业会大败,当流年入官禄宫或流官入忌冲之宫时,失业倒店就必然发生了。

Cát hung của Tứ Hóa ở mỗi cấp độ, đầu tiên sẽ chỉ ra điềm-báo ở chính cấp độ đó, sau đó mới phát triển ở cấp độ bên dưới. Mệnh gốc tất nhiên sẽ có chứa những thông tin về cát hung của nhân-sự (những việc trong đời người); cần xem đại-hạn nào sẽ xảy ra sự biến hóa trọng đại đó (tương ứng với thông tin có sẵn ở Mệnh-cục), thì ở đại hạn này cát hung đã cơ bản định hình, những đại hạn mà nhân-sự không có biến hóa lớn thì không cần xem những đại-hạn đó; lại xem những việc đã định hình trong đại-hạn thì sẽ có sự phát triển biến hóa lớn nhất ở năm nào, thì việc cát-hung của nhân-sự tất nhiên sẽ phát sinh vào năm đó. Ví dụ như, cung Quan-lộc gốc lạc hãm có Sát tinh Hóa Kị, chỉ ra điềm báo rằng sự nghiệp sẽ bất lợi, khi đại-hạn nhập cung Quan-lộc hoặc cung Quan-lộc của đại-hạn Hóa Kị xung cung Quan-lộc của bản mệnh thì thì sự nghiệp sẽ thất bại to lớn, khi lưu-niên nhập cung Quan-lộc hoặc cung Quan-lộc của lưu-niên hóa Kị xung, thì tất nhiên việc mất sự nghiệp, phá sản sẽ xảy ra.

上级盘为”体”,下级盘为”用”。例如,原盘化忌入大限,”体”冲”用”,凶事较轻,且仅主迹象;大限化忌冲原盘,”用”冲”体”,凶事必然发生,凶重,且主十年多凶。原盘化三吉入大限,吉小,且仅主迹象;大限化三吉入原盘,吉事必然发生,吉重,且主十年吉。大限与流年,流年与流月同理。

Thượng-cấp bàn là “Thể”, hạ-cấp bàn là “Dụng” . Ví dụ như, nguyên bàn Hóa Kị nhập đại-hạn, tức là “Thể” xung “Dụng”, việc hung là nhẹ, mà chỉ chủ cho có dấu hiệu; đại-hạn Hóa Kị xung nguyên bàn, “Dụng” xung “Thể”, tất nhiên phát sinh việc hung, việc hung là nặng, mà lại chủ mười năm nhiều việc hung. Nguyên bàn hóa tam cát nhập đại-hạn, may mắn là nhỏ, mà chỉ chủ cho có dấu hiệu; đại-hạn hóa tam cát nhập nguyên-bàn, tất nhiên phát sinh việc may mắn, việc may mắn là lớn, mà cũng chủ mười năm cát lợi. Đại-hạn cùng lưu-niên, lưu-niên cùng lưu-nguyệt cũng luận như vậy.

上级盘的四化应于下级盘(如年对月)审迹象,下级盘的四化入上级盘(如月对年)断吉凶。应先审迹象而后断吉凶,也就是先审命盘而后看限运。

Quan sát Tứ Hóa của bàn Thượng-cấp ứng với bàn hạ-cấp (như Niên đối với Nguyệt) là đểxem xét dấu hiệu (của cát-hung), Tứ Hóa của bàn hạ-cấp nhập vào bàn thượng-cấp (như Nguyệt đối với Niên) là để đoán cát hung. Trước tiên xem xét dấu hiệu, rồi sau đó đoán cát hung, cũng chính là trước hết xem xét Mệnh-bàn mà rồi sau khán vận hạn.

上级盘四化入下级盘(如生年入大限)审迹象,看”定数”,意思是下级某限年行到上级四化的宫位时,兆示该限年会有吉凶的迹象(发生时间),发生的吉凶事与四化入下级盘的宫名表意有关(应于何人事)。例如,原盘化忌入疾厄宫,大限入到原盘父母宫,大限受忌冲,兆示此大限内自己会有不利的事情。但凶事会不会发生?与原局疾厄宫及父母宫的吉凶、大限四化及流年吉凶等都有关系,不可一概而论。

Tứ Hóa của bàn thượng-cấp nhập bàn hạ-cấp (như năm sinh nhập đại-hạn) là để xem xét dấu hiệu, xem “Định-số”, ý nghĩa là xem hành hạn năm nào của hạ-cấp đi vào cung vị của Tứ Hóa của thượng-cấp, chỉ ra điềm báo rằng năm đó sẽ xảy ra việc cát-hung dấu hiệu (thời gian phát sinh), sựphát sinh cát hung cùng với Tứ Hóa nhập cung vị nào của bàn hạ-cấp thì sẽ có liên quan (nghĩa là ứng với việc cụ thể nào). Ví dụ như, Hóa Kị của nguyên-bàn nhập cung Tật-ách, đại-hạn ở cung Phụ-mẫu của nguyên-bàn, đại-hạn bị Kị xung, chỉ ra điềm báo trong đại-hạn này sẽ có chuyện bất lợi. Nhưng hung-sự phát sinh hay không phát sinh? Cùng với cát-hung của cung Tật-ách, cung Phụ-mẫu trong nguyên cục; và cùng với cát-hung của Tứ Hóa của đại-hạn, Tứ Hóa của lưu-niên đều có quan hệ, không thể vơ đũa cả nắm.

下级盘四化入上级盘(如大限入原盘)断吉凶,看”应数”,意思是本级四化入上级某宫,即对上级该宫有影响,表在什么时间什么地方发生了什么事,结果如何?发生的吉凶事与四化入上级盘的宫名和星曜表意有关,但必须在原局兆示凶的情况下才会发生。例如,大限化禄入大限的什么宫位表示我这十年把心思放在什么地方,但是要看这步限将发生什么事情,必须看所入的这一宫位在原盘上是什么宫位,如

果大限盘为夫妻表示这十年很疼老婆,但夫妻在原盘上是福德,表示此限我关心的是赚钱的事。又如,原局兆示父母凶,大限化忌冲原局父母,则主父母在此大限内必有不利事发生,什么事与星情表意有关,凶的程度,即结果与宫的组合及旺衰有关。

Tứ Hóa của bàn hạ-cấp bàn thượng-cấp (như đại-hạn nhập nguyên-bàn) đoán cát hung, xem “ứng-số”, ý nghĩa là bản cấp Tứ Hóa nhập cung nào đó của bàn thượng-cấp, tức đối cung này của thượng-cấpcó ảnh hưởng, biểu thị vào lúc nào và ở đâu xảy ra chuyện gì, kết quả ra sao? Cát hung phát sinh thì cùng với cung vị của thượng-cấp mà Tứ Hóa và ý nghĩa của tinh diệu (ở cung đó) có liên quan, nhưng ở nguyên cục nhất định phải có điềm báo cát-hung thì mới có thểphát sinh. Ví dụ như, đại-hạn Hóa-Lộc nhập cung vị nào của đại-hạn biểu thị mười năm này ta đặt tâm tư chỗ nào, thế nhưng để xem đại hạn này xảy ra việc gì, thì nhất định phải xem cung vị này ở trên nguyên bàn là cung vị nào, nếu như

ở bàn đại-hạn là Phu-thê biểu thị cái này mười năm này rất yêu vợ, nhưng Phu-thê ở trên nguyên bàn là Phúc-đức, biểu thị đến hạn nàychuyện ta quan tâm là kiếm tiền. Lại như, nguyên cục có điềm báo phụ mẫu hung, đại-hạn Hóa Kị xung cung Phụ-mẫu của nguyên cục, thì họ chủ phụ mẫu ở trong đại-hạn này tất phát sinh chuyện, là chuyện gì thì cùng với tính chất các sao (trong cung này) có liên quan, mức độ của việc hung, và của kết quả thì có liên quan với tổ hợp sao, và sự vượng-suy ở cung này.

上中下三级相扣论断法又分为三个方法,分论如下:

Phép luận đoán “thượng trung hạ tam cấp liên hoàn” lại phân làm ba phương pháp, như sau:

◎(一)、天人合一法

◎ (1). Thiên Nhân hợp nhất pháp

原命盘化给大限用,大限化给流年用,流年化回去给命盘用,方外人前辈称为”天人合一”。我们把他扩展到其他上中下三级,以上级盘化给中级盘用,中级盘化给下级盘用,下级盘化回去给上级盘用,统称为天人合一法。

我们以命、限、年这三级为例来说明”天人合一”法的具体应用。

Tứ Hóa của mệnh-bàn dụng ở đại-hạn, Tứ Hóa của đại-hạn dụng ở lưu-niên, Tứ Hóa của lưu-niên trở ngược lại dụng ở mệnh-bàn, tiền nhân gọi là “Thiên nhân hợp nhất” . Chúng ta đem điều này mở rộng đến thượng trung hạ ba cấp, lấy Tứ Hóa thượng-cấp dụng tại trung-cấp, Tứ Hóa trung-cấp dụng tại hạ-cấp, Tứ Hóa hạ-cấp trở ngược lại dụng ở thượng-cấp, gọi chung là “Thiên nhân hợp nhất pháp”.

Chúng ta lấy Mệnh, Hạn, Niên ba cấp làm thí dụ để minh họa ứng dụng cụ thể của “Thiên nhân hợp nhất pháp”.

原命盘化给大限用,就是原命盘的四化飞入大限十二宫的某宫,就表该大限所发生的事与该大限的该宫名称表意有关。例如,原命宫化忌入大限的父母宫,麻烦事就与父母或文书契约有关,因是坐忌,麻烦事还不算大,大问题在忌冲之宫,忌冲疾厄,疾厄是身体、工作场所,表身体有灾疾,也表会失业倒店,依”一六共宗”,冲疾则命不保,是大破败的迹象。

Tứ Hóa của mệnh-bàn dụng ở đại-hạn, chính là Tứ Hóa của mệnh-bàn bay vào cung nào đó trong mười hai cung của đại-hạn, thì biểu thị sự việc phát sinh tại đại-hạn này cùng với tên gọi của cung đó trong đại-hạn là có sự liên quan. Ví dụ như, nguyên-mệnh cung Hóa Kị nhập cung Phụ-mẫu của đại-hạn, trong việc của phụ-mẫu hoặc công văn khế ước có sự phiền toái, bởi vì là Hóa Kị đóng ở đó, chuyện phiền toái cũng không tính là lớn, vấn đề lớn là ở cung bị Hóa Kị xung, Kị xung Tật-ách, Tật-ách là thân thể, là nơi làm việc, biểu thịthân thể có tai họa, bệnh tật, cũng biểu thị cómất việc làm, đổ vỡ sự nghiệp, dựa vào “Nhất lục cộng tông”, xung cung Tật thì mệnh-bất-túc, là dấu hiệu của sự phá-bại lớn.

同理,大限四化留给流年用,当流年走到大限四化宫时应吉凶,就是说,大限的四化宫位,当流年进入该宫位时,吉凶事就发生了。

Cũng thế, Tứ Hóa của đại-hạn dụng ở lưu-niên, khi lưu-niên đi tới cung (có) Tứ Hóa của đại-hạn Tứ Hóa thì ứng với việc cát-hung, nghĩa là, cung vị Tứ Hóa của đại-hạn, khi lưu-niên tiến nhập vào cung vị này, thì việc cát-hung sẽ xảy ra.

大限孕育的事件,然必应于十年内的某一年,这就是”下应流年”的意思。大限十年的情况将会怎样?有三种看法:一种是看原盘禄忌成为流年的什么宫位来定,例如看凶事,主要看原盘冲宫成为流年的什么宫位来定,若原盘冲宫成为流年的子女宫,表对子女不利,而且子女为合伙宫,表示这一年合伙的事情会散伙;又如冲宫成为流年的财帛宫,表示这一年要破财;当冲宫成为流年的疾厄宫时,表示身体多灾,又疾厄受冲会损业倒店。第二种看法是看大限的禄忌成为流年的什么宫位,例如,大限化出的忌,流年走到,该年就不利,流年走到忌冲之宫更不利。第三种看法是以流年化回去给命盘用。

Sự kiện thai nghén ở đại-hạn, tất sẽ ứng vào một năm nào đó trong mười năm của đại-hạn, đây chính là ý nghĩa của “hạ ứng lưu-niên”. Tình huống của mười năm đại-hạn sẽ như thế nào? Có ba cách nhận định: Một là, xem Lộc Kị của nguyên-bàn nhập vào cung vị nào của lưu-niên, ví dụ như xem hung-sự, chủ yếu xem nguyên-bàn xung cung vị nào của lưu-niên để định đoạt, nếu nguyên-bàn xung cung Tử-nữ của lưu-niên, biểu thị đối với con cái bất lợi, mà Tử-nữ còn là cung của sự góp-vốn, biểu thị năm này góp vốn sẽ tổn thất, tan vỡ; nếu như xung cung Tài-bạch của lưu-niên, biểu thị năm này mất mát tiền bạc; khi xung cung Tật-ách của lưu-niên, biểu thị thân thể lắm bệnh, vừa Tật-ách bị xung thì cũng có thể tổn hại đến sự nghiệp. Hai là, xem Lộc Kị của đại-hạn lộc kị cung vị nào của lưu-niên, ví dụ như, đại-hạn hóa xuất Kị, khi lưu-niên đi tới, năm đó sẽ bất lợi, lưu-niên đi tới cung mà Kị xung lại càng không lợi. Ba là, lấy Tứ Hóa của lưu-niên trở ngược về dụng ở cấp mệnh-bàn.

流年化回给命盘用,就是以流年干飞四化,看入原命盘的什么宫位来看该年的吉凶,亦属”上应本命”,看”应数”,即是这一年会发生什么事。原命为”体”,流年为”用”。发生什么事?必须以原命盘十二宫的名称表意来论。例如,流年化忌入事业,表这一年埋头于事业,工作很积极,但劳而无功;忌冲夫妻,痴情工作,忘了夫妻,夫妻关系出问题;又依一六共宗,顺数至第六宫为田宅宫,冲六则一亡,田宅为财库,财库破,要破财了;用冲体,大凶。

大限是个转折点,一般流年的吉凶要在大限吉凶的基础上论断,也就是说要命、限、年三盘相扣来看。

Tứ Hóa của Lưu-niên quay ngược về dụng ở mệnh-bàn, chính là lấy can của lưu-niên để phi Tứ Hóa, xem nhập vào cung vị nào của nguyên-mệnh để định ra cát-hung, cũng thuộc về “Thượng ứng bản-mệnh”, để xem “Ứng số “, tức là năm này sẽ phát sinh chuyện gì. Nguyên-mệnh là “Thể”, lưu-niên là “Dụng”. Phát sinh ra chuyện gì? Nhất định phải dựa vào mười hai cung trên nguyên-mệnh để luận. Ví dụ như, lưu-niên Hóa Kị nhập Quan-lộc, biểu thì năm này vùi đầu vào sự nghiệp, làm việc rất tích cực, nhưng vất vả mà không thành công; Kị cũng xung Phu-thê, mải mê công tác, mà bỏ quên mối quan hệ vợ chồng, quan hệ vợ chồng có vấn đề; lại dựa vào “nhất lục cộng tông”, thuận số đếm đến cung thứ 6 là cung Điền-trạch, xung lục tắc nhất vong (xung cung Phu-thê thì làm ảnh hưởng xấu đến cung Điền Trạch), Điền-trạch là tài-khố, tài-khố bị phá, thì hao tài; mà Dụng xung Thể, là đại hung.

Đại-hạn là một bước ngoặt, cùng một sự cát-hung giống nhau ở lưu-niên cát-hung cần phải xem trên cơ sở cát-hung của đại-hạn để phán đoán suy luận, nói cách khác cần dựa vào 3 bàn Mệnh, Hạn, Niên liên hợp với nhau để luận đoán.

◎(二)、中盘四化上传下应法

◎ (2). Trung bàn Tứ Hóa Thượng truyền hạ ứng pháp

中盘是个关键,是上下的转折点,所以特别重视中盘。中盘四化上应下传法,就是在上中下三级中,以中级的宫干飞四化,看四化飞入上级盘的什么宫位,即为”上传”;再以上级的这个宫位成为下级的同类宫位时为吉凶的应期,即为下应。

所谓同类,就是指不同级而同一名称之宫,例如,本命财帛宫与大限财帛宫或流年财帛宫为同类,本命事业宫与大限事业宫或流年事业宫为同类,其余类推。

Trung-bàn là then chốt, là bước ngoặt chuyển tiếp giữa thượng-bàn và hạ-bàn, vì vậy phải đặc biệt coi trọng trung-bàn. Tứ hóa của trung-bàn “thượng ứng, hạ truyền” (trên thì ứng, dưới thì truyền), chính là ở trong ba cấp thượng trung hạ, lấy trung-cấp can cung phi Tứ Hóa, xem Tứ Hóa bay vào cung vị nào của thượng-cấp, tức là “Thượng truyền”; lại lấy cung vị này của thượng-cấp đểứng với cung vị đồng loại ở hạ-cấp để định ra ứng kì của cát-hung ứng-kì, tức là “Hạ ứng”.

Cái gọi là đồng loại, chính là chỉ cấp thì khác nhau mà danh xưng (tên gọi) của cung là giống nhau, ví dụ như, cung Tài-bạch của bản mệnh cùng cung Tài-bạch của đại-hạn hoặc cung Tài-bạch của lưu-niên là đồng loại, cung Quan-lộc của bản mệnh cùng cung Quan-lộc của đại-hạn hoặc cung Quan-lộc của lưu-niên là đồng loại, các cung khác cũng vậy.

◇吉事应验之期,看中级宫化三吉,则会应于与上级盘”同类”坐宫的限年。例如大限化禄入本命的福德,表示本大限我关心赚钱,当本命的福德宫成为流年的福德宫时,也可以说流年的福德宫走到本命的福德宫时,此年财源滚滚来,福德与福德为同类。又如流年化禄入大限的事业宫,表示我关心事业,当大限的事业宫成为流月的事业宫时,也可以说当流月的事业宫走到大限的事业宫时,此月事业要发达了,事业与事业为同类。

◇Hạn ứng nghiệm cát sự, xem trung-cấp hóa tam-cát, thì khi cung vị tương ứng của niên-hạn là “đồng loại” với thượng-cấp sẽ ứng kì. Ví dụ như đại-hạn Hóa-Lộc nhập Phúc-đức của bản mệnh, biểu thị đại-hạn này ta quan tâm kiếm tiền, khi cung Phúc-đức của bản mệnh trở thành cung Phúc-đức của lưu-niên, cũng có thể nói rằng khi cung Phúc-đức của lưu-niên đi tới cung Phúc-đức của bản mệnh, thì năm này “tiền vào như nước”, Phúc-đức và Phúc-đức là đồng loại. Nếu như lưu-niên Hóa-Lộc nhập Quan-lộc của đại-hạn, biểu thị năm này ta quan tâm sự nghiệp, khi Quan-lộc của đại-hạn trở thành Quan-lộc của lưu-nguyệt, cũng có thể nói rằng khi Quan-lộc của lưu-nguyệt đi tới Quan-lộc của đại-hạn, thì tháng này sự nghiệp phát đạt, Quan-lộc và Quan-lộc là đồng loại.

◇小结:例如大限化禄入本命,当流年入本命,命与命为同类,则此年应吉;大限财帛化禄入寅宫,当流年的财帛宫入到寅宫时,便高升了,财帛与财帛为同类,寅宫与寅宫为同类。

◇ Kết luận: Ví dụ như đại-hạn Hóa-Lộc nhập bản mệnh, khi lưu-niên nhập bản mệnh, Mệnh cùng Mệnh là đồng loại, thì đến năm này ứng với cát; đại-hạn Tài-bạch Hóa-Lộc nhập cung Dần, thì khicung Tài-bạch của lưu-niên đến cung Dần, thì tiền bạc lên cao, Tài-bạch với Tài-bạch là đồng loại, Dần cung với Dần cung là đồng loại.

◇凶事应验之期,看中转之宫的化忌,则会应于与上级盘”同类”相冲的流年。例如,大限疾厄宫化忌冲本命的田宅宫,主本大限财库破,当流年的田宅宫走到本命的田宅宫时,即流田被冲之年,则此年要破财,田宅与田宅为同类。又如,流年化忌冲大限的父母宫,主本年父母、文书契约、名誉有问题,当流月的父母宫走到大限的父母宫时,该月凶事要发生了,父母与父母为同类。其余类推。

◇ Hạn ứng nghiệm hung sự, Khán xem cung phi hoá Kỵ tới, thì sẽ ứng với thượng bàn

“Đồng loại” tương xung Lưu niên. Ví dụ, cung Tật ách Đại hạn phi hoá Kỵ xung cung Điền trạch Bản mệnh, trong đại hạn chủ kho tiền của bị phá, lúc cung Điền trạch Lưu niên đi đến cung Điền trạch bản mệnh, tức bị xung cung Điền, thì năm này phải phá tài, điền trạch xung điền trạch là đồng loại. Nếu như, Hoá kỵ lưu niên xung cung Phụ mẫu, năm này chủ về cha mẹ, công văn hợp đồng, thanh danh có vấn đề, lúc cung Phụ mẫu lưu nguyệt đến cung Phụ mẫu Đại hạn, nên tháng này hung sự sẽ xảy ra, phụ mẫu xung phụ mẫu là đồng loại. Vấn đề còn lại suy rộng ra.

◇小结:专看忌冲之宫,同类相冲凶事发,例如,大限化忌入迁冲大限,流年入大限宫时破败,命与命同类。若命宫化忌冲寅宫,当大限和流年均入到寅宫时,此年便破财了,寅宫与寅宫为同类。命、限、年三级同类相冲最凶。例如大限化忌冲本命,命冲命,为同类相冲,又是用冲体,此大限凶,命宫化出的忌,与破财有关,当流年进入本命宫时,此年必破财;大限财帛宫化忌冲本命的财帛宫,财帛与财帛为同类相冲,又是用冲体,此限凶,财帛化出的忌与事业有关,当流年财帛宫入本命财帛宫时便败业了。

◇Kết luận: tập trung khán Hoá kỵ xung cung nào, đồng loại xung lẫn nhau thì hung sự sản sinh, ví như, Hoá kỵ đại hạn nhập và xung đại hạn, lưu niên nhập cung đại hạn thì phá bại, mệnh và mệnh đồng loại. Như cung mệnh phi Hoá Kỵ xung cung Dần, lúc đại hạn và lưu niên đều tiến vào cung Dần, năm này liền hao tài, cung dần và cung dần là đồng loại. Mệnh, hạn, niên 3 tầng đồng loại xung lẫn nhau là hung nhất. Ví dụ như đại hạn phi Hoá kỵ xung bản mệnh, mệnh xung mệnh, là tương xung đồng loại, lại vừa “Dụng” xung “Thể”, đại hạn này xấu, xung mệnh bị Hoá kỵ xung, cũng có tượng hao tài, lúc lưu niên tiến vào cung bản mệnh, năm này tất hao tài; cung Tài bạch đại hạn phi Hoá kỵ xung cung Tài bạch bản mệnh, tài bạch với tài bạch là đồng loại tương xung, lại là “Dụng” xung “Thể”, hạn này hung, tài bạch phi xuất Hoá kỵ giống như quan lộc vậy, lúc cung Tài bạch lưu niên tiến vào cung Tài bạch bản mệnh thì dễ mất việc làm.

本命宫化忌或忌冲:入大限父疾线:冲宫入流年的田、财应之。(铁口断诀)

Cung bản mệnh phi Hoá kỵ hoặc xung Hoá kỵ: nhập vào tuyến Phụ – Tật: xung cung, lưu niên nhập cung Điền, Tài sẽ ứng nghiệm (thiết khẩu đoạn quyết)

◎(三)、综合论断法

◎(3) Hệ thống luận đoán

此法中盘转折、气数位、同类叠冲、一路跟踪等法并用。我们用命、限、年这三级来举例说明。先用命盘飞四化,一般只看禄忌;当命盘禄忌的宫位进入大限的父疾线时,换个说法,当大限父、疾宫进入命盘禄忌的宫位时,吉凶事就要发生在此大限运内;再看吉凶应此大限的那一年,吉事会应于与原命盘禄入同类相叠的流年,凶事会应于同类相冲的流年。例如,原盘命宫化忌冲夫妻,会失业倒店,当大限入子田线时,忌入的宫位成为大限的父疾线,倒霉事就会发生在这个大限,发生在哪一年?因命宫为财帛的气数位,与财有关,既然与财有关,依同类相冲论,当冲宫成为流年的财帛、田宅宫的流年发生(还可依一六同宗论,流年走到田宅宫最凶)。又例如,原盘命宫化禄入夫妻,婚后事业顺遂、发财利,当大限入子田线时,禄入的宫位成为大限的父疾线,发财事就会发生在这个大限,发生在哪一年?因命宫为财帛的气数位,与财有关,既然与财有关,依同类相叠论,当禄入的宫位成为流年的财帛、田宅宫的流年发生。

Phương pháp này trong mệnh bàn, định khí số, đồng loại trùng điệp, đồng thời sử dụng theo một trục cung chức. Chúng ta dùng mệnh, hạn, năm đã nêu ví dụ về 3 tầng giải thích rõ. Trước tiên, dùng mệnh bàn phi tứ hoá, bình thường chỉ khán Lộc Kỵ; lúc mệnh bàn có cung phi Lộc Kỵ nhập vào tuyến Phụ – Tật của đại hạn, hoán đổi luận giải, lúc Phụ đại hạn, thì Lộc Kỵ tiến vào nhập cung Tật bản mệnh, nội tình cát hung sẽ phát sinh ở đại hạn này; lại tiếp tục xem cát hung ứng ở năm nào của đại hạn, cát khi ứng với Hoá lộc mệnh bàn gốc nhập vào đồng loại trùng điệp tại lưu niên, hung sẽ ứng với tương xung đồng loại tại lưu niên. Ví dụ, cung mệnh tiên thiên phi Hoá kỵ nhập cung Phu thê, sẽ quay lại xung cung Quan lộc, khi đại hạn nhập tuyến Tử – Điền, Hoá kỵ nhập cung như thế thì đại hạn thành nhập tuyến Phụ – Tật, đại hạn có thể xảy ra chuyện không may, vậy phát sinh ở năm nào? Bời vì cung mệnh là cung vị khí số của cung tài bạch, cùng quan hệ với tài, theo đồng loại trùng điệp luận, lúc xung cung Tài bạch lưu niên, cung điền trạch lưu niên sẽ phát sinh (vẫn có thể theo “nhất lục đồng tông luận”, lưu niên đi đến điền trạch cung hung nhất). Theo lại ví dụ cũ, cung mệnh nguyên bàn phi Hoá lộc nhập cung Phu thê, sau khi kết hôn thì sự nghiệp suông sẻ, kiếm được nhiều tiền, lúc đại hạn nhập tuyến Tử – Điền, thì Hoá lộc sẽ nhập cung vị tuyến Phụ – Tật, sự phát tài sẽ xảy ra ở đại hạn này, phát sinh ở năm nào? Bởi vì cung mệnh là cung vị khí số của cung Tài bạch, cùng quan hệ với tài, theo đồng loại trùng điệp luận, lúc Hoá lộc nhập cung vị của cung tài bạch lưu niên, cung điền trạch lưu niên sẽ phát sinh.

论流月、日、时的吉凶可仿上述方法分析。流年、月、日、时四化,较重视冲宫,不重视三合宫。

Luận lưu nguyệt, nhật, lúc cát hung có thể không rõ ràng với phương pháp phân tích nói trên. Lưu niên, nguyệt, nhật, lúc tứ hoá, xem cung đối nặng hơn, không coi trọng cung tam hợp.

△三、纵横分析论断法

– Phép phân tích, luận đoán tung hoành

看限年吉凶,可以原命盘的四化,一路留给大限、流年、流月、流日、流时用。以原命盘化出的四化(以禄、忌为主),一路从纵向、横向扩展来跟踪进行论断。

Khán hạn năm cát hung, có thể mệnh bàn nguyên cục phi tứ hoá, sử dụng liền mạch đại hạn, lưu niên lưu nguyệt, lưu nhật. Lấy mệnh bàn nguyên cụ phi xuất tứ hoá (lấy lộc, kỵ làm chủ), theo một hướng thẳng trên xuống, mở rộng để tìm dấu vết cho luận đoán.

纵向看,就是以原命盘四化(生年四化或命盘十二宫四化),一路留给大限、流年、流月、流日、流时等下级盆用。凡逢原命盘化三吉入(或照)而无忌冲的宫位主吉利,入或照限、年、月、日、时都主吉利;凡逢化忌入的宫位及限、年、月、日、时都主有阻滞,但不算凶,只要努力仍会成功;凡逢化忌冲照的宫位及限、年、月、日、时都主不利。

Khán từ trên xuống, chính là lấy mệnh bàn nguyên cục tứ hoá (tứ hoá năm sinh hoặc mệnh bàn 12 cung tứ hoá), liên tiếp cho đại hạn, lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật, liên tiếp cho đến bậc thấp thì dùng. Thông thường mệnh bàn nguyên cục hoá tam cát nhập (hoặc chiếu) mà không có kỵ bay vào cung gốc thì chủ cát lợi, nhập hoặc chiếu hạn, niên, nguyệt, nhật, lúc này đều chủ cát lợi; hễ thấy Hoá kỵ nhập cung gốc cùng hạn, niên, nguyệt, nhật, lúc đó đều chủ có trở ngại, nhưng không thể xem là hung, chỉ phải cố gắng sẽ thành công; còn hễ thấy Hoá kỵ xung chiếu cung gốc cùng hạn, niên, nguyệt, nhật thì đều chủ bất lợi.

横向看,就是从宫与宫之间的关系看。原盘十二宫皆可为本宫(太极点,新命宫),按宫位太极转换法,重布命盘十二宫,例如以兄弟宫为新命宫,重布命盘十二宫,则原命盘十二宫的名称随之而改变,原命宫变为新盘的父母宫,就是兄弟的父母宫;原命盘的夫妻官变为新盘的兄弟宫,也就是兄弟的兄弟宫。若以父母宫为新命宫,原盘夫妻宫变为父母的子女宫。其余类推。这样,一个宫位就可以变出十二个新名称,那么原盘十二个宫,就可以变化成12×12=144个信息。仍以生年四化落宫为主宫,看其余十二宫与生年落宫之间的关系来论,还可再扩展到十二宫的十二宫与生年四化落宫的关系论,这样每个化曜就有144个信息量;每一级就有144×4个信息;再扩展到限、年、月、日、时的十二宫与生年四化落宫的关系来论,信息容量更大,则论述的内容就相当丰富了。

Khán hướng ngang, chính là từ một cung khán sang đồng cấp các cung cùng quan hệ. Mười hai cung nguyên bàn đều có thể là bản cung (Thái cực điểm, cung mệnh mới), ấn định cung vị Thái Cực để chuyển đổi, phân bố lại tên mười hai cung mệnh bàn nguyên cục, cung mệnh nguyên cục thay đổi là cung phụ mẫu mới, chính là huynh đệ của cung phụ mẫu; cung phu thê mệnh bàn nguyên cục đổi thành cung huynh đệ mới, cũng là huynh đệ của cung huynh đệ. Như vậy lấy cung phụ mẫu là cung mệnh mới, cung phu thê nguyên bàn đổi thành cung tử nữ. Còn lại suy ra. Dạng này, một khi cung vị có thể biến đổi thành mười hai cung, như vậy mười hai cung nguyên bàn có thể biến thành 12 x 12 = 144 thông tin (cung vị). Nhưng lấy tứ hoá năm sinh rơi vào cung nào làm cung chủ, khán mười hai cung còn lại xem có quan hệ với cung có tứ hoá năm sinh mà luận, như vậy mỗi hoá diệu thì có 144 thông tin; mỗi một mệnh bàn thì có 144×4 thông tin; lại mở rộng đến hạn, niên, nguyệt, nhật, lúc tứ hoá năm sinh rơi vào mười hai cung luận nguyên nhân, lượng thông tin dung nạp càng lớn thì nội dung trình bày và phân tích khá phong phú.

例如,生年化忌冲夫妻,从正面来看,夫妻宫被冲,兆示这一生夫妻缘薄,夫妻关系不好;从同级横向扩展看,夫妻是父母的子女,父母的子女就是自己的兄弟,这样也就看出其人得不到兄弟的帮助;夫妻是兄弟的兄弟,兄友线主成就,表我对兄弟的成就无助;夫妻是福德的财帛,表示嗜好浪费;夫妻是田宅的疾厄,表示这人没有自己的房子,住宅是租的,且搬动频繁;夫妻是厨房位,冲就无厨房,房屋是公众式的,或是租住的房子,或厨房不好。其余类推。

Ví dụ, Hoá kỵ năm sinh xung phu thê, từ chính diện xem đến, cung phu thê bị xung, điềm báo nêu lên một đời duyên vợ chồng mỏng, quan hệ vợ chồng không tốt; từ đồng cấp mở rộng sang ngang, phu thê là phụ mẫu của tử tức, phụ mẫu của tử tức chính là huynh đệ của mình, dạng này cũng liền khán ra người không được huynh đệ trợ giúp; phu thê là huynh đệ của huynh đệ, tuyến huynh – nô chủ thành tựu, tỏ rõ ta với huynh đệ thành ra bất lực; phu thê là phúc đức của tài bạch, biểu thị hưởng thụ lãng phí; phu thê là điền trạch của tật ách, biểu thị người này không có nhà riêng, nơi ở là thuê, lại di chuyển thường xuyên; phu thê là không gian bếp, hướng chính vô nhà bếp (gt: ở đây có thể có chút phong thuỷ, kiêng cử hướng chính từ cổng vào khán thẳng xuống bếp theo quan niệm xưa), toà nhà là nhà tập thể, hoặc là thuê phòng nhỏ, hoặc phòng bếp không tốt. Còn lại suy ra.

再跟踪到下一级盘,看大限,看冲宫成为大限的什么宫位?若为大财,财受冲,这十年的财运就不好了;如为大疾,疾厄为身体,疾厄逢冲则身体不好,又疾厄为公司、工厂、商店,所以本限内公司要破败或倒闭。再从大限的横向关系来看(参看命宫化忌入各宫)。

Lại theo dõi đến cấp tiếp theo mệnh bàn, khán đại hạn, xem bị xung ở đại hạn là cung vị gì? Nếu là Tài đại hạn, tài bị xung, mười năm này tài vận sẽ không tốt; nếu là Tật đại hạn, tật ách là thân thể, tật ách gặp xung thì thân thể không tốt, mà tật ách cũng là công ty, nhà máy, cửa hàng, cho nên ở hạn nội tại công ty yếu có thể phá sản hoặc đóng cửa. Lại từ đại hạn khán ngang đến xem các mối quan hệ (xem thêm mệnh cung phi Hoá kỵ nhập các cung).

再跟踪到流年,看某年有什么事?就以冲宫成为流年的什么宫位来看?若冲宫刚好是流年宫,即流年本宫,凶力加倍,宫的星情好尚无大事,宫凶可要遭殃了;若冲宫成为流年的疾厄,不但主这一年身体不好,而且主其人的公司有问题;若冲宫成为流年的交友,交友是工友、朋友、工人,工人、工友出勤不出力,那还有什么搞头;若冲宫为流兄,表这一年兄弟有问题,自己也没有成就;若冲宫为流年的官禄,主事业有麻烦;冲宫为流年的福德,表财源出问题;冲宫为流年的子女,表子女的学习或事业有阻,又子女为合伙宫,表这一年要散伙;冲宫为流年的财帛,表这一年要破财;冲流田,财库出问题,要破财,家庭、家宅也有问题。还可从受冲的流年十二官横看(参看命宫化忌入各宫),例如,冲宫成为流田的兄弟宫,兄弟是田宅的财帛,受冲就表示家庭生活费用困难,经常寅吃卯粮。

Lại theo dõi đến lưu niên, khán lưu niên có chuyện gì? Xem bị xung ở lưu niên là cung loại gì? nếu cung xung vừa lức là lưu niên cung, tức lưu niên bản cung, hung lực gấp bội, các sao của cung báo hiệu tình trạng tình cảm, sở thích không hệ trọng, cung hung có thể gặp phải tai ương; như cung xung là Tật ách lưu niên, chẳng những chủ một năm này thân thể không tốt, mà lại chủ công ty của người đó có vấn đề; như cung xung là cung giao hữu (nô bộc) lưu niên, giao hữu là nhân viên tạp vụ, bằng hữu, công nhân, người đi làm cần mẫn, không có gì an nhàn; như cung xung là lưu huynh, báo hiệu năm này huynh đệ có vấn đề, bản thân cũng ko có thành tựu; như cung xung là lưu niên quan lộc, chủ sự nghiệp có phiền phức; cung xung là lưu niên phúc đức, tỏ rõ tài nguyên (kho tài bạch) xảy ra vấn đề; cung xung là lưu niên tử tức, biểu hiện trường học của con cái hoặc sự nghiệp có trở ngại, tử tức còn là cung vị hùn vốn làm ăn, tỏ rõ năm này phải tan rã; cung xung là lưu niên tài bạch, tỏ ra năm này phải phá tài; xung lưu điền, tài kho xảy ra vấn đề, phải phá tài, gia đình cũng có vấn đề. Có lẽ khán xem lưu niên cuối cùng nhập vào đâu mười hai cung chức (xem thêm cung mệnh phi Hoá kỵ nhập các cung), ví dụ như, cung nhập là cung Huynh đệ lưu niên, huynh đệ là điền trạch của tài bạch, bị nhập thì tỏ rõ tiền dùng sinh hoạt gia đình khó khăn, thường xuyên thu không đủ chi.

接下来还可以上面的方法一路纵横向来跟踪到流月、流日、流时。

Sau đó tiếp tục “phương pháp tung hoành” để theo dõi đến lưu nguyệt, lưu nhật, lưu thời.

原命盘的生年四化以及命、财、官等宫四化入下级盘十二宫,只要入宫的名称相同,所发生的吉凶事体都会基本相似,例如四化入下级盘的父母宫,事情都与父母或文书有关;四化入下级盘的子女宫,事情都与子女有关;事情还可横向看;但事情发生的原因则会不同,事因与原命盘飞四化的宫和星有关,还与气数位有关。

Tứ hoá năm sinh của mệnh bàn nguyên cục cùng với tứ hoá cung mệnh, tài, quan nhập vào mười hai cung mệnh bàn, chỉ quan trọng khi nhập vào cung vị giống nhau, phát sinh cát hung đều sẽ cơ bản tương tự, ví dụ như tứ hoá nhập xuống cung phụ mẫu nguyên bàn, sự tình đều quan hệ với phụ mẫu hoặc liên quan văn thư; có thể khán ngang để thêm sự tình; nhưng chuyện phát sinh bởi nguyên nhân gì thì sẽ khác biệt, nguyên nhân bởi vì mệnh bàn nguyên cục phi tứ hoá có cùng quan hệ với sao và khí số vị (cung vị).

以上分析凶事的方法,最宜以原盘重病焦点问题之宫来进行分析,因为原盘存在的焦点问题,多会有凶事发生,我们就要分析发生于哪限哪年。例如,原命官禄宫失陷化忌,为焦点问题宫,不但兆示事业凶,夫妻宫和田宅宫都凶,当大限走到官禄宫时此十年麻烦事就多了,具体分析参看上术各法。

Trên đây phương pháp phân tích hung sự, tốt nhất là phân tích trọng tâm của vấn đề, bởi vì nguyên bàn tồn tại nhiều vấn đề trọng tâm, nhiều sẽ có phát sinh hung sự, chúng ta phải phân tích phát sinh ở hạn năm nào. Ví dụ, cung Quan lộc mệnh bàn nguyên cục bị Hoá kỵ án ngữ, là cung có vấn đề trọng tâm, chẳng những điềm báo sự nghiệp hung, cung phu thê cùng cung điền trạch đều hung, lúc đại hạn đi đến cung quan lộc thì lúc này mười năm liền có chuyện phiền toái, cụ thể xem thêm các thuật pháp phân tích bên trên.

第十节四化法的分类预测

(Tử vi đẩu số tinh hoa tập thành – Đại Đức Sơn Nhân

Đăng bởi: Phật Giáo Việt Nam

Bạn đang xem: Phương pháp cơ bản luận đoán Tứ hóa Hà Lạc

Chuyên mục: Học tử vi

Xem thêm Phương pháp cơ bản luận đoán Tứ hóa Hà Lạc

△一、气数位分析论断法

– Phép luận đoán phân tích Khí Số Vị

从本宫为1数起,逆数到第9宫,称为本宫的”气数位”。例如从命宫为1,逆数到9宫为官禄宫,那么官禄宫就称为命宫的气数位;又如从财帛宫为1,逆数到9为命宫,则命宫就是财帛宫的气数位,其余类推。总之,各宫的官禄宫就是其气数位。

Từ một cung bất kì ghi là 1, đi ngược chiều đến cung thứ 9, thì cung đó gọi là Khí Số Vị của cung ta vừa xét. Ví dụ như từ Mệnh cung là 1, thì đếm ngược đến 9 là cung Quan lộc, vậy thì cung Quan lộc được gọi là Khí Số Vị của cung Mệnh; lại như từ Tài bạch cung đếm 1, ngược đến 9 là Mệnh cung, vậy Mệnh cung chính là Khí Số Vị của Tài bạch cung, các cung khác cũng đều vậy. Tóm lại, cung Quan lộc của các cung chính là Khí Số Vị của cung đó.

官禄宫是对命宫制约的宫位,所以,各宫的成败皆由各宫的官禄宫(气数位)决定。

Quan lộc cung là cung vị chế ước (quản chế, ước thúc) đối với Mệnh cung, cho nên, các cung trên lá số thành hay bại đều do Quan lộc cung (Khí Số Vị) của cung đó quyết định.

所谓”气数”,就是指有无生气,有生气则命存,无生气则命亡。气数位则是生气库藏的地方。既然是气,就有动态、影象、虚而不实的意思。所以,论命应以本宫为”体”,以气数位为”用”,气数位法只起兆示和辅助作用,仍应以本宫的星情论断法为主为实。

Sở dĩ nói là “Khí số”, là chỉ có hay không có “Sinh khí”, có Sinh khí thì Mệnh tồn, chẳng có Sinh khí thì Mệnh vong. Khí Số Vị chính là nơi mà tàng chứa Sinh khí. Nếu đã là Khí, liền có Động thái, Hình tượng, có ý rằng “Hư mà chẳng Thực”. Cho nên, luận mệnh nên lấy bản cung làm Thể, lấy Khí Số Vị làm Dụng, phép luận Khí Số Vị chỉ nêu lên tác dụng của dự báo và bổ trợ, vẫn nên dùng phép luận đoán tinh tình của bản cung làm căn bản, làm xác tín.

河洛四化法很重视”气数位”,以本宫(十二宫均可为本宫)的气数宫位的天干去四化,看化出的四化星落宫好坏,以应本宫的动态吉凶情况。看”气数位”,最重要的是命、财、官三宫,这三宫互为气数位。气数位论断法,不仅适用于原盘,也适用

于各级活盘,而且要上下盘双线交流以寻迹象,断其吉凶。一般命局看气运、格局高低,大限看时空,流年看破败点。

Phép xem Hà Lạc Tứ hóa rất xem trọng Khí Số Vị, lấy Tứ hóa của Thiên can cung Khí Số Vị của cung bất kì, xem Tứ hóa khi hóa xuất ở cung là tốt hay xấu, để xem tình trạng cát-hung của bản cung. Xem Khí Số Vị, quan trọng nhất là 3 cung Mệnh – Tài – Quan, ba cùng này Khí Số Vị của nhau. Phép luận đoán Khí Số Vị, không chỉ thích hợp với Nguyên bàn, mà cũng thích hợp với các cấp Hoạt bàn, hơn nữa cùng với sự trao đổi các tuyến của Thượng bàn, Hạ bàn để tìm “dấu tích”, để đoán cát-hung. Thông thường, Mệnh cục xem Khí vận, Cách cục cao thấp; Đại hạn xem về Không gian, Thời gian; Lưu niên xem điểm “phá bại”.

气数位法最重视父疾线和兄友线,四化只有入本宫的父疾线和兄友线才起重要作用,四化不入本宫的父疾线或兄友线,则表示不好也不坏,平常而己。父疾线主有无光明、幸运、贵气名望和行政文书管理才能,成败作用大于兄友线,偏于天成;兄友线主才干、能力、财气和财经管理才能,成败偏于自身的努力。

Phép xem KSV (Khí Số Vị) xem trọng nhất là tuyến Phụ-Tật và Huynh-Nô, Tứ hóa chỉ cần nhập vào tuyến Phụ Tật và Huynh Nô của bản cung tạo ra tác dụng trọng yếu, Tứ hóa nếu không nhập vào hai tuyến này, thì biểu thị không tốt cũng không xấu, bình thường mà thôi. Tuyến Phụ Tật chủ về có hay không có sự tài năng về: Tỏa sáng, May mắn, quí khí danh vọng và hành chính văn thư, quản lý, còn Thành hay Bại đa phần nằm ở tuyến Huynh Nô, tuyến Phụ Tật là yếu tố Thiên thành (trời cho); Tuyến Huynh Nô chủ về tài năng, năng lực, khả năng quản lý kinh tế, vận khí về tiền bạc, thành hay bại nghiêng về phần nỗ lực của bản thân.

“气数位”化三吉入本宫的父疾线主有光明、幸运、贵气名望和行政文书管理才能,成就天成,宜走行政文书等求名路线,父母宫成败天成,疾厄宫偏于身体力行;化忌入本宫的父疾线则主无光明,前途暗淡,难有贵气名望,不宜走行政文书等求名路线,可从事经商、技术等,且须努力拼搏。

KVS Tam cát hóa (Lộc, Quyền, Khoa) nhập vào tuyến Phụ Tật của bản cung chủ cho có sự rực rỡ, may mắn, danh tiếng, tài năng trong hành chính, văn thư, quản lý, thành tựu do “trời cho”, hợp theo đuổi việc cầu danh trong hành chính văn thư… Phụ mẫu cung thành bại là “trời cho”, Tật ách cung thì thiên hành động của bản thân; Hóa kị nhập tuyến Phụ Tật chủ không rực rỡ, tiền đồ ảm đạn, khó có công danh, không nên theo đuổi sự nghiệp hành chính văn thư… có thể làm công việc kinh doanh, kĩ thuật…. vả lại nên tự mình nỗ lực.

“气数位”化三吉入本宫的兄友线主有才干、能力、财气和财经管理才能,宜走财经路线,亦可有天然的助力;化忌入本宫的兄友线主无才干,无成就,无财气,甚至破财不聚,不宜经商,可走技术路线,且须努力拼搏。

KSV hóa Tam cát nhập tuyến Huynh Nô của bản cung chủ có tài cán, năng lực, tài khí và tài năng quản lý tài chính, nên chọn hướng về tài chính, cũng có thể có trợ lực tự nhiên; Hóa kị nhập tuyến Huynnh Nô chủ không có tài năng, thành tựu, tài khí, thậm chí phá tài bất tụ, không nên làm kinh doanh, có thể chọn nghề kĩ thuật, cũng cần nỗ lực.

若以命宫为本宫,官禄宫是命宫的气数位,所以论人的贵气、地位与运数,则以命宫为体,以官禄宫为用,以命宫的强弱论一生命数的高低,用官禄宫的天干四化来断一生的运数、机遇、吉凶祸福,应本命的荣辱,最重视父疾线。如果官禄宫干化三吉入父疾线,则一生前途光明,青云直上,有贵气名望,可在行政机构任职(化禄入表成功来得很天然幸运,权入是打拼得来,科入是得贵人助而成功);若化忌入父疾线,表损光明,一生命运多阻,无贵气名望,是非麻烦事多。如果官禄宫化三吉入兄友线,则其人能干,在事业运上将会有成就,宜财经界;若化忌入兄友线,表无才干,事业无成就,不宜经商。

Nếu như xét Mệnh cung, Quan lộc cung chính là KSV của Mệnh cung, cho nên luận quý khí, địa vị và vận số của đời người, thì lấy Mệnh cung là Thể, lấy Quan lộc cung làm Dụng, lấy sự cường-nhược của Mệnh cung luận một đời Mệnh là cao hay là thấp, dùng Thiên can của Quan lộc cung phi Tứ hóa để đoán vận số, cơ hội, cát hung họa phúc của đời người, còn sự vinh-nhục của bản mệnh, cần xem kĩ ở tuyến Phụ Tật. Nếu như Thiên can Quan lộc cung hóa Tam cát nhập tuyến Phụ Tật, thì tiền đồ rực rỡ, một mạch (đi) lên tận mây xanh, có quí khí danh vọng, có thể nhận chức vụ cao trong hành chính (Hóa lộc nhập biểu thị thành công đến là vận may tự nhiên, Hóa quyền nhập thì vất vả mà đạt được, Hóa khoa nhập thì nhờ có quí nhân hỗ trợ mà thành công); Nếu như Hóa kị nhập tuyến Phụ Tật, tất khó mà rực rỡ, một đời Mệnh Vận nhiều trở ngại, chẳng có quí khí danh vọng, thị phi phiền não nhiều. Nếu như Quan lộc cung hóa Tam cát nhập tuyến Huynh Nô, tất là người có tài cán, ở vận Quan lộc sẽ có thành tựu, nhiều khả năng ở trong giới kinh doanh; Nếu như Hóa kị nhập Huynh Nô, thì chẳng có tài cán, sự nghiệp không có thành tựu, chẳng nên kinh thương.

官禄宫化忌导至事业失败,必是一种人为因素,例如自己估计不足,或因个性问题造成。化忌所入之宫,表有生之年倒霉事的原因必与该宫有关;忌冲入那一宫,坏事就发生在那一宫,该宫的人事要倒霉;例如化忌入子女宫冲田宅宫,事必与子女、田宅有关,或与桃花事有关;化忌入兄弟宫冲交友宫,倒霉事必为兄弟朋友而起,交友为朋友、工人,冲交友就表示朋友、工人有问题,没有助益,没有搞头。官禄是我的事业,不怕忌入,忌入表拼搏,拼出成果来;但忌冲则凶,对事业不利。疾厄是官禄的田宅,是自己工作的地方、工厂、公司、商店,忌冲疾厄则表示有倒店的可能;忌入命迁线,表里外不顺,进退维谷。化曜入命,表工作有得做。若官禄四化不入父疾线或兄友线,则表示不好也不坏,平常而己。化曜入父母、兄弟的力量较实,入疾厄、奴仆的力量较虚。

Quan lộc cung Hóa kị dẫn đến sự nghiệp thất bại, tất là một loại nguyên nhân do con người tạo ra, ví dụ như tự mình dự đoán không đầy đủ, hoặc vì tạo thành vì lý do cá tính.

Cung mà Hóa kị nhập vào, biểu thị có nguyên nhân của việc không may mắn có quan hệ với cung đó; Hóa kị xung nhập vào cung nào, thì sự việc xấu sẽ phát sinh tại cung đó, lĩnh vực nhân sự mà cung đó quản chế sẽ gặp xui xẻo; Ví dụ như Hóa kị nhập Tử nữ cung xung Điền trạch cung, sự việc tất sẽ có liên quan tới Tử tức, Điền trạch hoặc có quan hệ với việc ái tình; Hóa kị nhập Huynh đệ xung Giao hữu cung (Nô bộc), việc không may tất nhiên sẽ vì anh em, bạn bè mà khởi lên, Giao hữu nghĩa là bạn bè, người làm công, xung Giao hữu cũng biểu thị bạn bè, người làm công có vấn đề, chẳng giúp ích được, cũng không làm chủ nổi; Quan lộc là sự nghiệp của ta, không sợ Kị nhập, Kị nhập biểu thị vất vả, vất vả sẽ có thành quả; Nhưng Kị xung là không tốt, đối với sự nghiệp không có lợi. Tật ách là Điền trạch cung của Quan lộc, là địa chỉ, nhà xưởng, công ty, cửa tiệm của chính mình, Kị xung Tật ách biệu thị có khả năng “mất bảng hiệu”; Kị nhập tuyến Mệnh Di, thì trong ngoài không thuận, tiền thoái đều khó khăn. Hóa diệu nhập Mệnh, biểu thị công việc phải làm. Nếu Quan lộc cung (phi) Tứ hóa không nhaapjf vào tuyến Phụ Tật hoặc Huynh Nô, thì không tốt cũng không xấu, bình thường mà thôi. Hóa diệu nhập Phụ mẫu, Huynh đệ thì “lực lượng” tương đối Thực, nếu nhập Tật ách, Nộ bộc thì lực lượng tương đối Hư.

官禄宫四化对精神生活产生作用,官忌入大限(即大限入官禄化忌之宫),主本大限内是非较多。

Quan lộc cung Tứ hóa có tạo ra tác dụng đối cuộc sống tinh thần, Quan Kị nhập Đại hạn (Tức là Đại hạn ở cung mà Quan lộc Hóa Kị), chủ trong Đại hạn nhiều thị phi.

若以财帛宫为本宫,命宫是财帛宫的气数位,所以论财运,以财帛宫为体,以命宫为用,用命宫的天干四化来断财运好坏。若命宫化禄入子田线,子田线为财帛的父疾线,表示可以有财名,因名得财,或因财而扬名,而且不会有财务纠纷;命宫化忌入子田线,主无财名,因财失名,财务纠纷多。若命宫化禄入父疾线,因父疾线为财帛的兄友线,因而在钱财上较善管理,可以有成就,发财利;命宫化忌入父疾线,则无财利或失财利(尤其是命宫化忌入子女宫冲田宅宫,表示一生与钱财无缘,不宜经商,只宜上班、技艺工作)。命宫化出的忌,主钱财,导至事业失败时,必与钱财有关,决定钱财损在什么地方,可能因资金短缺,靠借贷创业,结果如汤洗雪,入不敷出,越欠越多。命宫化忌入官禄宫,表示对任何事情都必亲自处理才放心。看那一大限发财,须看命宫化忌入宫的下一宫位(顺行运)或上一宫位(逆行运)。命忌不入子田、父疾线,一般主平顺,无多大风险。

Nếu như xét cung Tài Bạch, Mệnh cung sẽ là KSV của Tài Bạch cung, cho nên luận Tài vận, sẽ lấy Tài bạch cung là Thể, lấy Mệnh cung làm Dụng, dùng Tứ hóa từ Thiên can Mệnh cung để đoán Tài vận là tốt hay không tốt. Nếu Mệnh cung Hóa lộc nhập tuyến Tử Điền, tuyến Tử Điền chính là tuyến Phụ Tật của Tài Bạch cung, biểu thị có thế có tài-danh, nhờ danh mà được tiền tài, hoặc vì tiền tài mà dương danh, và cũng không có những phiền nhiễu, tranh chấp về tiền bạc; Mệnh cung Hóa kị nhập tuyến Tử Điền, chủ không có tài-danh, vì tiền bạc mà mất danh tiếng, tiền bạc nhiều phiền nhiễu. Nếu như Mệnh cung Hóa lộc nhập tuyến Phụ Tật, vì tuyến Phụ Tật chính là tuyến Huynh Nô của

Tài bạch, cho nên ở lĩnh vực tiền tài có sở trường quản lý, có thể có thành tựu, phát tiền tài, lợi ích; Mệnh cung Hóa kị nhập tuyến Phụ Tật, thì không có tài lợi hoặc mất tài lợi (đặc biệt là Mệnh cung Hóa kị nhập Tử Tức cung xung Điền trạch cung, biểu thị một đời không có duyên với tiền tài, không nên kinh doanh, nên làm công ăn lương, làm công việc về nghệ thuật, kĩ năng). Mệnh cung xuất Hóa kị, chủ tiền tài, dẫn đến lúc sự nghiệp thất bại, chắc chắn có quan hệ với tiền tài, đánh giá được tiền tài tổn hại là ở chỗ nào, có khả năng do thiếu vốn liếng, nhờ vào mượn tiền tài mà lập nghiệp, kết quả là như “dội nước sôi vào tuyết”, thu chẳng bù chi, càng nợ càng nhiều. Mệnh cung Hóa kị nhập Quan lộc cung, biểu thị đối với bất kì việc gì đều phải tự mình xử lý thì mới an tâm. Để xem đại hạn nào phát tài, cần cung vị sau cung vị mà Mệnh cung nhập Hóa kị vào (đối với Đại vận thuận hành) hoặc cung vị trước cung vị mà Mệnh cung nhập Hóa kị vào (đối với Đại vận nghịch hành). Mệnh cung Hóa kị không nhập tuyến Tử Điền, Phụ Tật, thông thường chủ sự bình thuận, không có nhiều nguy hiểm lớn.

论事业,官禄宫为本官,财帛宫是官禄宫的气数位,所以论事业,以官禄宫为体,以财帛宫为用,用财帛宫的天干四化来断事业的成败。若财帛宫干化三吉入兄友线,因兄友线是官禄的父疾线,因而表示在事业上名气好,容易得到提拨的机遇;若财帛宫干化忌入兄友线,则事业难以有名望。再者,若化禄逢空劫忌冲破,则表示所做的事业将要成功时,即美景成空。若财帛宫干化三吉入子田线,因子田线是官禄的兄友线,因而表示事业上能干,易成功;若化忌入子田线,则事业上因自己无能而无成就。由财帛宫化出的忌,导至事业失败,是因为事业出了差错,例如出现强劲的对手,订单出问题等。财帛化忌入官禄,表借贷投资。

Luận về sự nghiệp, thì xét Quan lộc cung, Tài bạch cung trở thành KSV của Quan lộc cung, cho nên luận về Sự nghiệp, lấy Quan lộc cung là Thể, lấy Tài bạch cung làm Dụng, dùng Tứ hóa từ Thiên can của Tài bạch cung để đoán thành bại của sự nghiệp. Nếu Thiên can Tài bạch hóa Tam cát nhập tuyến Huynh Nô, vì tuyến Huynh Nô chính là tuyến Phụ Tật của Quan lộc cung, cho nên biểu thị có danh tiếng tốt trong sự nghiệp, dễ có được cơ hội đề bạt, cất nhắc; nếu Tài bạc cung Thiên can Hóa kị nhập tuyến Huynh Nô, thì biểu thị sự nghiệp khó có danh vọng. Lại giả như, Hóa kị gặp Không Kiếp Kị xung phá, thì biểu thị vào lúc thành công của sự nghiệp, liền “mỹ cảnh thành không”. Nếu Tài bạch cung Thiên can Tam hóa cát nhập tuyến Tử Điền, vì tuyến Tử Điền chính là tuyến Huynh Nô của Quan lộc cung, nên biệu thị trong lĩnh vực sự nghiệp có tài cán, dễ thành công; nếu Hóa kị nhập tuyến Tử Điền, thì trong sự nghiệp vì không có tài năng nên không có thành tựu. Do Tài bạch cung xuất Hóa kị, dẫn đến sự nghiệp thất bại, là vì sự nghiệp mà có ra sai sót, ví dụ như xuất hiện đối thủ cường mạnh, đơn đặt hàng có vấn đề… Tài bạch Hóa kị nhập Quan lộc, biểu thị mượn tiền tài mà đầu tư.

一个人一生最大的成就表现在命宫(表人格的升华)、官禄宫(表事业的腾达)、财帛宫(表财富的多少)等三个方面。但还要看三者的配合情况以及运限是否相助,以及

四化之间的相互作用,而吉凶以化禄和化忌为重。方外人的同步断诀主要应用本命盘的命宫忌来断财运,用官禄宫的忌来断运途,用财帛宫的忌来断事业。

Thành tựu lớn nhất của cả một đời người biểu hiện ở ba phương diện: Mệnh cung (biểu thị sự thăng hoa của con người), Quan lộc cung (biểu thị sự thành đạt trong sự nghiệp), Tài bạch cung (biểu thị tài phú nhiều ít). Nhưng còn cần xem sự tình hính phối hợp của 3 phương diện này và vận hạn có sự tương trợ hay không, rồi đến tác dụng tương hộ giữa Tứ hóa, mà cát-hung thì trọng ở Hóa lộc và Hóa kị. Rồi mới đồng bộ đoán quyết, chủ yếu dùng Mệnh cung hóa Kị để đoán Tài vận, dùng Quan lộc cung Hóa kị để đoán vận-đồ (cho cả đời người – Mệnh), lấy Tài bạch cung Hóa kị để đoán Sự nghiệp.

其余各宫均可为本宫,以其气数位的宫干四化入宫情况来论本宫有无生气。

Ngoài ra đối vác các cung khác, lấy trạng thái KSV Thiên can Tứ hóa để luận cũng đó có hay không có Sinh khí.

例如兄弟宫又为母亲宫,要了解母亲有无生气,可以兄弟宫为本宫,则田宅宫为兄弟的气数值,看田宅宫干的四化落宫情况,若田宅宫干化禄入命迁线,因命迁线为母亲宫的父疾线,故表示母亲受教育良好,名誉较高;若化忌入此线,则表示母亲一辈子难有名声,困难重重;化忌入迁移宫冲命宫同论,表母亲受教育程度不高,没有社会地位。若田宅宫干化禄入夫官线,因夫官线为母亲的兄友线,表母亲在事业上很能干,有成就;反之,化忌入夫妻宫冲官禄宫,表母亲在事业上没有任何成就。

Ví dụ như Huynh đệ cung khi đóng vai trò Mẫu thân cung, muốn hiểu rõ Mẫu thân có hay không có sinh khí, có thể lấy Huynh đệ làm bản cung, thì Điền trạch cung là KSV của Huynh đệ cung, xem tình hình Tứ hóa do Điền trạch can cung Tứ hóa rơi vào cung nào, nếu Điền trạch can cung Hóa lộ nhập tuyến Mệnh Di, vì tuyến Mệnh Di chính là tuyến Phụ Tật của Mẫu thân, nên biểu thị Mẫu thận nhận được sự dưỡng dục tốt, danh tiếng khá cao nếu Hóa kị nhập vào tuyến này, thì biểu thị Mẫu thân một đời khó có danh tiếng, khó khăn trùng trùng; Hóa kịa nhập Thiên di cung xung Mệnh cũng cũng luận như vậy, biểu thị Mẫu thân không nhận được trình độ giáo dục cao, không có vị trí xã hội. Nếu Điền trạch can cung Hóa lộc nhập tuyến Phu Quan, vì tuyến Phu Quan là tuyến Huynh Nô của Mẫu thân, biểu thị Mẫu thân có tài cán trong sự nghiệp, có thành tựu; ngược lại, Hóa kị nhập Phu thê cũng xung Quan lộc cung, biểu thị Mẫu thân không có thành tựu gì trong sự nghiệp.

论子女有无出息,以子女为本官,父母宫为子女的气数位。父母化禄入夫妻宫,因夫妻是子女的父疾线(文书线),故表示子女聪明智慧,读书很轻松,成绩好,日后青云直上,光宗耀祖;父母化权入夫妻,表示子女能认真读书,成绩也不错;父母

化科入夫妻,表子女入学读书,是靠老师或别人帮助的;父母化忌入夫妻,表示子女智力不好,读书成绩不好,在文书上有麻烦。若父母化吉入财福线,因财福线是子女的兄友线,表示子女在财经方面有成就;父母化忌入财福线,则表子女财经上无成就。

Luận Tử Tức có hay không có tiền đồ, lấy Tử tức cung là bản cung, Phụ mẫu cung là KSV của Tử tức cung. Phụ mẫu Hóa lộc nhập Phu thê, vì Phu thê cung nằm trong tuyến Phụ Tật của Tử Tức cung (tuyến Văn thư), nên biểu thị con cái thông minh trí tuệ, học hành dễ dàng, thành tích tốt, ngày sau một mạch lên cao, khiến tổ tông vinh dự; Phụ mẫu Hóa quyền nhập Phu thế, biểu thị con cái nghiêm túc học hành, thành tích cũng rất tốt; Phụ mẫu Hóa khoa nhập Phu thế, thì con cái khi đi học, nhờ vào thầy cô giáo hay người người giúp đỡ; Phụ mẫu Hóa kị nhập Phu thê, biểu thị năng lực của con cái không tốt, thành tích học tập không cao, trong vấn đề Văn-thư có phiền não. Nếu Phụ mẫu Hóa cát nhập tuyến Tài Phúc, vì tuyến Tài Phúc chính là tuyến Huynh Nô của Tử Tức, biểu thị con cái trên lĩnh vực tài chính kinh doanh có thành tựu; Phụ mẫu Hóa kị nhập tuyến Tài Phú, thì con cái trong lĩnh vực tài chính kinh doanh không có thành tựu.

田宅是家,是房地产,是财之库。田宅的气数位为疾厄宫,疾厄宫干化吉入夫官线,因夫官线是田宅的父疾线,表示家世清白,家族在社会上有较高的声誉地位,不会有房地产纠纷。若疾厄宫干化吉入财福线,因财福线是田宅的兄友线,表示一家人主要走经商或财经界者居多,也主家族在财经方面较有成就。疾厄宫干化忌入夫官线或财福线,则家庭不幸,家庭财经困难。

Điền-trạch là nhà cửa, là bất động sản, là kho của tiền tài. Khí-số-vị của cung Điền-trạch là cung Tật-ách, cung Tật-ách Thiên-can hóa cát nhập tuyến Phu-Quan, bởi vì tuyến Phu-Quan chính là tuyến Phụ-Tật của Điền-trạch, biểu thị gia thế thanh bạch, gia tộc ở trong xã hội có danh dự và địa vị khá cao, không có tranh chấp về bất động sản. Nếu cung Tật-ách Thiên can hóa cát nhập tuyến Tài-Phúc, bởi vì tuyến Tài-Phúc chính là tuyến Huynh-Nô của Điền-trạch, biểu thị người trong gia đình chủ yếu đi kinh doanh hoặc người trong giới tài chính và kinh tế chiếm đa số, cũng chủ gia tộc ở phương diện tài chính và kinh tế tương đối có thành tựu. Cung Tật-ách Thiên can Hóa Kị nhập tuyến Phu-Quan hoặc tuyến Tài-Phúc, thì gia đình bất hạnh, tài chính và kinh tế của gia đình gặp trắc trở.

福德宫表祖德、财源和嗜好之宫,福德的气数位是迁移宫。迁移宫干化吉入父疾线,因父疾线是福德的兄友线,表示祖业茂盛;若化忌入父疾线,则表示祖业不景气。

父母宫是父亲之宫位,也是相貌宫和遗传位。奴仆宫是父母宫的气数位,奴仆宫干的四化入宫情况可看出父亲有无生气,也可看出本身有何暗疾,宿疾,不明原因的疾病。

Cung Phúc-đức biểu thị tổ đức, là cung của tài nguyên và sở thích, khí-số-vị của cung Phúc-đức là cung Thiên-di. Cung Thiên-di Thiên can hóa cát nhập tuyến Phụ-Tật, bởi vì tuyến Phụ-Tật chính là tuyến Huynh-Nô của Phúc-đức , biểu thị tổ nghiệp tốt đẹp; nếu Hóa Kị nhập tuyến Phụ-Tật, thì biểu thị tổ nghiệp không có sự phát đạt.

Cung Phụ-mẫu là cung vị của phụ-thân, cũng là cung tướng-mạo và di truyền. Cung Nô-Bộc chính là khí-số-vị của cung Phụ-mẫu, xét tình trạng khi cung Nô-Bộc Thiên can Tứ Hóa nhập vào các cung thì khán ra được phụ-thân có hay không có khí (hữu lực), cũng có thể khán ra bản thân có bệnh kín, bệnh cũ, bệnh không rõ nguyên nhân gì.

疾厄为身体,兄弟为疾厄的气数位,故兄弟的四化决定身体的健康、寿数。

Tật-ách là thân thể, cung Huynh-đệ là khí-số-vị của cung Tật-ách, cho nên cung Huynh-đệ khí Tứ Hóa quyết định sự khỏe mạnh của thân, và tuổi thọ.

如何同时看四化之间产生的复合作用呢?例如禄入兄友而忌入父疾,不能以双忌论。禄入兄友,表示走财经路线,事业有成;忌入父疾线,为文书,是非一大堆;综合看,做生意做得很好,但常常和人家打官司;所以在选择事业上,应避免带文书契约的工作。如果禄入父疾而忌入兄友,则表示作文书或带经纪、服务性的工作较有成就,而搞投资经商则较会有麻烦。

Làm thế nào xem được tác dụng phức hợp do Tứ Hóa cùng lúc tạo ra? Ví dụ như Hóa Lộc nhập tuyến Huynh-Nô mà Hóa Kỵ nhập tuyến Phụ-Tật, không thể lấy song-kị để luận được. Hóa Lộc nhập tuyến Huynh-Nô, biểu thị làm việc ở lĩnh vực tài chính và kinh tế, sự nghiệp có thành công; Hóa Kỵ nhập tuyến Phụ-Tật, làm việc trong mảng văn phòng, thì thị phi tích tụ ngày một lớn; tổng hợp lại thì, làm kinh doanh thì tốt, nhưng hay cùng với người khác có tranh cãi, kiện cáo; cho nên trong việc chọn nghề nghiệp, nên tránh công việc liên quan đến công-văn, khế-ước. Nếu như Hóa Lộc nhập tuyến Phụ-Tật mà Hóa Kị nhập tuyến Huynh-Nô, thì biểu thị công việc văn phòng hoặc quản lý, công việc mang tính phục vụ thì sẽ có thành tựu, mà làm đầu tư kinh doanh thì sẽ có những phiền phức.

如果禄、忌同宫或在对冲宫,以双忌论,但必须是同—

宫干化出的禄、忌才算,不相干的宫位之化耀只作闲神看。例如,生年干庚使太阳化禄入父母宫,而命宫干甲又使太阳化忌入父母,这不能算双忌,而且此禄还有解忌的能力。所谓化解,不是抵消,而是减轻作用。

Nếu như Lộc, Kị đồng cung hoặc ở cung đối xung, dùng song-kị luận, nhưng phải là do cùng do một can cung hóa xuất Lộc, Kị thì mới tính, nếu không phải hóa diệu do cung vị liên quan tạo ra thì chỉ xem như “thông thường”. Ví dụ như, can Canh của năm sinh khiến cho Thái-Dương Hóa-Lộc nhập cung Phụ-mẫu, mà cung Mệnh can Giáp lại khiến cho Thái-Dương Hóa-Kị, cái này không thể tính là song-kị, mà lại đến đây Lộc còn có năng lực hóa giả Hóa-Kị năng lực. Cái gọi là hóa giải, không phải là triệt tiêu, mà là làm giảm bớt tác dụng.

“气数位”化三吉入本宫的三方为吉;化忌入本宫的三方则有阻滞,但不算大凶;化忌冲本宫的三方则为大凶。

问题是气数位化三吉入本宫父疾线、兄友线而又化忌入本宫的三方,或者化忌入本宫的父疾线、兄友线而又化三吉入本宫的三方,将如何论断呢?两者相互化解缓和作用,吉者减吉,凶者减凶。四化入本宫父疾线、兄友线为兆象、机遇,吉凶较虚;四化入三方,三方为”我”宫,故吉凶较实;两者皆吉则增吉,一吉一忌则吉凶均减力。

原命、财、官三宫所化之忌,要入大限的父疾线才以大凶论;原命、财、官三宫所化三吉,要入大限的父疾线才以大吉论。

Khí-số-vị hóa tam cát nhập tam phương của bản-cung là cát; Hóa Kị nhập tam phương của bản-cung thì có trở ngại, nhưng không tính là đại hung; Hóa Kị xung tam phương của bản-cung thì là đại hung.

Vấn đề là khí-số-vị hóa tam cát nhập tuyến Phụ-Tật của bản-cung, tuyến Huynh-Nô của bản-cung; mà khi đó Hóa Kị nhập tam phương của bản-cung. Hoặc Hóa Kị nhập tuyến Phụ-Tật của bản-cung, tuyến Huynh-Nô của bản-cung; mà khi đó hóa tam cát nhập tam phương của bản-cung. Thì làm thế nào để luận đoán? Hai lực lượng này cùng nhau tạo ra tác dụng hóa giải hòa hoãn, cái cát cũng giảm cát, mà điều hung cũng giảm hung. Tứ Hóa nhập tuyến Phụ-Tật của bản-cung, tuyến Huynh-Nô của bản-cung thì là điềm tượng, cơ duyên, mức độ cát-hung tương đối “hư”; Tứ Hóa nhập tam phương, tam phương chính là cung của “Ta”, cho nên mức độ cát-hung tương đối “thực”; cả hai đều là cát thì tăng cát, một cát một kị thì cát-hung đều giảm lực.

Hóa-Kị của 3 cung Nguyên-Mệnh, Tài, Quan tạo ra, phải nhập tuyến Phụ-Tật của đại-hạn thì mới luận là đại hung; tam-cát của 3 cung Nguyên-Mệnh, Tài, Quan tạo ra, phải nhập tuyến Phụ-Tật của đại-hạn thì mới luận là đại cát.

△二、上中下三级相扣论断法

– Phép luận đoán sự ảnh hưởng lẫn nhau của ba cấp Thượng Trung Hạ

这一方法要结合”命局与限年四化的关系”一节来看。四化分为命盘、大限、流年、流月、流日、流时等六级。”在天成象,在地成形,在人成事”的三阶段法则同样适用于这六级中的任意三级,但必须是从上到下的三级,结果可分为命、限、年一组,限、年、月一组,年、月、日一组,月、日、时一组,共组成四组上中下三级盘。以这些三级四化的关系来分析事情的发生、发展和结果,称为三级相扣论断法,

主要用来断应期的,就是说,凡同一类人事吉凶必须以三级同看,上级兆示,中级定型,下级为应期。

Phương pháp này cần kết hợp với tiết “Quan hệ giữa Mệnh cục và niên hạn tứ hóa” để xem. Tứ Hóa chia làm Mệnh-bàn, đại-hạn, lưu-niên, lưu-nguyệt, lưu-nhật, lưu-thời 6 cấp. “Tại Thiên thành tượng, tại Địa thành hình, tại Nhân thành sự” chia làm 3 giai đoạn có thể áp dụng với 3 cấp tùy ý, nhưng phải là từ trên xuống dưới liên tục 3 cấp, kết quả có thể chia làm Mệnh, đại-hạn, lưu-niên thành một tổ hợp; đại-hạn, lưu-niên, lưu-nguyệt thành một tổ hợp; lưu-niên, lưu-nguyệt, lưu-nhật thành một tổ hợp; lưu-nguyệt, lưu-nhật, lưu-thời thành một tổ; tất cả có 4 tổ hợp gồm 3 cấp thượng trung hạ cấp. Lấy quan hệ của

3 cấp Tứ Hóa này để phân tích sự việc (gồm 3 giai đoạn): phát sinh, phát triển và kết quả, gọi là “tam cấp tương khấu luận đoán pháp”, chủ yếu dùng để đoán sự ứng-kì, tóm lại là, phàm đồng cát-hung của người hay việc, nhất định phải lấy cùng xem 3 cấp, thượng cấp chỉ ra điềm báo, trung cấp thành hình, hạ cấp là ứng kỳ.

本级四化的吉凶,首先兆示在本级,然后才发展到下级。原命局必然会有某个或吉或凶之人事;再看哪一大限中这个人事发展变化较大的,则吉凶就已基本定型,这个人事发展变化不大的大限则不用看;再看定型的大限中哪一年这个人事发展变化最大的,则吉凶的人事就必然在此年发生。例如,原局官禄落陷带煞化忌,兆示此人一生事业不利,当大限入官禄宫或大限官禄宫化忌冲本命官禄宫时则事业会大败,当流年入官禄宫或流官入忌冲之宫时,失业倒店就必然发生了。

Cát hung của Tứ Hóa ở mỗi cấp độ, đầu tiên sẽ chỉ ra điềm-báo ở chính cấp độ đó, sau đó mới phát triển ở cấp độ bên dưới. Mệnh gốc tất nhiên sẽ có chứa những thông tin về cát hung của nhân-sự (những việc trong đời người); cần xem đại-hạn nào sẽ xảy ra sự biến hóa trọng đại đó (tương ứng với thông tin có sẵn ở Mệnh-cục), thì ở đại hạn này cát hung đã cơ bản định hình, những đại hạn mà nhân-sự không có biến hóa lớn thì không cần xem những đại-hạn đó; lại xem những việc đã định hình trong đại-hạn thì sẽ có sự phát triển biến hóa lớn nhất ở năm nào, thì việc cát-hung của nhân-sự tất nhiên sẽ phát sinh vào năm đó. Ví dụ như, cung Quan-lộc gốc lạc hãm có Sát tinh Hóa Kị, chỉ ra điềm báo rằng sự nghiệp sẽ bất lợi, khi đại-hạn nhập cung Quan-lộc hoặc cung Quan-lộc của đại-hạn Hóa Kị xung cung Quan-lộc của bản mệnh thì thì sự nghiệp sẽ thất bại to lớn, khi lưu-niên nhập cung Quan-lộc hoặc cung Quan-lộc của lưu-niên hóa Kị xung, thì tất nhiên việc mất sự nghiệp, phá sản sẽ xảy ra.

上级盘为”体”,下级盘为”用”。例如,原盘化忌入大限,”体”冲”用”,凶事较轻,且仅主迹象;大限化忌冲原盘,”用”冲”体”,凶事必然发生,凶重,且主十年多凶。原盘化三吉入大限,吉小,且仅主迹象;大限化三吉入原盘,吉事必然发生,吉重,且主十年吉。大限与流年,流年与流月同理。

Thượng-cấp bàn là “Thể”, hạ-cấp bàn là “Dụng” . Ví dụ như, nguyên bàn Hóa Kị nhập đại-hạn, tức là “Thể” xung “Dụng”, việc hung là nhẹ, mà chỉ chủ cho có dấu hiệu; đại-hạn Hóa Kị xung nguyên bàn, “Dụng” xung “Thể”, tất nhiên phát sinh việc hung, việc hung là nặng, mà lại chủ mười năm nhiều việc hung. Nguyên bàn hóa tam cát nhập đại-hạn, may mắn là nhỏ, mà chỉ chủ cho có dấu hiệu; đại-hạn hóa tam cát nhập nguyên-bàn, tất nhiên phát sinh việc may mắn, việc may mắn là lớn, mà cũng chủ mười năm cát lợi. Đại-hạn cùng lưu-niên, lưu-niên cùng lưu-nguyệt cũng luận như vậy.

上级盘的四化应于下级盘(如年对月)审迹象,下级盘的四化入上级盘(如月对年)断吉凶。应先审迹象而后断吉凶,也就是先审命盘而后看限运。

Quan sát Tứ Hóa của bàn Thượng-cấp ứng với bàn hạ-cấp (như Niên đối với Nguyệt) là đểxem xét dấu hiệu (của cát-hung), Tứ Hóa của bàn hạ-cấp nhập vào bàn thượng-cấp (như Nguyệt đối với Niên) là để đoán cát hung. Trước tiên xem xét dấu hiệu, rồi sau đó đoán cát hung, cũng chính là trước hết xem xét Mệnh-bàn mà rồi sau khán vận hạn.

上级盘四化入下级盘(如生年入大限)审迹象,看”定数”,意思是下级某限年行到上级四化的宫位时,兆示该限年会有吉凶的迹象(发生时间),发生的吉凶事与四化入下级盘的宫名表意有关(应于何人事)。例如,原盘化忌入疾厄宫,大限入到原盘父母宫,大限受忌冲,兆示此大限内自己会有不利的事情。但凶事会不会发生?与原局疾厄宫及父母宫的吉凶、大限四化及流年吉凶等都有关系,不可一概而论。

Tứ Hóa của bàn thượng-cấp nhập bàn hạ-cấp (như năm sinh nhập đại-hạn) là để xem xét dấu hiệu, xem “Định-số”, ý nghĩa là xem hành hạn năm nào của hạ-cấp đi vào cung vị của Tứ Hóa của thượng-cấp, chỉ ra điềm báo rằng năm đó sẽ xảy ra việc cát-hung dấu hiệu (thời gian phát sinh), sựphát sinh cát hung cùng với Tứ Hóa nhập cung vị nào của bàn hạ-cấp thì sẽ có liên quan (nghĩa là ứng với việc cụ thể nào). Ví dụ như, Hóa Kị của nguyên-bàn nhập cung Tật-ách, đại-hạn ở cung Phụ-mẫu của nguyên-bàn, đại-hạn bị Kị xung, chỉ ra điềm báo trong đại-hạn này sẽ có chuyện bất lợi. Nhưng hung-sự phát sinh hay không phát sinh? Cùng với cát-hung của cung Tật-ách, cung Phụ-mẫu trong nguyên cục; và cùng với cát-hung của Tứ Hóa của đại-hạn, Tứ Hóa của lưu-niên đều có quan hệ, không thể vơ đũa cả nắm.

下级盘四化入上级盘(如大限入原盘)断吉凶,看”应数”,意思是本级四化入上级某宫,即对上级该宫有影响,表在什么时间什么地方发生了什么事,结果如何?发生的吉凶事与四化入上级盘的宫名和星曜表意有关,但必须在原局兆示凶的情况下才会发生。例如,大限化禄入大限的什么宫位表示我这十年把心思放在什么地方,但是要看这步限将发生什么事情,必须看所入的这一宫位在原盘上是什么宫位,如

果大限盘为夫妻表示这十年很疼老婆,但夫妻在原盘上是福德,表示此限我关心的是赚钱的事。又如,原局兆示父母凶,大限化忌冲原局父母,则主父母在此大限内必有不利事发生,什么事与星情表意有关,凶的程度,即结果与宫的组合及旺衰有关。

Tứ Hóa của bàn hạ-cấp bàn thượng-cấp (như đại-hạn nhập nguyên-bàn) đoán cát hung, xem “ứng-số”, ý nghĩa là bản cấp Tứ Hóa nhập cung nào đó của bàn thượng-cấp, tức đối cung này của thượng-cấpcó ảnh hưởng, biểu thị vào lúc nào và ở đâu xảy ra chuyện gì, kết quả ra sao? Cát hung phát sinh thì cùng với cung vị của thượng-cấp mà Tứ Hóa và ý nghĩa của tinh diệu (ở cung đó) có liên quan, nhưng ở nguyên cục nhất định phải có điềm báo cát-hung thì mới có thểphát sinh. Ví dụ như, đại-hạn Hóa-Lộc nhập cung vị nào của đại-hạn biểu thị mười năm này ta đặt tâm tư chỗ nào, thế nhưng để xem đại hạn này xảy ra việc gì, thì nhất định phải xem cung vị này ở trên nguyên bàn là cung vị nào, nếu như

ở bàn đại-hạn là Phu-thê biểu thị cái này mười năm này rất yêu vợ, nhưng Phu-thê ở trên nguyên bàn là Phúc-đức, biểu thị đến hạn nàychuyện ta quan tâm là kiếm tiền. Lại như, nguyên cục có điềm báo phụ mẫu hung, đại-hạn Hóa Kị xung cung Phụ-mẫu của nguyên cục, thì họ chủ phụ mẫu ở trong đại-hạn này tất phát sinh chuyện, là chuyện gì thì cùng với tính chất các sao (trong cung này) có liên quan, mức độ của việc hung, và của kết quả thì có liên quan với tổ hợp sao, và sự vượng-suy ở cung này.

上中下三级相扣论断法又分为三个方法,分论如下:

Phép luận đoán “thượng trung hạ tam cấp liên hoàn” lại phân làm ba phương pháp, như sau:

◎(一)、天人合一法

◎ (1). Thiên Nhân hợp nhất pháp

原命盘化给大限用,大限化给流年用,流年化回去给命盘用,方外人前辈称为”天人合一”。我们把他扩展到其他上中下三级,以上级盘化给中级盘用,中级盘化给下级盘用,下级盘化回去给上级盘用,统称为天人合一法。

我们以命、限、年这三级为例来说明”天人合一”法的具体应用。

Tứ Hóa của mệnh-bàn dụng ở đại-hạn, Tứ Hóa của đại-hạn dụng ở lưu-niên, Tứ Hóa của lưu-niên trở ngược lại dụng ở mệnh-bàn, tiền nhân gọi là “Thiên nhân hợp nhất” . Chúng ta đem điều này mở rộng đến thượng trung hạ ba cấp, lấy Tứ Hóa thượng-cấp dụng tại trung-cấp, Tứ Hóa trung-cấp dụng tại hạ-cấp, Tứ Hóa hạ-cấp trở ngược lại dụng ở thượng-cấp, gọi chung là “Thiên nhân hợp nhất pháp”.

Chúng ta lấy Mệnh, Hạn, Niên ba cấp làm thí dụ để minh họa ứng dụng cụ thể của “Thiên nhân hợp nhất pháp”.

原命盘化给大限用,就是原命盘的四化飞入大限十二宫的某宫,就表该大限所发生的事与该大限的该宫名称表意有关。例如,原命宫化忌入大限的父母宫,麻烦事就与父母或文书契约有关,因是坐忌,麻烦事还不算大,大问题在忌冲之宫,忌冲疾厄,疾厄是身体、工作场所,表身体有灾疾,也表会失业倒店,依”一六共宗”,冲疾则命不保,是大破败的迹象。

Tứ Hóa của mệnh-bàn dụng ở đại-hạn, chính là Tứ Hóa của mệnh-bàn bay vào cung nào đó trong mười hai cung của đại-hạn, thì biểu thị sự việc phát sinh tại đại-hạn này cùng với tên gọi của cung đó trong đại-hạn là có sự liên quan. Ví dụ như, nguyên-mệnh cung Hóa Kị nhập cung Phụ-mẫu của đại-hạn, trong việc của phụ-mẫu hoặc công văn khế ước có sự phiền toái, bởi vì là Hóa Kị đóng ở đó, chuyện phiền toái cũng không tính là lớn, vấn đề lớn là ở cung bị Hóa Kị xung, Kị xung Tật-ách, Tật-ách là thân thể, là nơi làm việc, biểu thịthân thể có tai họa, bệnh tật, cũng biểu thị cómất việc làm, đổ vỡ sự nghiệp, dựa vào “Nhất lục cộng tông”, xung cung Tật thì mệnh-bất-túc, là dấu hiệu của sự phá-bại lớn.

同理,大限四化留给流年用,当流年走到大限四化宫时应吉凶,就是说,大限的四化宫位,当流年进入该宫位时,吉凶事就发生了。

Cũng thế, Tứ Hóa của đại-hạn dụng ở lưu-niên, khi lưu-niên đi tới cung (có) Tứ Hóa của đại-hạn Tứ Hóa thì ứng với việc cát-hung, nghĩa là, cung vị Tứ Hóa của đại-hạn, khi lưu-niên tiến nhập vào cung vị này, thì việc cát-hung sẽ xảy ra.

大限孕育的事件,然必应于十年内的某一年,这就是”下应流年”的意思。大限十年的情况将会怎样?有三种看法:一种是看原盘禄忌成为流年的什么宫位来定,例如看凶事,主要看原盘冲宫成为流年的什么宫位来定,若原盘冲宫成为流年的子女宫,表对子女不利,而且子女为合伙宫,表示这一年合伙的事情会散伙;又如冲宫成为流年的财帛宫,表示这一年要破财;当冲宫成为流年的疾厄宫时,表示身体多灾,又疾厄受冲会损业倒店。第二种看法是看大限的禄忌成为流年的什么宫位,例如,大限化出的忌,流年走到,该年就不利,流年走到忌冲之宫更不利。第三种看法是以流年化回去给命盘用。

Sự kiện thai nghén ở đại-hạn, tất sẽ ứng vào một năm nào đó trong mười năm của đại-hạn, đây chính là ý nghĩa của “hạ ứng lưu-niên”. Tình huống của mười năm đại-hạn sẽ như thế nào? Có ba cách nhận định: Một là, xem Lộc Kị của nguyên-bàn nhập vào cung vị nào của lưu-niên, ví dụ như xem hung-sự, chủ yếu xem nguyên-bàn xung cung vị nào của lưu-niên để định đoạt, nếu nguyên-bàn xung cung Tử-nữ của lưu-niên, biểu thị đối với con cái bất lợi, mà Tử-nữ còn là cung của sự góp-vốn, biểu thị năm này góp vốn sẽ tổn thất, tan vỡ; nếu như xung cung Tài-bạch của lưu-niên, biểu thị năm này mất mát tiền bạc; khi xung cung Tật-ách của lưu-niên, biểu thị thân thể lắm bệnh, vừa Tật-ách bị xung thì cũng có thể tổn hại đến sự nghiệp. Hai là, xem Lộc Kị của đại-hạn lộc kị cung vị nào của lưu-niên, ví dụ như, đại-hạn hóa xuất Kị, khi lưu-niên đi tới, năm đó sẽ bất lợi, lưu-niên đi tới cung mà Kị xung lại càng không lợi. Ba là, lấy Tứ Hóa của lưu-niên trở ngược về dụng ở cấp mệnh-bàn.

流年化回给命盘用,就是以流年干飞四化,看入原命盘的什么宫位来看该年的吉凶,亦属”上应本命”,看”应数”,即是这一年会发生什么事。原命为”体”,流年为”用”。发生什么事?必须以原命盘十二宫的名称表意来论。例如,流年化忌入事业,表这一年埋头于事业,工作很积极,但劳而无功;忌冲夫妻,痴情工作,忘了夫妻,夫妻关系出问题;又依一六共宗,顺数至第六宫为田宅宫,冲六则一亡,田宅为财库,财库破,要破财了;用冲体,大凶。

大限是个转折点,一般流年的吉凶要在大限吉凶的基础上论断,也就是说要命、限、年三盘相扣来看。

Tứ Hóa của Lưu-niên quay ngược về dụng ở mệnh-bàn, chính là lấy can của lưu-niên để phi Tứ Hóa, xem nhập vào cung vị nào của nguyên-mệnh để định ra cát-hung, cũng thuộc về “Thượng ứng bản-mệnh”, để xem “Ứng số “, tức là năm này sẽ phát sinh chuyện gì. Nguyên-mệnh là “Thể”, lưu-niên là “Dụng”. Phát sinh ra chuyện gì? Nhất định phải dựa vào mười hai cung trên nguyên-mệnh để luận. Ví dụ như, lưu-niên Hóa Kị nhập Quan-lộc, biểu thì năm này vùi đầu vào sự nghiệp, làm việc rất tích cực, nhưng vất vả mà không thành công; Kị cũng xung Phu-thê, mải mê công tác, mà bỏ quên mối quan hệ vợ chồng, quan hệ vợ chồng có vấn đề; lại dựa vào “nhất lục cộng tông”, thuận số đếm đến cung thứ 6 là cung Điền-trạch, xung lục tắc nhất vong (xung cung Phu-thê thì làm ảnh hưởng xấu đến cung Điền Trạch), Điền-trạch là tài-khố, tài-khố bị phá, thì hao tài; mà Dụng xung Thể, là đại hung.

Đại-hạn là một bước ngoặt, cùng một sự cát-hung giống nhau ở lưu-niên cát-hung cần phải xem trên cơ sở cát-hung của đại-hạn để phán đoán suy luận, nói cách khác cần dựa vào 3 bàn Mệnh, Hạn, Niên liên hợp với nhau để luận đoán.

◎(二)、中盘四化上传下应法

◎ (2). Trung bàn Tứ Hóa Thượng truyền hạ ứng pháp

中盘是个关键,是上下的转折点,所以特别重视中盘。中盘四化上应下传法,就是在上中下三级中,以中级的宫干飞四化,看四化飞入上级盘的什么宫位,即为”上传”;再以上级的这个宫位成为下级的同类宫位时为吉凶的应期,即为下应。

所谓同类,就是指不同级而同一名称之宫,例如,本命财帛宫与大限财帛宫或流年财帛宫为同类,本命事业宫与大限事业宫或流年事业宫为同类,其余类推。

Trung-bàn là then chốt, là bước ngoặt chuyển tiếp giữa thượng-bàn và hạ-bàn, vì vậy phải đặc biệt coi trọng trung-bàn. Tứ hóa của trung-bàn “thượng ứng, hạ truyền” (trên thì ứng, dưới thì truyền), chính là ở trong ba cấp thượng trung hạ, lấy trung-cấp can cung phi Tứ Hóa, xem Tứ Hóa bay vào cung vị nào của thượng-cấp, tức là “Thượng truyền”; lại lấy cung vị này của thượng-cấp đểứng với cung vị đồng loại ở hạ-cấp để định ra ứng kì của cát-hung ứng-kì, tức là “Hạ ứng”.

Cái gọi là đồng loại, chính là chỉ cấp thì khác nhau mà danh xưng (tên gọi) của cung là giống nhau, ví dụ như, cung Tài-bạch của bản mệnh cùng cung Tài-bạch của đại-hạn hoặc cung Tài-bạch của lưu-niên là đồng loại, cung Quan-lộc của bản mệnh cùng cung Quan-lộc của đại-hạn hoặc cung Quan-lộc của lưu-niên là đồng loại, các cung khác cũng vậy.

◇吉事应验之期,看中级宫化三吉,则会应于与上级盘”同类”坐宫的限年。例如大限化禄入本命的福德,表示本大限我关心赚钱,当本命的福德宫成为流年的福德宫时,也可以说流年的福德宫走到本命的福德宫时,此年财源滚滚来,福德与福德为同类。又如流年化禄入大限的事业宫,表示我关心事业,当大限的事业宫成为流月的事业宫时,也可以说当流月的事业宫走到大限的事业宫时,此月事业要发达了,事业与事业为同类。

◇Hạn ứng nghiệm cát sự, xem trung-cấp hóa tam-cát, thì khi cung vị tương ứng của niên-hạn là “đồng loại” với thượng-cấp sẽ ứng kì. Ví dụ như đại-hạn Hóa-Lộc nhập Phúc-đức của bản mệnh, biểu thị đại-hạn này ta quan tâm kiếm tiền, khi cung Phúc-đức của bản mệnh trở thành cung Phúc-đức của lưu-niên, cũng có thể nói rằng khi cung Phúc-đức của lưu-niên đi tới cung Phúc-đức của bản mệnh, thì năm này “tiền vào như nước”, Phúc-đức và Phúc-đức là đồng loại. Nếu như lưu-niên Hóa-Lộc nhập Quan-lộc của đại-hạn, biểu thị năm này ta quan tâm sự nghiệp, khi Quan-lộc của đại-hạn trở thành Quan-lộc của lưu-nguyệt, cũng có thể nói rằng khi Quan-lộc của lưu-nguyệt đi tới Quan-lộc của đại-hạn, thì tháng này sự nghiệp phát đạt, Quan-lộc và Quan-lộc là đồng loại.

◇小结:例如大限化禄入本命,当流年入本命,命与命为同类,则此年应吉;大限财帛化禄入寅宫,当流年的财帛宫入到寅宫时,便高升了,财帛与财帛为同类,寅宫与寅宫为同类。

◇ Kết luận: Ví dụ như đại-hạn Hóa-Lộc nhập bản mệnh, khi lưu-niên nhập bản mệnh, Mệnh cùng Mệnh là đồng loại, thì đến năm này ứng với cát; đại-hạn Tài-bạch Hóa-Lộc nhập cung Dần, thì khicung Tài-bạch của lưu-niên đến cung Dần, thì tiền bạc lên cao, Tài-bạch với Tài-bạch là đồng loại, Dần cung với Dần cung là đồng loại.

◇凶事应验之期,看中转之宫的化忌,则会应于与上级盘”同类”相冲的流年。例如,大限疾厄宫化忌冲本命的田宅宫,主本大限财库破,当流年的田宅宫走到本命的田宅宫时,即流田被冲之年,则此年要破财,田宅与田宅为同类。又如,流年化忌冲大限的父母宫,主本年父母、文书契约、名誉有问题,当流月的父母宫走到大限的父母宫时,该月凶事要发生了,父母与父母为同类。其余类推。

◇ Hạn ứng nghiệm hung sự, Khán xem cung phi hoá Kỵ tới, thì sẽ ứng với thượng bàn

“Đồng loại” tương xung Lưu niên. Ví dụ, cung Tật ách Đại hạn phi hoá Kỵ xung cung Điền trạch Bản mệnh, trong đại hạn chủ kho tiền của bị phá, lúc cung Điền trạch Lưu niên đi đến cung Điền trạch bản mệnh, tức bị xung cung Điền, thì năm này phải phá tài, điền trạch xung điền trạch là đồng loại. Nếu như, Hoá kỵ lưu niên xung cung Phụ mẫu, năm này chủ về cha mẹ, công văn hợp đồng, thanh danh có vấn đề, lúc cung Phụ mẫu lưu nguyệt đến cung Phụ mẫu Đại hạn, nên tháng này hung sự sẽ xảy ra, phụ mẫu xung phụ mẫu là đồng loại. Vấn đề còn lại suy rộng ra.

◇小结:专看忌冲之宫,同类相冲凶事发,例如,大限化忌入迁冲大限,流年入大限宫时破败,命与命同类。若命宫化忌冲寅宫,当大限和流年均入到寅宫时,此年便破财了,寅宫与寅宫为同类。命、限、年三级同类相冲最凶。例如大限化忌冲本命,命冲命,为同类相冲,又是用冲体,此大限凶,命宫化出的忌,与破财有关,当流年进入本命宫时,此年必破财;大限财帛宫化忌冲本命的财帛宫,财帛与财帛为同类相冲,又是用冲体,此限凶,财帛化出的忌与事业有关,当流年财帛宫入本命财帛宫时便败业了。

◇Kết luận: tập trung khán Hoá kỵ xung cung nào, đồng loại xung lẫn nhau thì hung sự sản sinh, ví như, Hoá kỵ đại hạn nhập và xung đại hạn, lưu niên nhập cung đại hạn thì phá bại, mệnh và mệnh đồng loại. Như cung mệnh phi Hoá Kỵ xung cung Dần, lúc đại hạn và lưu niên đều tiến vào cung Dần, năm này liền hao tài, cung dần và cung dần là đồng loại. Mệnh, hạn, niên 3 tầng đồng loại xung lẫn nhau là hung nhất. Ví dụ như đại hạn phi Hoá kỵ xung bản mệnh, mệnh xung mệnh, là tương xung đồng loại, lại vừa “Dụng” xung “Thể”, đại hạn này xấu, xung mệnh bị Hoá kỵ xung, cũng có tượng hao tài, lúc lưu niên tiến vào cung bản mệnh, năm này tất hao tài; cung Tài bạch đại hạn phi Hoá kỵ xung cung Tài bạch bản mệnh, tài bạch với tài bạch là đồng loại tương xung, lại là “Dụng” xung “Thể”, hạn này hung, tài bạch phi xuất Hoá kỵ giống như quan lộc vậy, lúc cung Tài bạch lưu niên tiến vào cung Tài bạch bản mệnh thì dễ mất việc làm.

本命宫化忌或忌冲:入大限父疾线:冲宫入流年的田、财应之。(铁口断诀)

Cung bản mệnh phi Hoá kỵ hoặc xung Hoá kỵ: nhập vào tuyến Phụ – Tật: xung cung, lưu niên nhập cung Điền, Tài sẽ ứng nghiệm (thiết khẩu đoạn quyết)

◎(三)、综合论断法

◎(3) Hệ thống luận đoán

此法中盘转折、气数位、同类叠冲、一路跟踪等法并用。我们用命、限、年这三级来举例说明。先用命盘飞四化,一般只看禄忌;当命盘禄忌的宫位进入大限的父疾线时,换个说法,当大限父、疾宫进入命盘禄忌的宫位时,吉凶事就要发生在此大限运内;再看吉凶应此大限的那一年,吉事会应于与原命盘禄入同类相叠的流年,凶事会应于同类相冲的流年。例如,原盘命宫化忌冲夫妻,会失业倒店,当大限入子田线时,忌入的宫位成为大限的父疾线,倒霉事就会发生在这个大限,发生在哪一年?因命宫为财帛的气数位,与财有关,既然与财有关,依同类相冲论,当冲宫成为流年的财帛、田宅宫的流年发生(还可依一六同宗论,流年走到田宅宫最凶)。又例如,原盘命宫化禄入夫妻,婚后事业顺遂、发财利,当大限入子田线时,禄入的宫位成为大限的父疾线,发财事就会发生在这个大限,发生在哪一年?因命宫为财帛的气数位,与财有关,既然与财有关,依同类相叠论,当禄入的宫位成为流年的财帛、田宅宫的流年发生。

Phương pháp này trong mệnh bàn, định khí số, đồng loại trùng điệp, đồng thời sử dụng theo một trục cung chức. Chúng ta dùng mệnh, hạn, năm đã nêu ví dụ về 3 tầng giải thích rõ. Trước tiên, dùng mệnh bàn phi tứ hoá, bình thường chỉ khán Lộc Kỵ; lúc mệnh bàn có cung phi Lộc Kỵ nhập vào tuyến Phụ – Tật của đại hạn, hoán đổi luận giải, lúc Phụ đại hạn, thì Lộc Kỵ tiến vào nhập cung Tật bản mệnh, nội tình cát hung sẽ phát sinh ở đại hạn này; lại tiếp tục xem cát hung ứng ở năm nào của đại hạn, cát khi ứng với Hoá lộc mệnh bàn gốc nhập vào đồng loại trùng điệp tại lưu niên, hung sẽ ứng với tương xung đồng loại tại lưu niên. Ví dụ, cung mệnh tiên thiên phi Hoá kỵ nhập cung Phu thê, sẽ quay lại xung cung Quan lộc, khi đại hạn nhập tuyến Tử – Điền, Hoá kỵ nhập cung như thế thì đại hạn thành nhập tuyến Phụ – Tật, đại hạn có thể xảy ra chuyện không may, vậy phát sinh ở năm nào? Bời vì cung mệnh là cung vị khí số của cung tài bạch, cùng quan hệ với tài, theo đồng loại trùng điệp luận, lúc xung cung Tài bạch lưu niên, cung điền trạch lưu niên sẽ phát sinh (vẫn có thể theo “nhất lục đồng tông luận”, lưu niên đi đến điền trạch cung hung nhất). Theo lại ví dụ cũ, cung mệnh nguyên bàn phi Hoá lộc nhập cung Phu thê, sau khi kết hôn thì sự nghiệp suông sẻ, kiếm được nhiều tiền, lúc đại hạn nhập tuyến Tử – Điền, thì Hoá lộc sẽ nhập cung vị tuyến Phụ – Tật, sự phát tài sẽ xảy ra ở đại hạn này, phát sinh ở năm nào? Bởi vì cung mệnh là cung vị khí số của cung Tài bạch, cùng quan hệ với tài, theo đồng loại trùng điệp luận, lúc Hoá lộc nhập cung vị của cung tài bạch lưu niên, cung điền trạch lưu niên sẽ phát sinh.

论流月、日、时的吉凶可仿上述方法分析。流年、月、日、时四化,较重视冲宫,不重视三合宫。

Luận lưu nguyệt, nhật, lúc cát hung có thể không rõ ràng với phương pháp phân tích nói trên. Lưu niên, nguyệt, nhật, lúc tứ hoá, xem cung đối nặng hơn, không coi trọng cung tam hợp.

△三、纵横分析论断法

– Phép phân tích, luận đoán tung hoành

看限年吉凶,可以原命盘的四化,一路留给大限、流年、流月、流日、流时用。以原命盘化出的四化(以禄、忌为主),一路从纵向、横向扩展来跟踪进行论断。

Khán hạn năm cát hung, có thể mệnh bàn nguyên cục phi tứ hoá, sử dụng liền mạch đại hạn, lưu niên lưu nguyệt, lưu nhật. Lấy mệnh bàn nguyên cụ phi xuất tứ hoá (lấy lộc, kỵ làm chủ), theo một hướng thẳng trên xuống, mở rộng để tìm dấu vết cho luận đoán.

纵向看,就是以原命盘四化(生年四化或命盘十二宫四化),一路留给大限、流年、流月、流日、流时等下级盆用。凡逢原命盘化三吉入(或照)而无忌冲的宫位主吉利,入或照限、年、月、日、时都主吉利;凡逢化忌入的宫位及限、年、月、日、时都主有阻滞,但不算凶,只要努力仍会成功;凡逢化忌冲照的宫位及限、年、月、日、时都主不利。

Khán từ trên xuống, chính là lấy mệnh bàn nguyên cục tứ hoá (tứ hoá năm sinh hoặc mệnh bàn 12 cung tứ hoá), liên tiếp cho đại hạn, lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật, liên tiếp cho đến bậc thấp thì dùng. Thông thường mệnh bàn nguyên cục hoá tam cát nhập (hoặc chiếu) mà không có kỵ bay vào cung gốc thì chủ cát lợi, nhập hoặc chiếu hạn, niên, nguyệt, nhật, lúc này đều chủ cát lợi; hễ thấy Hoá kỵ nhập cung gốc cùng hạn, niên, nguyệt, nhật, lúc đó đều chủ có trở ngại, nhưng không thể xem là hung, chỉ phải cố gắng sẽ thành công; còn hễ thấy Hoá kỵ xung chiếu cung gốc cùng hạn, niên, nguyệt, nhật thì đều chủ bất lợi.

横向看,就是从宫与宫之间的关系看。原盘十二宫皆可为本宫(太极点,新命宫),按宫位太极转换法,重布命盘十二宫,例如以兄弟宫为新命宫,重布命盘十二宫,则原命盘十二宫的名称随之而改变,原命宫变为新盘的父母宫,就是兄弟的父母宫;原命盘的夫妻官变为新盘的兄弟宫,也就是兄弟的兄弟宫。若以父母宫为新命宫,原盘夫妻宫变为父母的子女宫。其余类推。这样,一个宫位就可以变出十二个新名称,那么原盘十二个宫,就可以变化成12×12=144个信息。仍以生年四化落宫为主宫,看其余十二宫与生年落宫之间的关系来论,还可再扩展到十二宫的十二宫与生年四化落宫的关系论,这样每个化曜就有144个信息量;每一级就有144×4个信息;再扩展到限、年、月、日、时的十二宫与生年四化落宫的关系来论,信息容量更大,则论述的内容就相当丰富了。

Khán hướng ngang, chính là từ một cung khán sang đồng cấp các cung cùng quan hệ. Mười hai cung nguyên bàn đều có thể là bản cung (Thái cực điểm, cung mệnh mới), ấn định cung vị Thái Cực để chuyển đổi, phân bố lại tên mười hai cung mệnh bàn nguyên cục, cung mệnh nguyên cục thay đổi là cung phụ mẫu mới, chính là huynh đệ của cung phụ mẫu; cung phu thê mệnh bàn nguyên cục đổi thành cung huynh đệ mới, cũng là huynh đệ của cung huynh đệ. Như vậy lấy cung phụ mẫu là cung mệnh mới, cung phu thê nguyên bàn đổi thành cung tử nữ. Còn lại suy ra. Dạng này, một khi cung vị có thể biến đổi thành mười hai cung, như vậy mười hai cung nguyên bàn có thể biến thành 12 x 12 = 144 thông tin (cung vị). Nhưng lấy tứ hoá năm sinh rơi vào cung nào làm cung chủ, khán mười hai cung còn lại xem có quan hệ với cung có tứ hoá năm sinh mà luận, như vậy mỗi hoá diệu thì có 144 thông tin; mỗi một mệnh bàn thì có 144×4 thông tin; lại mở rộng đến hạn, niên, nguyệt, nhật, lúc tứ hoá năm sinh rơi vào mười hai cung luận nguyên nhân, lượng thông tin dung nạp càng lớn thì nội dung trình bày và phân tích khá phong phú.

例如,生年化忌冲夫妻,从正面来看,夫妻宫被冲,兆示这一生夫妻缘薄,夫妻关系不好;从同级横向扩展看,夫妻是父母的子女,父母的子女就是自己的兄弟,这样也就看出其人得不到兄弟的帮助;夫妻是兄弟的兄弟,兄友线主成就,表我对兄弟的成就无助;夫妻是福德的财帛,表示嗜好浪费;夫妻是田宅的疾厄,表示这人没有自己的房子,住宅是租的,且搬动频繁;夫妻是厨房位,冲就无厨房,房屋是公众式的,或是租住的房子,或厨房不好。其余类推。

Ví dụ, Hoá kỵ năm sinh xung phu thê, từ chính diện xem đến, cung phu thê bị xung, điềm báo nêu lên một đời duyên vợ chồng mỏng, quan hệ vợ chồng không tốt; từ đồng cấp mở rộng sang ngang, phu thê là phụ mẫu của tử tức, phụ mẫu của tử tức chính là huynh đệ của mình, dạng này cũng liền khán ra người không được huynh đệ trợ giúp; phu thê là huynh đệ của huynh đệ, tuyến huynh – nô chủ thành tựu, tỏ rõ ta với huynh đệ thành ra bất lực; phu thê là phúc đức của tài bạch, biểu thị hưởng thụ lãng phí; phu thê là điền trạch của tật ách, biểu thị người này không có nhà riêng, nơi ở là thuê, lại di chuyển thường xuyên; phu thê là không gian bếp, hướng chính vô nhà bếp (gt: ở đây có thể có chút phong thuỷ, kiêng cử hướng chính từ cổng vào khán thẳng xuống bếp theo quan niệm xưa), toà nhà là nhà tập thể, hoặc là thuê phòng nhỏ, hoặc phòng bếp không tốt. Còn lại suy ra.

再跟踪到下一级盘,看大限,看冲宫成为大限的什么宫位?若为大财,财受冲,这十年的财运就不好了;如为大疾,疾厄为身体,疾厄逢冲则身体不好,又疾厄为公司、工厂、商店,所以本限内公司要破败或倒闭。再从大限的横向关系来看(参看命宫化忌入各宫)。

Lại theo dõi đến cấp tiếp theo mệnh bàn, khán đại hạn, xem bị xung ở đại hạn là cung vị gì? Nếu là Tài đại hạn, tài bị xung, mười năm này tài vận sẽ không tốt; nếu là Tật đại hạn, tật ách là thân thể, tật ách gặp xung thì thân thể không tốt, mà tật ách cũng là công ty, nhà máy, cửa hàng, cho nên ở hạn nội tại công ty yếu có thể phá sản hoặc đóng cửa. Lại từ đại hạn khán ngang đến xem các mối quan hệ (xem thêm mệnh cung phi Hoá kỵ nhập các cung).

再跟踪到流年,看某年有什么事?就以冲宫成为流年的什么宫位来看?若冲宫刚好是流年宫,即流年本宫,凶力加倍,宫的星情好尚无大事,宫凶可要遭殃了;若冲宫成为流年的疾厄,不但主这一年身体不好,而且主其人的公司有问题;若冲宫成为流年的交友,交友是工友、朋友、工人,工人、工友出勤不出力,那还有什么搞头;若冲宫为流兄,表这一年兄弟有问题,自己也没有成就;若冲宫为流年的官禄,主事业有麻烦;冲宫为流年的福德,表财源出问题;冲宫为流年的子女,表子女的学习或事业有阻,又子女为合伙宫,表这一年要散伙;冲宫为流年的财帛,表这一年要破财;冲流田,财库出问题,要破财,家庭、家宅也有问题。还可从受冲的流年十二官横看(参看命宫化忌入各宫),例如,冲宫成为流田的兄弟宫,兄弟是田宅的财帛,受冲就表示家庭生活费用困难,经常寅吃卯粮。

Lại theo dõi đến lưu niên, khán lưu niên có chuyện gì? Xem bị xung ở lưu niên là cung loại gì? nếu cung xung vừa lức là lưu niên cung, tức lưu niên bản cung, hung lực gấp bội, các sao của cung báo hiệu tình trạng tình cảm, sở thích không hệ trọng, cung hung có thể gặp phải tai ương; như cung xung là Tật ách lưu niên, chẳng những chủ một năm này thân thể không tốt, mà lại chủ công ty của người đó có vấn đề; như cung xung là cung giao hữu (nô bộc) lưu niên, giao hữu là nhân viên tạp vụ, bằng hữu, công nhân, người đi làm cần mẫn, không có gì an nhàn; như cung xung là lưu huynh, báo hiệu năm này huynh đệ có vấn đề, bản thân cũng ko có thành tựu; như cung xung là lưu niên quan lộc, chủ sự nghiệp có phiền phức; cung xung là lưu niên phúc đức, tỏ rõ tài nguyên (kho tài bạch) xảy ra vấn đề; cung xung là lưu niên tử tức, biểu hiện trường học của con cái hoặc sự nghiệp có trở ngại, tử tức còn là cung vị hùn vốn làm ăn, tỏ rõ năm này phải tan rã; cung xung là lưu niên tài bạch, tỏ ra năm này phải phá tài; xung lưu điền, tài kho xảy ra vấn đề, phải phá tài, gia đình cũng có vấn đề. Có lẽ khán xem lưu niên cuối cùng nhập vào đâu mười hai cung chức (xem thêm cung mệnh phi Hoá kỵ nhập các cung), ví dụ như, cung nhập là cung Huynh đệ lưu niên, huynh đệ là điền trạch của tài bạch, bị nhập thì tỏ rõ tiền dùng sinh hoạt gia đình khó khăn, thường xuyên thu không đủ chi.

接下来还可以上面的方法一路纵横向来跟踪到流月、流日、流时。

Sau đó tiếp tục “phương pháp tung hoành” để theo dõi đến lưu nguyệt, lưu nhật, lưu thời.

原命盘的生年四化以及命、财、官等宫四化入下级盘十二宫,只要入宫的名称相同,所发生的吉凶事体都会基本相似,例如四化入下级盘的父母宫,事情都与父母或文书有关;四化入下级盘的子女宫,事情都与子女有关;事情还可横向看;但事情发生的原因则会不同,事因与原命盘飞四化的宫和星有关,还与气数位有关。

Tứ hoá năm sinh của mệnh bàn nguyên cục cùng với tứ hoá cung mệnh, tài, quan nhập vào mười hai cung mệnh bàn, chỉ quan trọng khi nhập vào cung vị giống nhau, phát sinh cát hung đều sẽ cơ bản tương tự, ví dụ như tứ hoá nhập xuống cung phụ mẫu nguyên bàn, sự tình đều quan hệ với phụ mẫu hoặc liên quan văn thư; có thể khán ngang để thêm sự tình; nhưng chuyện phát sinh bởi nguyên nhân gì thì sẽ khác biệt, nguyên nhân bởi vì mệnh bàn nguyên cục phi tứ hoá có cùng quan hệ với sao và khí số vị (cung vị).

以上分析凶事的方法,最宜以原盘重病焦点问题之宫来进行分析,因为原盘存在的焦点问题,多会有凶事发生,我们就要分析发生于哪限哪年。例如,原命官禄宫失陷化忌,为焦点问题宫,不但兆示事业凶,夫妻宫和田宅宫都凶,当大限走到官禄宫时此十年麻烦事就多了,具体分析参看上术各法。

Trên đây phương pháp phân tích hung sự, tốt nhất là phân tích trọng tâm của vấn đề, bởi vì nguyên bàn tồn tại nhiều vấn đề trọng tâm, nhiều sẽ có phát sinh hung sự, chúng ta phải phân tích phát sinh ở hạn năm nào. Ví dụ, cung Quan lộc mệnh bàn nguyên cục bị Hoá kỵ án ngữ, là cung có vấn đề trọng tâm, chẳng những điềm báo sự nghiệp hung, cung phu thê cùng cung điền trạch đều hung, lúc đại hạn đi đến cung quan lộc thì lúc này mười năm liền có chuyện phiền toái, cụ thể xem thêm các thuật pháp phân tích bên trên.

第十节四化法的分类预测

(Tử vi đẩu số tinh hoa tập thành – Đại Đức Sơn Nhân

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button