Tử vi

Tiết 10 : Đẩu số luận mệnh kinh nghiệm tổng kết.

Bên trên là kiến thức cơ sở mà đẩu số luận mệnh, dưới đây là tiến hành một số tổng kết và tóm lược những kinh nghiệm luận mệnh của đẩu số.

Trước là phân tích suy diễn, tiến hành công việc ” Định Bàn” đây là điều rất cần thiết. Định bàn chính là sau khi bày ra mệnh bàn, tiến hành công việc định giá kiểm tra một loạt tin tức với mệnh chủ, để xác định giờ sinh và mệnh bàn có chính xác hay không. Sau khi bày ra được mệnh bàn, có thể lấy tinh diệu của cung Mệnh để xem tướng mạo của mệnh chủ đúng hay không, lại lấy tính cách đặc trưng của tinh diệu vốn có ở mệnh cung để hỏi mệnh chủ xem có đúng hay không, ví dụ người có Văn Xương Văn Khúc thủ mệnh, xem trên mặt cô ấy có vết tàn nhanh hoặc vết loang lổ hay không… ; lại như người Tham Lang thủ mệnh, nông tóc sẽ tương đối dày; người Phá Quân thủ mệnh thì đa số là người lương dày mày rộng. Lại lấy lý tính của sao ở cung Phụ Mẫu cát hung hỏi bản thân mệnh chủ về tình hình cuộc sống lúc nhỏ và tình hình địa vị, tính tình đại khái của cha mẹ mệnh chủ đúng hay không. Lại lấy vận hạn cát hung trong quá khứ để hỏi về tình hình quá khứ của mệnh chủ có đúng hay không. Nếu khi sự thực không phù hợp thì có thể thay đổi lên xuống giờ sinh bày lại một mệnh bàn khác để tiến hành so sánh đối chiếu, để xem mệnh bàn của giờ nào phù hợp với tình hình của người đó, tức là lấy mệnh bàn của giờ đó làm chuẩn, để tiến hành luận mệnh. Đối với những người sinh ở thành phố trong những năm gần đây hoặc tự cho phép giờ đó chuẩn xác, xác định một chút mệnh bàn là có thể xác định ra giờ sinh hoặc giờ Thái Dương thật đúng được hay không, cũng có thể phòng ngừa việc bày sai mệnh bàn mà tạo ra việc suy đoán mà dẫn đến sai lầm, đối với việc bản thân tự nhận là giờ sinh không chuẩn và tháng nhuận, người sinh giờ Tý ban đêm, thì càng cần tiến hành “Định bàn”.

Phép tắc cơ bản luận mệnh của đẩu số: Cung vị định nhân sự, lý tính sao định cát hung, hành vận xem biến đổi, Tứ Hóa tìm thời cơ chuyển tiếp

Bạn đang xem: Tiết 10 : Đẩu số luận mệnh kinh nghiệm tổng kết.

“Cung vị định nhân sự “, đầu tiên là lấy tên gọi của cung để định người và việc mà cung đó làm chủ, nhưng Mệnh cung là bản thân, cung Phụ Mẫu là cha mẹ, cung Tài Bạch làm tài vận…. Lại lấy tinh diệu lạc cung

phản ánh những tình tiết của người và sự vật, chính tinh làm chủ, phụ tinh có vai trò phù trợ, hoạt động trợ giúp, nguyên nhân cần trợ giúp. Ví dụ, Thất Sát tinh chủ dũng mãnh khai phá phát triển, nếu đồng cung với Cô Quả, thì chủ về một mặt độc đoán, độc lập khai phá, đơn đọc tác chiến; Lại như Thiên Cơ có thể là cơ khí, với Phá Toái đồng cung thì chủ về cơ khí linh kiện hoặc là máy móc cơ giới của Phá Toái; lại lấy địa chi của cung vị để định thời gian và địa điểm.

“Lý tính của sao định cát hung”, đó chính là lúc luận mệnh, bất luận là nguyên cục hay là vận hạn, đều lấy lý tinh của tinh diệu lạc cung làm căn cứ chủ yểu để luận đoán cát hung họa phúc.

Bất luận là cung hay sao, đơn tinh hay cung đơn chúng chỉ phản ánh bản tính chủ ý của nó, bị ảnh hưởng bới hoàn cảnh xung quanh, bản tính và chủ ý sẽ có thể thay đổi, có lúc chúng biến đổi còn rất lớn, nhân chi sơ tính bổn thiện, tùy sự ảnh hưởng của xã hội, thì con người hiện đại đã trở lên tham lam rồi, nhưng hoàn cảnh xung quanh không có cơ hội để ham muốn khiến không thể không trung thực. Cho nên khi phân tích luận đoán vừa cần đơn tinh đơn cung tiến hành đối chiếu với nghĩa đen của bản tính, lại phải xem xét sự ảnh hưởng của các sao, cung xung quanh biến hóa để tiến hành luận đoán tổng hợp.

“Xem biến hóa khi hành vận”, chính là hành vận cần lấy nguyên cục làm chủ thể, định số, bản chất, lại xem tình hình biến hóa của vận hạn gốc, là sự thay đổi tốt hay là thay đổi xấu, do đó phán đoán đườn cong biên hóa ở trong phạm vi của định số, thì lấy thời gian cụ thể cho việc ứng nghiệm cát hung, tức ứng số. Đẩu số luận mệnh, lấy mệnh bàn gốc làm chủ thể của mệnh vận, là dấu hiệu của sự tình, làm định số tiên thiên; xem sự cát hung của vận hạn để luận đoán kết quả nỗ lực và môi trường ảnh hưởng của hậu thiên, vận hạn tốt thì tăng cường tác dụng phù trợ đối với định số tăng mạnh, định số cát thì càng cát, mà hung thì giảm bớt hung; vận hạn hung thì tác dụng ức chế với định số yếu, định số cát thì giảm cát, mà hung thì càng hung. Nhân sinh phát đạt hay không, nó có quan hệ tốt xấu cực lớn với mệnh cục, cũng có quan hệ cực lớn với vận hạn, chính xác gọi là mệnh tốt hạn tốt cuối cùng hưng thịnh; mệnh tốt mà vận hạn không tốt, thì có tài nhưng không gặp thời, khó mà phát đạt; mệnh không tốt mà vận hạn tốt, thì còn có lúc phát huy, qua sự nỗ lực mà có thể phát tài một thời, nhưng khi phát đạt không thể lớn mà còn không thể bền, tầng thứ không thể quá cao, vẫn bị hạn chế của vận thế tiên thiên; mệnh không tốt mà vận hạn cũng không tốt, thì một đời bần tiện hoặc bệnh họa thương tàn.

“Tứ Hóa tìm thời cơ chuyển tiếp”, Ý là lấy sao Tứ Hóa để tìm thời cơ khởi phát việc cát việc hung. Sao Tứ Hóa là tinh diệu sinh động nhất và có năng lượng lớn nhất, nó có thể vận động và biến hóa lãnh đạo cả một nhóm sao, là bước chuyển tiếp và sự lưu chuyển của tình thế biến hóa. Sao Tứ Hóa sau khi can dự vào mệnh cục, đối với sự cao thấp của cách cục mệnh vận thì nó khởi lên tác dụng rất lớn. Cho nên phân tích Tứ Hóa là trọng yếu, đặc biệt là khi phân tích hành vận thì cần xem Tứ Hóa. Xem Tứ Hóa cần lấy Nguyên tinh (sao ban đầu, sao gốc) làm thể, Tứ Hóa làm dụng, động thái của Tứ Hóa là cơ sở đặc tính của sao gốc biến tốt hay là biến xấu, thông thường gặp Hóa Lộc Khoa Quyền là biến tốt, gặp Hóa Kị thì biến xấu, Ví dụ: Cự Môn có đặc trưng của cái “Mồn”, gặp Hóa Lộc biểu thị do “mồn” mà được tài lộc, Hóa Quyền biểu thị do “mồn” quyền mà có thể qua lời nói thuyết phục được quần chúng, Hóa Kị biểu thị do “mồn” mà sinh thị phi; Nhung cũng có tính đặc chưng, đây cần xem đặc tính của tinh diệu và tình hình Tứ Hóa của Tam phương tứ chính để suy xét toàn bộ lá số, Ví Dụ: Như các sao Cơ, Lương, Đồng mà Hóa Lộc thì không được tính là đẹp, Hóa Lộc và Hóa Kị đồng cung hoặc xung chiếu thì trái lại là hung. Tứ Hóa nguyên cục đối với một đời người thì đều có ảnh hưởng, Tứ Hóa hạn niên thì chỉ có thể ảnh hưởng ở các hạn niên đó. Nếu cách cục của nguyên cục tốt hoặc trong cung có sao Hóa Lộc Quyền Khoa, gặp vận Hóa Lộc Quyền Khoa, là dệt gấm thêm hoa, gặp hạn Hóa Kị là biến ra xâu, tức là trước tốt sau xấu, nhưng gốc rễ của sự tốt, xấu không đến mức cực điểm, vận qua thì lại tốt. Cách cục của nguyên cục không tốt hoặc trong cung có sao Hóa Kị, Vận hạn gặp Lộc Khoa Quyền, là từ xấu biến thành tốt, nhưng về gốc rỗ lại không tốt, cho nên mức độ biến tốt chỉ có giới hạn; gặp vận hạn Hóa Kị, là liên tiếp gặp tai nạn; gặp vận hạn Hóa Kị cung thì việc hung tất nhiên phát sinh. Mức độ biến tốt biến xấu còn cần xem sự vượng suy của chính tinh lạc cung mà định. Hóa Kị ở cung xung chiếu gọi là bị xung, gặp xung thì động, thì cơ hội chuyển tiếp xuát hiện ngay. Cường cung bị xung thì nổi lên, tức là ám động hoặc là động nhỏ; nhược cung bị xung thì phá (đã bị phá hoại); cát tinh hoặc sao hữu dụng bị xung khởi có tổn hại, xung phá thì đại hung mà còn phá bại. Cung mà có Hóa Kị tọa thủ thì chủ về gia tăng một chút khó khăn mà thôi, mà cung có Hóa Kị xung (tức cung xung chiếu) và lấy cung xung chiếu làm khởi điểm đếm thuận về đến cung thứ 6, hai cung này mới là điểm phá bại thực sự. Trong hai cung thì hung nhất ở cung nào? Thông thường cung hung nhất là thất hãm mà còn có nhiều sao hung, nhưng còn phải cần phân tích cụ thể, ví dụ xung cung Phu Thê, người chưa kết hôn thì ứng với cung Điền Trạch hung, thì gia đình sẽ sảy ra vấn đến, ông bà nôi hoặc cha mẹ sẽ sảy ra tranh chấp, bệnh thương tai họa…

Mệnh cung từ Tý cho đến Hại 12 cung, mà sao Tử Vi cũng có thể rơi vào 12 cung từ Tý đến Hợi, bởi vậy mà có 144 mệnh bàn cơ bản. Cùng một mệnh bàn, mệnh vận của người không cùng năm sinh thì sự khác biệt không những thuận theo tinh hệ không giống nhau mà còn biến đổi, hơn nữa cũng thuận theo sự không giống nhau của Tứ Hóa can năm sinh mà biến đổi, Tứ hóa năm sinh rơi vào cung nào thì nó hiển thị ra tình hình được mất của một mặt nào đó, đặc biệt là sao Hóa Kị rơi vào cung nào đó lại là vấn đề tiêu điểm được mất của mệnh vận. Ví dụ, Người sinh năm Giáp, Thái Dương Hóa Kị, thì xem Thái Dương rơi vào cung nào, thành bại được mất của cuộc đời chính là có quan hệ rất lớn với cung này; nếu Thái Dương rơi vào cung Phụ Mẫu, vấn đề tiêu điểm đó chính là ở cung Phụ Mẫu, định nghĩa tên gọi của cung này là cung Phụ Mẫu, hiển nhiên đầu tiên là bất lợi với cha mẹ, cha mẹ bất hòa; mức độ bất lợi cần xem sự vượng suy của hóa diệu, miếu vượng thì sự tổn hại không lớn, thất hãm thì tổn hại nặng nề; khi xem mở rộng ra, thì cung Phụ Mẫu là cung di truyền, đầu não, danh sự, tuổi thơ của bản thân, Hóa kị biểu thị sự di truyền không tốt, cuộc sống của nửa đời trước rất chi là mệt; lại xem lý tính của hóa diệu, thì Thái Dương là phụ tinh, sao sự nghiệp, Hóa Kị biểu thị cha bất lợi, sự nghiệp của bản thân bị trở ngại; lại xem rộng ra, thì Hóa Kị xung cung Tật Ách, sức khỏe bản thân người này bệnh tật hoặc xảy ra sự cố nhiều. Còn lại năm sinh có thể suy rộng ra, hạn niên cũng luận tương tự.

Đẩu số cần hiểu rỗ “Thể Dụng”, Thể là Tĩnh, Dụng là Động. Ví dụ: Thái cực điểm là Tĩnh là Thể, mệnh bàn và cung biến hóa ra là Động là Dụng; nguyên cục là Tĩnh là Thể, vận hạn là Động là Dụng; Mệnh cung là Thể, 11 cung còn lại làm Dụng; chính tinh làm thể, phụ tinh làm Dụng; Nguyên tinh làm Thể, Tứ hóa tinh làm Dụng; lấy mệnh bàn đại hạn làm Thể, lưu niên lưu bàn làm Dụng.

12 cung nhân sự của Tử Vi đẩu số, mỗi một cung đều có thể là Thái cực điểm (tức cung Mệnh), khi 12 cung biến hóa ra 12 cung mới, để mở rộng nội dung tin tức, để phân tích những tình hình tỉ mỉ của nhân sự các cung càng kĩ càng, đây là yếu điểm vận dụng một cách linh hoạt của Tử Vi đẩu số.

Phân tích suy diễn đẩu số, một mệnh bàn được bày ra, thì việc đầu tiên là nắm chắc tình hình cơ bản của toàn bộ mệnh bàn một cách sơ bộ: Trên mệnh bàn có cách cục cát hung nào; vị trí mà Lục cát tinh đóng, có hay không lục cát kẹp và sao đôi lục cát thủ hội chiếu; vị trí mà lục sát, có hay không tam kẹp hung tinh, có hay không các sát tinh tụ tập; tình hình mà Tứ Hóa lạc cung; cung vị trong mệnh bàn đẹp nhất, cung vị trong mệnh bàn hung nhất, sau đó mới tiến hành phân tích suy đoán tỉ mỉ.

Bất luận là xem cung nào, hay là xem đại tiểu hạn, trên nguyên tắc không rời hai chữ ” Ngũ Khán” và “cát hung”, một là xem chính tinh miếu hãm của bản cung, hai là xem lạc cung vượng suy, ba là xem phụ tinh của bản cung là cát hay là hung, bốn là xem sự sinh khắc chế hóa giữa cung với sao, sao với sao, năm là xem tam phương tứ chính và hai lân cung phải trái, có cát tinh nhiều hay là hung tinh nhiều, cát như thế nào? Bất kể lạc cung là chính tinh nào, chỉ vần miều vượng, bản cung vô sát có cát tinh, tam phương tứ chính lại vô sát có cát tinh (hoặc cát nhiều sát ít), thì là tốt, chính tinh là cát tinh thì đại cát, thành cát cách càng cát; nếu cung chủ sự lại phùng sinh vượng, chủ tinh lại được cung sinh cho và phụ tinh tương sinh, thì như gấm thêm hoa. Hung như thế nào? Chính tinh thất hãm, bản cung có sát mà không có cát tinh, tam phương tứ chính lại sát nhiều cát ít, thì là đại hung, thành hung ác cách thì càng hung; phùng tam hung kẹp, cho dù tam phương cát nhiều, thì cũng chủ hung; Chính là ác diệu lại càng hung; nếu như cung chủ sự lại phùng Tử Tuyệt Không, hoặc chính tinh lại bị cung khắc hại, phụ tinh khắc chế, chắc khác nào đã tuyết còn thêm sương. Các tình hình còn lại nửa cát nửa hung, là cát nhiều hau hung nhiều, thì cần xem mức độ miếu hãm và tỉ lệ của hung cát tinh để tiến hành suy xét cân nhắc từng tình hình cụ thể. (luận cường nhược cát hung, bản cung làm chủ, tam phương tứ chính và giáp cung làm phụ, để hiển thị mức độ trọng yếu của các cung, lấy chữ số sô sánh một cách khiên cưỡng để làm phép so sánh, thì bản cung chiếm khoảng 50%, đối cung chiếm 30%, cung tam hợp và giáp cung trước sau chiếm khoảng 20%). (cho nên về việc luận cát hung

ở trên, thực tế là chỉ nói đến sự cao thấp của cách cục mệnh vận cuộc đời như phú quý bần tiện họa phúc mà thôi. Thái vi phú có viết: Đối cung định cát hung, tam hợp xem phú quý. Cho nên nếu luận cát hung thuộc phương diện tai họa, thì lấy sự tốt xấu của cung Thiên Di mà phân tích; luận phú quý thì lấy cung Tài Bạch và cung Quan lộc để phân tích, nhưng vẫn nên kết hợp với cung mệnh để xem).

Cách cục luận mệnh rất trọng yếu, luận mệnh đầu tiên xem mệnh bàn tổ thành cách cục gì, lại luận lý tính của sao, sự cát hung của cách cục chỉ có ở hạn niên và Tứ Hóa Hóa dẫn động mới có thể ứng nghiệm. Nói chung cát cách phùng cát hóa (Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, lấy Hóa Lộc làm chủ) khi dẫn động, thì nhất định sẽ có thành tựu ở phương diện nào đó, Hóa Lộc ở chỗ nào, thì thành tự theo đó mà xuất hiện ở chỗ đó, hạn niên lại gặp Hóa Lộc thì việc cát phát đạt. Nguy cơ của hung cách ẩn phục tứ bề, ác cách tai nạn liên tiếp, khi gặp Hóa Kị dẫn động, tất có tai nạn ở phương diện này, hạn niên lại phùng Kị xung thì hung sự phát sinh. Đối với hung cách, có thể ngược lại cứ theo đường đó mà đi (khi xử lý với các nghề nghiệp có tính tổn hại này hoặc hành nghiệp như tôn giáo, triết học), thì có thể sống với nhau bình an vô sự, hành vận nếu được cát hóa hoặc cát phụ tinh, Lộc tinh đến thì cũng có thể có thành tựu.

Đối với ảnh hưởng cao thấp lớn nhất đối với mệnh vận bản thân là cung Mệnh và cung tam phương tứ chính, còn lại cung độ có ảnh hưởng tương đối kém với mệnh cách (Khi Tả Hữu giáp cung chỉ ở hình thành cách cục và tam giáp hung, lục cát giáp, Tài ấm giáp Ân, Nhật Nguyệt giáp thì lực ảnh hưởng lớn, nếu không thì có ảnh hưởng nhỏ, có thể không cần xem).

Thân cung chỉ là thân thể hư cấu, ngoài nhập hai cung Tài Quan ra, thì tác dụng của nó không hề thiết thực, nó chỉ biểu thị thuận theo cung mà nó ký gửi mà chú trọng thân tâm của mình ở một phương diện nào đó, tình hình nỗ lực của hậu thiên chủ yếu quyết định bởi hạn niên, vận thế sau trung niên đặc biệt trọng yếu.

Khi luận mệnh vận của bản thân, lấy Mệnh cung làm chủ làm nhân tố bên trong, cung tam phương tứ chính là phụ là nhân tố bên ngoài, xem tình hình mạnh yếu của nhân tố nội ngoại, thì lấy tầng thứ cao nhất mà thành tự quý khí của cả đời quyết định, sự cao thấp của mệnh vận một đời, cũng là sự cao thấp của mệnh số tiên thiên. Sự mạnh yếu của nhân tố nội ngoại không những có liên quan với sự vượng suy của tinh diệu

ở các cung Tam phương tứ chính, còn các tổ hợp giữa các tinh dieuj (tức cách cục) có quan hệ rất lớn, giữa các tinh diệu có thể thông quan sinh khắc chế hóa để ảnh hưởng và tăng giảm lực lượng toàn bộ cách cục, cũng chính là sự “liên quan giữa các tinh diệu với nhau” mà trong sách đẩu số thường nói.

Cung mệnh nếu được chính tinh cát diệu miếng vượng thủ trực, tam phương lại được nhiều cát tinh miếu vượng củng chiếu, mà lại vô sát hoặc các sao như Không Kiếp Kị Hao Hình Sát Phá Liêm Tham thủ hợp xung chiếu giáp kẹp, bất kể mệnh cung tọa lạc ở cung nào, đều có thể luận là đẹp. Lại gặp 3 cung Tài Di Quan cũng có nhiều cát tinh tề tựu, thì người này nhất định có nền tảng đại phú đại quý; trong đó gặp cung Quan Lộc tốt hơn cung Tài Bạch thì luận đoán là quý (nên đi cầu danh, theo con đường chính trị, nhưng cung Quan gặp sao chủ về quý khí mới có thể thật chân quý; Mệnh cung tuy có quý, mà cung Quan Lộc hung cũng không thể chân quý được), nếu cung Tài Bạch tốt hơn cung Quan Lộc thì có thể đoán là giàu có (Nên đi buôn bán, nhất thiết cung Tài Bạch gặp sao chủ về tài phú thì mới có thể có tài phú thật sự), hai cung Tài Quan đều cát thì luận là phú quý đều song toàn. Nhưng mệnh phú quý song toàn, thì mệnh này nhất định nhập cách cục phú quý, như Tam kì gia hội cách, Tướng tinh đắc địa cách, Minh châu xuất hải cách, Nhật chiếu lôi môn cách, Tử Phủ Đồng Cung cách… , nếu không thì không thể toàn mĩ. Không nhập cách cục phú quý, mà Tam phương có một hai sát tinh xung phá, tuy có phú quý mà cũng nhiều gian lao vất vả. Nếu mệnh cục thành Cách cục phú quý, lại được cát củng và cát kẹp, càng đẹp, thực là đẹp nhất. Nhập cách cục phú quý mà gặp một hai sát tinh, nếu được hạn phù trợ, mà còn trải quan nỗ lực đấu tranh, thì có thành tựu cũng lớn, đây chính gọi là “có bệnh mới là quý, không thương tổn không phải là kỳ diệu”, có bệnh được thuốc tốt, có thể chữa trị bệnh khỏi, xung phá là cửa ải khó khăn, thì cũng là quang minh ở ngay trước mặt.

Mệnh cung gặp cát diệu thất hãm cũng bình thường, nhưng nếu thành cát cách thì vẫn có tiền đồ lớn, ví như Thái Dương khi ở cung Hợi Tuất tổ thành Tam kì gia hội cách, thì người này cũng có thành tựu phi phàm. Gặp ác tinh thất hãm, nói chung đa số là không đẹp, tuy gặp đại hạn cực đẹp thì cũng khó cao quý, thêm Sát Kị càng kém, những cũng cần xem tình hình tổ hợp giữa bản cung và tam phương tứ chính mà định.

Người mà Mệnh cung vô Sát, có điểm là khí chất thiếu dũng mãnh, đẹp nhất là hành đến hạn có chút sát tinh để khích lệ. Mệnh cung có chút sát tinh, tam phương vô sát mà cát nhiều, chỉ chủ về gian lao vất vả trở ngại mà thôi, nếu như có thể cố gắng mà lại được hạn phù trợ thì cũng có thể đại phú đại quý. Một người có Mệnh cung găp Lục sát tinh, phần đa gian lao vất vả, nếu chính tinh miếu vượng thêm sát, thì chủ nhân có uy nghiêm, dũng mãnh có sức khỏe, có cát tinh củng chiếu, có thể vất vả mà có thành công, có phú quý, có quyền thế thậm chí người vô sát còn mạnh hơn; Nếu chính tinh thất hãm hoặc Hóa Kị hoặc không có cát tinh củng chiếu mà thêm sát tinh, thì vất vả mà vô công. Bốn ác sát tinh là Dương Đà Hỏa Linh, trong đó bất kỳ một sao nào thủ chiếu mệnh hoặc cung Đại Hạn, nói chung phần đa có bất lợi một mặt nào đó, (Tình hình đặc thù ngoại lệ, ví dụ Tham Lang hỷ gặp Hỏa Linh). Khi chính tinh Mệnh cung hãm hoặc vô chính tinh mà có hai sát tinh trở lên, sinh ra mang hai họ, nếu không thì phá tướng. Trong tứ sát tinh, Dương Hỏa chủ về nội cương, Đà Linh chủ về bên trong độc ác; Tai họa của Dương Đà đa số thiên về tổn hại vật chất, thương tai, tai họa của Hỏa Linh đa số thiên vể tinh thần phiền phức, bệnh tai. Người mà Mệnh tọa Hóa Kị, cả đời tương đối phiền lòng, đa nghi, không vui vẻ, rất vất vả, nhưng không nhất định hung, thường thường đối với một mặt nào đó sẽ tương đối đặc biệt cố chập mà liều mạng, nếu mệnh cung miếu vượng vô sát, tam phương Hóa Cát hoặc đắc lực, được vận hạn phù giúp thì cũng dễ thu được thành công; Thủy tinh Hóa Kị có tác dụng hóa giải, Hóa Kị tinh nhập khố, ví dụ thủy tinh nhập cung Thìn Hóa Kị tức là nhập khố Hóa Kị, trái lại chủ về xung động và phát dụng; cung Mệnh của Mao Trạch Đông Hóa Kị, tạo phản tinh đấu tranh cực kỳ mạnh, đây bởi vì giành được giang sơn mà liều mạng, sau khi đoạt được giang sơn vẫn lấy giai cấp đấu tranh làm cương lĩnh, có sự hoài nghi cực nặng.

Mệnh cung cát nhiều mà gặp Không Kiếp và Sát tinh, thì trong cái đẹp vẫn còn chỗ khiếm khuyết, hoặc phú quý không bền, hoặc bôn ba gian lao vất vả, hoặc nhiều bệnh tật tai họa phá tướng, hoặc tính khí không tốt, hoặc hôn nhân không thuận lợi… Mệnh cung nếu có sao Lộc Mã mà lạc Không Vong và Không Kiếp thì cũng không cát. Mệnh gặp Không Kiếp thủ củng xung, cho dù mệnh cục nhập phú quý cách, thì cũng chủ về hư danh hư lợi (ý là bề ngoài là phong quang, mà thực tế là không có thực quyền thực lợi), khó có thành tự lớn; Hai sao đồng thử cung Mệnh, chủ về người này nói năng bừa bãi, trăm sự bất thành; hai sao đồng cung xung mệnh, sẽ có tai họa lớn không bình thường, được nhiều sao cát củng hợp có thể giải; Không Kiếp kẹp Mệnh, cả đời khó toại ý, thiếu niên nhiều tai họa. Hai sao nhập chư cung đều chủ bất lợi, gặp chính tinh miếu vượng họa nhẹ, thất hãm họa nặng.

Tam phương của Mệnh cung không hỉ gặp Sát, Mệnh cung cát mà các sao ở tam phương cát hung hỗn tạp, thì giản sự tốt đẹp, thì người này chỉ hào nhoáng bên ngoài, hữu danh vô thực lợi, hoặc chỉ quý không phú, hoặc chỉ phú không quý. Trong đó cung Tài Bạch mã mà có Sát thì không phú; cung Quan Lộc hãm mà có Sát thì không quý, bình sinh công danh sự nghiệp nhiều trở ngại, cho dù làm quan cũng vất vả, mà không bền, cung Di hãm mà có Sát thì ra ngoài không thuận hoặc hoạt động xã hội, mà xã hội không trợ giúp cho mình; cung Quan cát mà cung Tài không đủ đẹp, cũng chủ có bổng lộc công tư, không phải lo lắng về việc ăn mặc; cung Tài Bạch cát mà cung Quan không đủ cát, tay nghề buôn bán phát tài; cung Tài Quan đều cát mà cung Thiên Di không đủ đẹp, thì có thể phú quý, duy chỉ là cuộc đời vất vả buôn ba, khó sống chung với người khác, là người thường thì không dễ thịnh vượng, quan lại thì không dễ lên chức mà thôi; Nếu 3 cung Tài Quan Di đều không đủ đẹp, cho dù mệnh thân tốt đẹp, thì chỉ là anh hùng không có đất dụng võ, cũng khó có chỗ sở dụng. Nếu tam phương gặp 4 ác diệu Sát phá Liêm Tham mà vô Sát, thì gặp tại họa so với tứ Sát thì nhẹ hơn, đa số chủ cá tính cương cường, ý trí kiên định, đối với những người theo nghiệp trái lại chủ cát lợi.

Mệnh cung hung hoặc cát hung hỗn tạp hoặc cách cục không cao, nếu Tam phương cát nhiều, chủ thiếu niên gian khổ hoặc nhiều bệnh tật, hoặc trong lòng nhiều muộn phiền, nội bộ có trở lực lớn mà tinh lực chuyến hướng đến sự nghiệp và tài lợi, dựa vào sự nỗ lực của hậu thiên thì có thể phú quý, nhưng mức độ phú quý cũng không được cao, mà tính tình của người này không ổn định, không khéo léo; Mà khi gặp đại hạn cát thì có thể giành được phúc. Nếu tam phương lại cát ít hung nhiều, thì trong ngời khó khăn liên tiếp, là mệnh bần tiện nhiều bệnh; hạn vận tốt cũng chủ về y thực không thiếu; hạn vận không tốt, thì cuộc đời khèo khổ cao độ. Trong hung gặp Tả Hữu Khôi Việt, thì trong cảnh nguy hiểm dễ gặp được trời giúp người cứu mà thoát hiểm.

Nam mệnh lấy 6 cung là Mệnh Tài Quan Di Phúc Điền làm cường cung, 6 cung còn lại là Huynh Phu Tử Nô Tật Phụ làm nhược cung, là cơ sở của phú quý, 6 cường cung đặc biệt là 4 cung mạnh nhất có cát nhiều hội tụ, thì đa số thuộc mệnh tốt, cho dù 6 nhược cung hung tinh tụ tập, thì vẫn là người phú quý. Nếu như

6 cường cung vô cát mà hung tinh lại tụ tập, cho dù 6 nhược cung cát nhiều, thì vẫn xem là mệnh xấu, đa số thuộc người bần tiện, khó có phú quý, danh lợi và địa vị. 6 cường cung đa số là suy xét từ sự nghiệp tài vận mà ra, mà trong thực tế luận mệnh, sự ảnh hưởng của hai cung Tật Phụ không thể xem thường, đặc biệt có ảnh hưởng đối với tai ách rất lớn, nếu hai cung Tật Phu hung thì tai ách đầy người, tuy phú quý còn có tác dụng gì sao? Cung Phụ mẫu là chỗ dựa vững chắc, “Hộ Quan Phù (bảo hộ cho ấn tin quan chức)”, đối với ảnh hưởng của cách cục phú quý có lúc còn lớn hơn nhân tố của bản thân, trong “hảo hán anh hùng Lão Tử của Trung Quốc đại lục” sự ảnh hưởng của nó rất là lớn, hơn nữa bạn muốn thăng quan phát tài, không có “Hộ Quan Phù” là không được. Ta phá hiện có một số cách cục của một số người rất tốt, nhưng lại không phát được, với cung Phụ Mẫu không tốt thì có quan hệ rất lớn. Cho nên hai cung Phụ Tật cũng rất là trọng yếu. 8 cung kể trên đều có các hung tinh Dương Đà Không Kiếp Phá Liêm Tuyệt Tử Cô Quả Triệt Không Tuần Không thủ hội chiếu, chủ về cuộc đời nhiều trục trặc trở ngại, nhiều khó khăn vấp váp, nhiều tật bệnh tai họa. Sự cát hung của các cung độ còn lại đối với sự ảnh hưởng của nhân sinh cũng không thể không chú ý, cung hung nói chung sẽ có khuyết hãm ở phương nào đó. Nhưng vì, nhân vô thập toàn, mệnh thập toàn thập mĩ chỉ là số cực ít mà thôi, tóm lại có mặt tootsm, thì cũng có mặt xấu.

Mệnh cung là Tiên Thiên còn chủ về phúc họa, thọ số của cuộc đời con người, Thân cung là hậu thiên chủ về phúc lộc, cung Phụ Mẫu chủ về phúc ấm, quan lộc ở tuổi niên thiếu, cung Tài Bạch chủ thành bại được mất ở tuổi trung niên, cung Phúc Đực chủ về phúc lộc hưởng thụ khi về già.

Phàm Mệnh cung được Trường Sinh Đế Vượng Lâm Quan, lại được quần cát tinh thủ chiếu, đương nhiên phát đạt (tinh diệu cát đắc cách chủ quý, cung lâm Trường Sinh Đế Vượng Lâm Quan hoặc chính tinh được cung sinhg là đắc số cách chủ phú).

Mệnh nhân viên vũ chức gặp Bác Sĩ, Thanh Long, Tướng Quân đồng thủ Mệnh Thân, không có Thất SÁt xung phá kẹp nắm, tất nhiên xuất chúng tài hoa.

Dương nam âm nữ và người sinh phương Đông, phương Nam thì hỉ Nam Đẩu tinh, gặp Nam đẩu Sát tinh thì cũng chủ tai họa nhẹ, gặp Bắc đẩu Sát tinh thì tai họa nặng, dáng người và đặc điểm tính tình thì theo Nam đẩu tinh trong cung mà luận; Am nam dương nữ và người dinh phương Tây, phương Bắc thì hỉ Bắc đẩu tinh, gặp Bắc đẩu Sát tinh thì tai họa nhẹ, gặp Nam đẩu sát tinh thì tai họa nặng, dáng vóc và đặc điểm tính tình thì theo Nam đẩu tinh trong cung mà luận. Ví dụ như, Tử Phủ đồng cung, người sinh phương Bắc thiên hướng về sao Tử Vi, người sinh phương Nam thiên hướng về sao Thiên Phủ.

Tham Liêm Phá là ác diệu, Sát Dương Đà là hung tinh (Mệnh thân và tam phương có 6 ác diệu này thủ chiếu lại có cả Hóa Kị, không gặp cát tinh thì nhất định chủ dâm tà phá bại, hoặc chủ về hình khắc, nếu miếu vượng mà hội cát hóa cát thì vẫn có thành tựu). Nam mệnh phùng Sát phá Liêm Tham thủ hội cung hợp Mệnh Thân, cho dù không gặp Sát, cũng chủ về gian lao vất vả, thành bại lật lọng nhiều lần biến đổi; gặp Sát thì cuộc đời lo âu, tai họa liên miên, lại gặp Hóa Kị hoặc các ác diệu Không Kiếp Đại Hao Tử Tuyệt, nhất định gắn liền với cuộc sống lang thang nay đây mai đó không nơi nương tựa, là người phiêu bạt 4 phương. Nếu là Vũ Phá Liêm Tham xung hợp, không thấy Thất Sát và Tứ Sát giao hội, lại có các cát tinh Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt Tử Phủ thủ chiếu, nam có thể là thượng cách mà phú quý, nữ có thể là người kiên trinh đức hạnh tài năng, thông minh tài trí, vượng phu ích tử. Mệnh Thân phùng Sát Phá Tham, người này có thương tổn về tinh thần, hiện trạng bất an, nhiều thay đổ ít an định, gặp nhiều tình cảnh nguy nan, thành công thường thường gian lao vất vả hơn người thường, dễ làm công việc mang tính sản xuất và kỹ thuật. Cung Mệnh Thân Phúc của nam nữ đều không nên gặp Thất Sát độc thủ, nếu gặp gặp nó, dù không có Sát xung hợp giao hội cũng chủ về tính tình quái gở, hại người mà làm lợi cho mình, thương tai phá tướng; nếu có Sát giao hội thì chủ về bần tiện cô quả, gian trá xảo quyệt xằng bậy kiêu ngạo, bất hòa với mọi người, cuộc đời không được phát đạt, tai họa u ám liên miên; Thất Sát xung mệnh, suốt đời không được hiển đạt, ra ngời thích tranh đấu, việc gì cũng xét nét so đo, không được nhân duyên, mưu cầu khó toại; Thủ Phúc Đưc thì phúc bạc phúc mỏng, mờ ám hèn mọn, làm bại hoại thuần phong mỹ tục, cũng chủ một đời hèn hạ tầm thường, một chút chí lớn cũng không có, nữ giới nếu gặp Thất Sát thủ mệnh, ngoài nơi sinh ra mà miếu vượng vô Sát hội hợp ra, thì đều chủ cô đơn lạnh lẽo khó hoà hợp mà gàn bướng, dẫu có nam trí và làm việc có phương pháp, cũng chủ hình khắc rât nặng; nhập cung Thân là họa hơi nhẹ, song chủ một đời lao khổ và thân thể dị thường; cư Thiên Di thì nhiều chuyện tranh giành, luôn luôn đối địch với người khác, gây ra oán hận; Đặc biệt không nên đóng ở cung Phúc Đức, không là hầu gãi thì cũng chủ về dâm dục, có hình phu khắc tử, có suy nghĩ tư thông với người khác. Sát Phá đóng ở cung Phụ Mẫu, đa số chủ về phá tướng.

Mệnh cung có Thất Sát và Liêm Trinh hợp thủ, chớ luận nó cư ở đất nào, nam nữ đếu không phải là tốt, các cung Mệnh, Thân có Sát Liêm phân chia ra thủ cũng như vậy. Mệnh Thân có Tham Lang Liêm Trinh đồng thủ, hoặc các cucng Mệnh Thân phân trực một sao, nam đều chủ đa dâm. Liêm Trinh độc thủ Mệnh Thân so vớ Tham Lang độc thì cát hơn.

Tử Phá đồng thủ mệnh thì đa số là người nhiều dâm dục, Cơ Lương đồng thủ mệnh phần đa là người nhiều so đo tính toán, Đồng Lương đồng thủ mệnh đa số là người nhiều gian trá giả dối, Cự Nhật đồng thủ mệnh là người thích đua tranh, Liêm Tham đồng thủ mệnh phần nhiều là người nhiều tranh luận hiếu thắng, Vũ Phá đồng thủ mệnh đa số là người thích đầu cơ mạo hiểm.

Mệnh gặp Vũ Tham Hỏa Linh ở vào cung miếu vượng, không có các ác tinh giao hội như Không Kiếp Dương Đà Thiên Hình Đại Hao Liêm Phá Hóa Kị, chủ có cơ hội hoạnh phát, nam chủ vũ chức vinh hiên, nữ chủ thay quyền chồng, tài trí song mĩ, trí hơn nam tử.

Cự Môn là sao thị phi ám muội, trực Mệnh Thân cần miếu vượng hoặc gặp Thái Dương miếu vượng, thủ ở đất hãm cho dù gặp Thái Dương miếu vượng cũng chủ kém tốt đẹp, rất kị lại trùng gặp Sát Kị cung phá, tất chủ về vô cớ sinh sự, tam phương lại gặp hung tinh, thì cả đời không thể có triển vọng. Nữ mệnh gặp nó ở cung thất hãm, đa số chủ phạm chồng khắc con, phá sạch gia sản, sinh nhiều thị phi; gặp Cự Nhật thủ cung Phu, thì chủ về thị phi khẩu thiệt, cướp đoạt phu quyền. Cự Môn Hóa Kị, Mệnh Thân hành hạn đều kị gặp (Miếu vượng hoặc người sinh năm Tân, người mệnh thủy không quá kị, tái phùng Thái Tuế Quan Phù, tất có kiện cáo khẩu thiệt, tái gặp Tang Môn, Bạch Hổ, Điếu Khách, tất có tai Bệnh hoặc tang phục.

Hai sao Cự Nhật đồng cung hoặc xung chiếu nhau, đều là tổ hợp đi nước ngoài (bao gồm khác họ, xa hương), rơi vào cung nào, nhân sự của cung đó thì có thể qua lại nước ngoài, tha hương, có quan hệ với họ tộc khác. Hạn niên gặp nó cũng luận như vậy.

Mệnh thân gặp không vong, cát không hiện phúc, hung không thấy họa. Thê cung gặp không vong, một thê khó đến già. Nô bộc tọa không vong, ông chủ kiêm làm công. Phụ Mẫu tọa không vong, thiếu niên Ly Phụ Mẫu. Tiền tài gặp không vong, tài vật Hư Hao. Quan hóa lộc nhập không vong, chỉ có khát vọng, có tài nhưng không gặp thời. Nhưng “Kim không tắc hưởng, hỏa không tắc phát”, cũng có thể thành tựu; Mệnh thân có sát may mắn gặp không, phản cát. Lưu niên gặp sát may mắn gặp không (không vong tinh hoặc Thái Tuế không), phản hung thành lành. Cát tinh Lộc Mã gặp không, phản cát là hung.

Mệnh thân cung nhược chủ tinh lại yếu (cơ âm Đồng Lương), hành hạn lại nhập nhược cung, lưu niên vừa thấy cường cát tinh, ngược lại chủ không thể được lợi mà đại hung. Mệnh cung Tật có hung sát tinh, một nhóm sát niên hạn lại sát tinh cường vượng, thì dễ bị bệnh tật.

Mệnh thân cung không tốt mà có cái hưởng thụ, có thể là cung lục thân cát mà được lục thân chăm sóc, hoặc là hạn vận nâng đỡ mà tạm thời được phúc, vận qua vẫn như cũ. Nếu là cung phụ mẫu cát là được phúc ấm từ cha mẹ, Phụ Mẫu không ở phía sau thì liền lụi bại.

Người mà cung Mệnh Thân không tốt, thì xem có cung cát hóa và cát hóa có nhập cung Mệnh Thân có cường vượng không, nếu cường vượng thì có thể tích cực tìm những người phát triển hoặc người thân, thuộc tính hướng về cung này trợ giúp, để tìm lành tránh dữ.

Coi người có tài trí thiên phú hay không, thì xem Mệnh thân có hay không gặp cả Xương Khúc Khôi Việt, tốt nhất bốn sao đều đắc, gặp một hai sao chỉ chủ thông minh mà thôi. Xương Khúc Khôi Việt thủ chiếu mệnh thân, cần xem có hay không Tứ Sát xung phá, thậm chí những thứ khác sinh khắc như thế nào.

Thông thường bị sát Hình hoặc gặp khắc, thì văn tinh bị hại, đa phần không có thực học, ngược lại chủ một thân điêu ngoa xảo trá, đố kỵ ghen ghét phản phúc vô thường vậy.

Lấy cung mệnh luận Tài Quan phú quý, hôn nhân, cha mẹ, tử nữ các loại nhân sự vật, chỉ là chỉ ra điềm báo cùng tính khuynh hướng, cụ thể còn muốn xem thêm tương quan nhân sự cung cùng đại hạn, lưu niên, tại cung Mệnh, nhân sự cung, đại hạn, lưu niên bốn cái tính chất tương đồng thời là cát hung người sự tình mới có thể xác thực đoán. Cụ thể luận nhân sự thì, lấy bản cung bản cung tam phương tứ chính cung làm chủ, nhưng vì cầu được toàn diện thông tin, tỉ mỉ phân tích còn muốn toàn bộ kiêm xem, tỷ như luận sự nghiệp, cung tật ách là công việc địa điểm, đối công tác cũng có ảnh hưởng; cung phúc đức là tư tưởng cung, đúng sự tình nghiệp cũng có ảnh hưởng. Có chút tinh diệu cũng có thể toàn bộ để xem, không giới hạn lạc cung vị nào. Tỷ như, Thái Dương làm quan lộc chủ cùng phụ thân tinh, bất luận tại Mệnh Bàn cung nào, nó vượng suy cùng hóa cát Hóa Kỵ đồng đều có thể ảnh hưởng sự nghiệp thành bại cùng vận mệnh của phụ thân; Thái Âm là Tài tinh cùng mẫu thân tinh, vượng suy cùng hóa cát Hóa Kỵ đồng đều có thể ảnh hưởng tài phú được mất cùng mệnh vận của mẫu thân.

Mệnh lý dự đoán nhất định phải lấy nguyên Mệnh cục làm cơ sở, làm điểm xuất phát. Cách cục của nguyên mệnh cục tuy có cao thấp, có cát có hung, nhưng vô luận cát hoặc hung, cũng chỉ là một loại tính khuynh hướng, là cơ sở của cát hung tồn tại cùng điểm xuất phát, tại Mùi tiến vào hạn vận trước đều ở vào tương đối thăng bằng cục diện mà cát hung không hiển hiện, không phát sinh. Tuế vận tham gia về sau, nếu như tuế vận không gia tăng cát hoặc hung, tức không hung cũng không cát, thì vẫn duy trì ban đầu cách cục tương đối cân bằng, nhân sự vật đều sẽ khá bình ổn phát triển, sẽ không bạo phát bạo tàn; nếu như tuế vận tăng cát giảm hung, thì phá vỡ ban đầu cách cục cân bằng, hướng cát phương hướng phát triển, nguyên cục hung người giảm hung mà chuyển biến tốt đẹp, cát người càng cát, hạn niên này đại cát đại lợi; nếu như tuế vận tăng hung giảm cát, thì phá vỡ ban đầu cách cục cân bằng, nguyên cục cát người giảm cát mà lui bước, hung người thêm hung, hạn niên này hung tai phát sinh. Tựa như bờ đê chống lũ, cho dù lỗ thủng nhiều, nếu không phát sinh hồng thủy hoặc hồng thủy thấm không đến chỗ lỗ thủng, liền sẽ không làm hại; như hồng thủy lớn lại thấm qua chỗ lỗ thủng, thì tai hại tất nhiên phát sinh. Nhưng nhân sinh là rất phức tạp, vừa ra đời sẽ tiến vào tuế vận, chắc chắn sẽ có phương diện nào đó nhân sự vật tăng cát hoặc tăng hung, không có khả năng mọi thứ đều ở vào ban đầu tương đối thăng bằng cục diện, tăng cát người liền may mắn, tăng hung người liền lui bước có lẽ có tai hại.

Năm sinh ra địa chi chỗ ở cung tinh đối nhân sinh ảnh hưởng cũng không thể coi thường, tác dụng chừng tương đương cung thân

Đấu sổ danh xưng của tinh diệu rất nhiều hình tượng, từ danh xưng của tinh diệu thì có thể biết đại ý của nó. Nếu Tử Vi biểu cao quý, thủ lĩnh. Tham Lang biểu lòng tham, tham lam. Cự Môn tượng đại môn, là cùng không phải đều có thể tiến vào Lộc Tồn biểu ăn lộc, bổng lộc. Xương Khúc biểu văn học nghệ thuật, khoa danh. Liêm Trinh tượng công đường, công đường làm quan, Đường Hạ là tù phạm. Phá Quân biểu phá hao tổn, phá bại. Thiên Phủ ý là quan phủ nhà kho. Thiên Lương như cái xà nhà, biểu ấm thọ của phúc. Thiên đồng cùng trời cùng vui, chủ thiên nhiên hưởng lạc của phúc. Thiên Tướng tượng Tể tướng, chủ quyền quý của phúc. Thiên Cơ biểu cơ mưu. Thất Sát tượng chiến tướng sát thủ. Tả phụ hữu bật tượng phụ tá đại thần. Thái Âm là nguyệt lượng. Thái Dương là quang minh. Thiên Khốc biểu thút thít. Thiên Hư biểu Hư Hao. Thiên Phúc biểu thiên nhiên có phúc khí. Thiên Quan biểu trời ban quan chức. Thiên Quý biểu trời ban quý khí. Ân quang biểu cho người mượn ánh sáng. Long Trì biểu ao nước. Phượng Các biểu cao lầu. Trên đây chỉ dựa vào bề ngoài mà nói, trên thực tế mỗi một ngôi sao diệu đều có nhiều loại ý nghĩa, đại biểu cho nhiều loại nhân sự vật, bọn chúng tại bất đồng cung vị, tứ hóa thời gian, liền không có cùng hình tượng cùng ý nghĩa, tỷ như Cự Môn tại cung phụ mẫu đại biểu miệng trên mặt, tại phu thê cung đại biểu cãi lộn, đấu mồm, Cự Môn xung Tài cung có ám hao tổn hoặc bị ăn trộm, Cự Môn xung Quan trong công tác có tổn thất cùng can dự miệng có liên quan ngành nghề, Cự Môn tại cung thìn là nhập thủy khố, Cự Môn tại Tuất Mùi cung là bị quản chế; Thiên Cơ tại cung Thiên di là cỗ xe, Thái Âm tại cung hợi là hồ biển, Vũ Khúc lâm Tài cung có thể gia tăng tài lực, Phá Quân lâm Tài cung thì giảm tài lực.

Sự kiện phát sinh, bình thường đều trải qua nguyên nhân gây ra, phát triển, kết quả ba cái giai đoạn. Từ Mệnh Bàn xem, nguyên Mệnh Bàn là nguyên nhân gây ra, đại hạn bàn là phát triển, lưu niên, Lưu Nguyệt, lưu nhật, lưu thời là kết quả. Từ mười hai cung xem, bản cung (chỉ ứng sự tình, xảy ra sự cố của cung) cung phụ mẫu là sự kiện khởi xướng sơ kỳ, hoặc nguyên nhân gây ra của cung; bản cung là sự tình đã phát sinh, tức hiện trạng của cung; bản cung cung Huynh đệ là kết quả, hoặc sự kiện kết thúc, tức tương lai của cung, cung Huynh đệ tốt xấu là tình hình dấu hiệu biến tốt thành xấu. Từ Tứ hóa xem, gây nên Tứ hóa của thiên can chỗ cung cung tinh là nguyên nhân gây ra, Tứ hóa nhập, chiếu, xung cung là xảy ra sự cố của cung, niên hạn Tứ hóa là kết quả, ứng kỳ, tức niên hạn Tứ hóa chồng lên nhau niên hạn là ứng kỳ, hoặc niên hạn đưa đến Tứ hóa nhập, chiếu, Trùng chi cung là ứng kỳ.

Tư tưởng của một người phẩm đức, sinh hoạt hưởng thụ phương diện tư duy, tâm tính, lấy tinh diệu của cung phúc đức làm chủ để xem, cát thì tư tưởng phẩm đức, tư duy, tâm tính các loại đều là tốt đẹp cao cấp, tâm tính ổn định tỉnh táo, hung thì tư tưởng phẩm đức, tư duy, tâm tính không tốt, tâm tính không ổn định tỉnh táo, cụ thể yêu thích cùng tâm tính xem tinh tình biểu ý. Nhưng nếu cung Mệnh chung quanh, tức tam phương tứ chính Tả Hữu giáp cung của sao bầy đàn tụ họp cùng nhau, thì lại lấy loại tụ họp tinh tình biểu ý để xem, tỷ như, Đào Hoa tinh loại cùng nhau, thì yêu thích, tư duy, phẩm đức, tâm tính các loại, đều cùng Đào Hoa sắc tình, khiêu vũ có quan hệ, gặp chuyện nhiều trọng cảm tình, xử trí theo cảm tính; nếu có cơ, đồng, cự, tham, lương, xương, khúc, Hoa Cái, thiên vu, Thiên Hình, Bạch Hổ, Tang môn các loại ngũ thuật tinh loại tụ, thì yêu thích, tư duy, phẩm đức, tâm tính các loại, đều cùng ngũ thuật có quan hệ; như văn học nghệ thuật tinh loại tụ, thì yêu thích, tư duy, phẩm đức, tâm tính các loại, đều cùng văn học nghệ thuật có quan hệ.

Một người trí lực, trình độ văn hóa, văn nghệ tu dưỡng cùng tinh tính của cung mệnh và cung phụ mẫu có quan hệ, hai cung này có cơ âm phủ tướng Xương Khúc Khôi Việt Hóa Khoa các loại trí năng tinh thì trí lực tốt, trình độ văn hóa và văn nghệ tu dưỡng cơ sở tốt. Nhưng nếu kể trên trí năng sao hóa kỵ thêm sát, nhất là Kình Đà giáp kị lúc, lại có nhược trí khả năng.

Luận Mệnh phải chú ý xã hội cái này là đại cục, cá nhân tiểu cục bị đại cục quy định, bởi vì cái gọi là “Thời thế tạo anh hùng” là vậy. Tỷ như phú quý nghèo hèn trình độ, tại bất đồng thời đại cùng bất đồng quốc gia, địa khu không hoàn toàn giống nhau, tại Trung Quốc đại lục, 70 niên đại trước cực ít trăm vạn phú ông, làm quan người tương đối liêm chính, chênh lệch giàu nghèo không lớn; mà thập kỷ 90 sau trăm vạn phú ông liền chỗ nào cũng có, ngàn vạn, ức vạn phú ông đều có, xuất không ít mục nát tham ô phần tử, giàu nghèo chênh lệch cách xa. Đồng dạng phú quý Mệnh cục, tại thập kỷ 90 trước sau cùng không đồng địa khu liền không có cùng kết luận. Đồng thời số lớn người gặp nạn cũng không phải là một người vận mệnh vấn đề, mà là quốc vận cùng xã hội, hoàn cảnh đại cục vấn đề

Tại trong đẩu số, nông thôn người phú quý cách cục cao thấp là tương đối khó coi chuẩn, đây cũng là bị hoàn cảnh cùng xã hội đại cục ảnh hưởng vấn đề, bình thường cùng một người có cách cục phú quý phú quý trình độ muốn so người thành thị chênh lệch lớn, riêng lẻ vài người ngoại trừ. Còn nữa, nông thôn người hôn nhân cùng rất nhiều tình huống khác biệt cũng rất lớn. Cho nên, dự đoán thì phải xem nơi sinh, tốt nhất nói rõ là nông thôn hay là thành thị.

Trong sách ngôn ngữ là theo thực tế xuất phát, có chút ngôn ngữ thường thường quá kích, đối với một ít người tương đối nhạy cảm khả năng khó mà tiếp nhận, cho nên lúc xem mệnh cho người thì nói chuyện nên uyển chuyện một chút, có đại hung tai thông tin thì cũng nên áp dụng ám chỉ pháp, không thể cứng nhắc, để tránh tạo thành phiền toái không cần thiết.

(Tử vi đẩu số tinh hoa tập thành – Nhóm Thiên Hỏa Đồng Nhân biên dịch)

Đăng bởi: Phật Giáo Việt Nam

Chuyên mục: Học tử vi

Xem thêm Tiết 10 : Đẩu số luận mệnh kinh nghiệm tổng kết.

Bên trên là kiến thức cơ sở mà đẩu số luận mệnh, dưới đây là tiến hành một số tổng kết và tóm lược những kinh nghiệm luận mệnh của đẩu số.

Trước là phân tích suy diễn, tiến hành công việc ” Định Bàn” đây là điều rất cần thiết. Định bàn chính là sau khi bày ra mệnh bàn, tiến hành công việc định giá kiểm tra một loạt tin tức với mệnh chủ, để xác định giờ sinh và mệnh bàn có chính xác hay không. Sau khi bày ra được mệnh bàn, có thể lấy tinh diệu của cung Mệnh để xem tướng mạo của mệnh chủ đúng hay không, lại lấy tính cách đặc trưng của tinh diệu vốn có ở mệnh cung để hỏi mệnh chủ xem có đúng hay không, ví dụ người có Văn Xương Văn Khúc thủ mệnh, xem trên mặt cô ấy có vết tàn nhanh hoặc vết loang lổ hay không… ; lại như người Tham Lang thủ mệnh, nông tóc sẽ tương đối dày; người Phá Quân thủ mệnh thì đa số là người lương dày mày rộng. Lại lấy lý tính của sao ở cung Phụ Mẫu cát hung hỏi bản thân mệnh chủ về tình hình cuộc sống lúc nhỏ và tình hình địa vị, tính tình đại khái của cha mẹ mệnh chủ đúng hay không. Lại lấy vận hạn cát hung trong quá khứ để hỏi về tình hình quá khứ của mệnh chủ có đúng hay không. Nếu khi sự thực không phù hợp thì có thể thay đổi lên xuống giờ sinh bày lại một mệnh bàn khác để tiến hành so sánh đối chiếu, để xem mệnh bàn của giờ nào phù hợp với tình hình của người đó, tức là lấy mệnh bàn của giờ đó làm chuẩn, để tiến hành luận mệnh. Đối với những người sinh ở thành phố trong những năm gần đây hoặc tự cho phép giờ đó chuẩn xác, xác định một chút mệnh bàn là có thể xác định ra giờ sinh hoặc giờ Thái Dương thật đúng được hay không, cũng có thể phòng ngừa việc bày sai mệnh bàn mà tạo ra việc suy đoán mà dẫn đến sai lầm, đối với việc bản thân tự nhận là giờ sinh không chuẩn và tháng nhuận, người sinh giờ Tý ban đêm, thì càng cần tiến hành “Định bàn”.

Phép tắc cơ bản luận mệnh của đẩu số: Cung vị định nhân sự, lý tính sao định cát hung, hành vận xem biến đổi, Tứ Hóa tìm thời cơ chuyển tiếp

“Cung vị định nhân sự “, đầu tiên là lấy tên gọi của cung để định người và việc mà cung đó làm chủ, nhưng Mệnh cung là bản thân, cung Phụ Mẫu là cha mẹ, cung Tài Bạch làm tài vận…. Lại lấy tinh diệu lạc cung

phản ánh những tình tiết của người và sự vật, chính tinh làm chủ, phụ tinh có vai trò phù trợ, hoạt động trợ giúp, nguyên nhân cần trợ giúp. Ví dụ, Thất Sát tinh chủ dũng mãnh khai phá phát triển, nếu đồng cung với Cô Quả, thì chủ về một mặt độc đoán, độc lập khai phá, đơn đọc tác chiến; Lại như Thiên Cơ có thể là cơ khí, với Phá Toái đồng cung thì chủ về cơ khí linh kiện hoặc là máy móc cơ giới của Phá Toái; lại lấy địa chi của cung vị để định thời gian và địa điểm.

“Lý tính của sao định cát hung”, đó chính là lúc luận mệnh, bất luận là nguyên cục hay là vận hạn, đều lấy lý tinh của tinh diệu lạc cung làm căn cứ chủ yểu để luận đoán cát hung họa phúc.

Bất luận là cung hay sao, đơn tinh hay cung đơn chúng chỉ phản ánh bản tính chủ ý của nó, bị ảnh hưởng bới hoàn cảnh xung quanh, bản tính và chủ ý sẽ có thể thay đổi, có lúc chúng biến đổi còn rất lớn, nhân chi sơ tính bổn thiện, tùy sự ảnh hưởng của xã hội, thì con người hiện đại đã trở lên tham lam rồi, nhưng hoàn cảnh xung quanh không có cơ hội để ham muốn khiến không thể không trung thực. Cho nên khi phân tích luận đoán vừa cần đơn tinh đơn cung tiến hành đối chiếu với nghĩa đen của bản tính, lại phải xem xét sự ảnh hưởng của các sao, cung xung quanh biến hóa để tiến hành luận đoán tổng hợp.

“Xem biến hóa khi hành vận”, chính là hành vận cần lấy nguyên cục làm chủ thể, định số, bản chất, lại xem tình hình biến hóa của vận hạn gốc, là sự thay đổi tốt hay là thay đổi xấu, do đó phán đoán đườn cong biên hóa ở trong phạm vi của định số, thì lấy thời gian cụ thể cho việc ứng nghiệm cát hung, tức ứng số. Đẩu số luận mệnh, lấy mệnh bàn gốc làm chủ thể của mệnh vận, là dấu hiệu của sự tình, làm định số tiên thiên; xem sự cát hung của vận hạn để luận đoán kết quả nỗ lực và môi trường ảnh hưởng của hậu thiên, vận hạn tốt thì tăng cường tác dụng phù trợ đối với định số tăng mạnh, định số cát thì càng cát, mà hung thì giảm bớt hung; vận hạn hung thì tác dụng ức chế với định số yếu, định số cát thì giảm cát, mà hung thì càng hung. Nhân sinh phát đạt hay không, nó có quan hệ tốt xấu cực lớn với mệnh cục, cũng có quan hệ cực lớn với vận hạn, chính xác gọi là mệnh tốt hạn tốt cuối cùng hưng thịnh; mệnh tốt mà vận hạn không tốt, thì có tài nhưng không gặp thời, khó mà phát đạt; mệnh không tốt mà vận hạn tốt, thì còn có lúc phát huy, qua sự nỗ lực mà có thể phát tài một thời, nhưng khi phát đạt không thể lớn mà còn không thể bền, tầng thứ không thể quá cao, vẫn bị hạn chế của vận thế tiên thiên; mệnh không tốt mà vận hạn cũng không tốt, thì một đời bần tiện hoặc bệnh họa thương tàn.

“Tứ Hóa tìm thời cơ chuyển tiếp”, Ý là lấy sao Tứ Hóa để tìm thời cơ khởi phát việc cát việc hung. Sao Tứ Hóa là tinh diệu sinh động nhất và có năng lượng lớn nhất, nó có thể vận động và biến hóa lãnh đạo cả một nhóm sao, là bước chuyển tiếp và sự lưu chuyển của tình thế biến hóa. Sao Tứ Hóa sau khi can dự vào mệnh cục, đối với sự cao thấp của cách cục mệnh vận thì nó khởi lên tác dụng rất lớn. Cho nên phân tích Tứ Hóa là trọng yếu, đặc biệt là khi phân tích hành vận thì cần xem Tứ Hóa. Xem Tứ Hóa cần lấy Nguyên tinh (sao ban đầu, sao gốc) làm thể, Tứ Hóa làm dụng, động thái của Tứ Hóa là cơ sở đặc tính của sao gốc biến tốt hay là biến xấu, thông thường gặp Hóa Lộc Khoa Quyền là biến tốt, gặp Hóa Kị thì biến xấu, Ví dụ: Cự Môn có đặc trưng của cái “Mồn”, gặp Hóa Lộc biểu thị do “mồn” mà được tài lộc, Hóa Quyền biểu thị do “mồn” quyền mà có thể qua lời nói thuyết phục được quần chúng, Hóa Kị biểu thị do “mồn” mà sinh thị phi; Nhung cũng có tính đặc chưng, đây cần xem đặc tính của tinh diệu và tình hình Tứ Hóa của Tam phương tứ chính để suy xét toàn bộ lá số, Ví Dụ: Như các sao Cơ, Lương, Đồng mà Hóa Lộc thì không được tính là đẹp, Hóa Lộc và Hóa Kị đồng cung hoặc xung chiếu thì trái lại là hung. Tứ Hóa nguyên cục đối với một đời người thì đều có ảnh hưởng, Tứ Hóa hạn niên thì chỉ có thể ảnh hưởng ở các hạn niên đó. Nếu cách cục của nguyên cục tốt hoặc trong cung có sao Hóa Lộc Quyền Khoa, gặp vận Hóa Lộc Quyền Khoa, là dệt gấm thêm hoa, gặp hạn Hóa Kị là biến ra xâu, tức là trước tốt sau xấu, nhưng gốc rễ của sự tốt, xấu không đến mức cực điểm, vận qua thì lại tốt. Cách cục của nguyên cục không tốt hoặc trong cung có sao Hóa Kị, Vận hạn gặp Lộc Khoa Quyền, là từ xấu biến thành tốt, nhưng về gốc rỗ lại không tốt, cho nên mức độ biến tốt chỉ có giới hạn; gặp vận hạn Hóa Kị, là liên tiếp gặp tai nạn; gặp vận hạn Hóa Kị cung thì việc hung tất nhiên phát sinh. Mức độ biến tốt biến xấu còn cần xem sự vượng suy của chính tinh lạc cung mà định. Hóa Kị ở cung xung chiếu gọi là bị xung, gặp xung thì động, thì cơ hội chuyển tiếp xuát hiện ngay. Cường cung bị xung thì nổi lên, tức là ám động hoặc là động nhỏ; nhược cung bị xung thì phá (đã bị phá hoại); cát tinh hoặc sao hữu dụng bị xung khởi có tổn hại, xung phá thì đại hung mà còn phá bại. Cung mà có Hóa Kị tọa thủ thì chủ về gia tăng một chút khó khăn mà thôi, mà cung có Hóa Kị xung (tức cung xung chiếu) và lấy cung xung chiếu làm khởi điểm đếm thuận về đến cung thứ 6, hai cung này mới là điểm phá bại thực sự. Trong hai cung thì hung nhất ở cung nào? Thông thường cung hung nhất là thất hãm mà còn có nhiều sao hung, nhưng còn phải cần phân tích cụ thể, ví dụ xung cung Phu Thê, người chưa kết hôn thì ứng với cung Điền Trạch hung, thì gia đình sẽ sảy ra vấn đến, ông bà nôi hoặc cha mẹ sẽ sảy ra tranh chấp, bệnh thương tai họa…

Mệnh cung từ Tý cho đến Hại 12 cung, mà sao Tử Vi cũng có thể rơi vào 12 cung từ Tý đến Hợi, bởi vậy mà có 144 mệnh bàn cơ bản. Cùng một mệnh bàn, mệnh vận của người không cùng năm sinh thì sự khác biệt không những thuận theo tinh hệ không giống nhau mà còn biến đổi, hơn nữa cũng thuận theo sự không giống nhau của Tứ Hóa can năm sinh mà biến đổi, Tứ hóa năm sinh rơi vào cung nào thì nó hiển thị ra tình hình được mất của một mặt nào đó, đặc biệt là sao Hóa Kị rơi vào cung nào đó lại là vấn đề tiêu điểm được mất của mệnh vận. Ví dụ, Người sinh năm Giáp, Thái Dương Hóa Kị, thì xem Thái Dương rơi vào cung nào, thành bại được mất của cuộc đời chính là có quan hệ rất lớn với cung này; nếu Thái Dương rơi vào cung Phụ Mẫu, vấn đề tiêu điểm đó chính là ở cung Phụ Mẫu, định nghĩa tên gọi của cung này là cung Phụ Mẫu, hiển nhiên đầu tiên là bất lợi với cha mẹ, cha mẹ bất hòa; mức độ bất lợi cần xem sự vượng suy của hóa diệu, miếu vượng thì sự tổn hại không lớn, thất hãm thì tổn hại nặng nề; khi xem mở rộng ra, thì cung Phụ Mẫu là cung di truyền, đầu não, danh sự, tuổi thơ của bản thân, Hóa kị biểu thị sự di truyền không tốt, cuộc sống của nửa đời trước rất chi là mệt; lại xem lý tính của hóa diệu, thì Thái Dương là phụ tinh, sao sự nghiệp, Hóa Kị biểu thị cha bất lợi, sự nghiệp của bản thân bị trở ngại; lại xem rộng ra, thì Hóa Kị xung cung Tật Ách, sức khỏe bản thân người này bệnh tật hoặc xảy ra sự cố nhiều. Còn lại năm sinh có thể suy rộng ra, hạn niên cũng luận tương tự.

Đẩu số cần hiểu rỗ “Thể Dụng”, Thể là Tĩnh, Dụng là Động. Ví dụ: Thái cực điểm là Tĩnh là Thể, mệnh bàn và cung biến hóa ra là Động là Dụng; nguyên cục là Tĩnh là Thể, vận hạn là Động là Dụng; Mệnh cung là Thể, 11 cung còn lại làm Dụng; chính tinh làm thể, phụ tinh làm Dụng; Nguyên tinh làm Thể, Tứ hóa tinh làm Dụng; lấy mệnh bàn đại hạn làm Thể, lưu niên lưu bàn làm Dụng.

12 cung nhân sự của Tử Vi đẩu số, mỗi một cung đều có thể là Thái cực điểm (tức cung Mệnh), khi 12 cung biến hóa ra 12 cung mới, để mở rộng nội dung tin tức, để phân tích những tình hình tỉ mỉ của nhân sự các cung càng kĩ càng, đây là yếu điểm vận dụng một cách linh hoạt của Tử Vi đẩu số.

Phân tích suy diễn đẩu số, một mệnh bàn được bày ra, thì việc đầu tiên là nắm chắc tình hình cơ bản của toàn bộ mệnh bàn một cách sơ bộ: Trên mệnh bàn có cách cục cát hung nào; vị trí mà Lục cát tinh đóng, có hay không lục cát kẹp và sao đôi lục cát thủ hội chiếu; vị trí mà lục sát, có hay không tam kẹp hung tinh, có hay không các sát tinh tụ tập; tình hình mà Tứ Hóa lạc cung; cung vị trong mệnh bàn đẹp nhất, cung vị trong mệnh bàn hung nhất, sau đó mới tiến hành phân tích suy đoán tỉ mỉ.

Bất luận là xem cung nào, hay là xem đại tiểu hạn, trên nguyên tắc không rời hai chữ ” Ngũ Khán” và “cát hung”, một là xem chính tinh miếu hãm của bản cung, hai là xem lạc cung vượng suy, ba là xem phụ tinh của bản cung là cát hay là hung, bốn là xem sự sinh khắc chế hóa giữa cung với sao, sao với sao, năm là xem tam phương tứ chính và hai lân cung phải trái, có cát tinh nhiều hay là hung tinh nhiều, cát như thế nào? Bất kể lạc cung là chính tinh nào, chỉ vần miều vượng, bản cung vô sát có cát tinh, tam phương tứ chính lại vô sát có cát tinh (hoặc cát nhiều sát ít), thì là tốt, chính tinh là cát tinh thì đại cát, thành cát cách càng cát; nếu cung chủ sự lại phùng sinh vượng, chủ tinh lại được cung sinh cho và phụ tinh tương sinh, thì như gấm thêm hoa. Hung như thế nào? Chính tinh thất hãm, bản cung có sát mà không có cát tinh, tam phương tứ chính lại sát nhiều cát ít, thì là đại hung, thành hung ác cách thì càng hung; phùng tam hung kẹp, cho dù tam phương cát nhiều, thì cũng chủ hung; Chính là ác diệu lại càng hung; nếu như cung chủ sự lại phùng Tử Tuyệt Không, hoặc chính tinh lại bị cung khắc hại, phụ tinh khắc chế, chắc khác nào đã tuyết còn thêm sương. Các tình hình còn lại nửa cát nửa hung, là cát nhiều hau hung nhiều, thì cần xem mức độ miếu hãm và tỉ lệ của hung cát tinh để tiến hành suy xét cân nhắc từng tình hình cụ thể. (luận cường nhược cát hung, bản cung làm chủ, tam phương tứ chính và giáp cung làm phụ, để hiển thị mức độ trọng yếu của các cung, lấy chữ số sô sánh một cách khiên cưỡng để làm phép so sánh, thì bản cung chiếm khoảng 50%, đối cung chiếm 30%, cung tam hợp và giáp cung trước sau chiếm khoảng 20%). (cho nên về việc luận cát hung

ở trên, thực tế là chỉ nói đến sự cao thấp của cách cục mệnh vận cuộc đời như phú quý bần tiện họa phúc mà thôi. Thái vi phú có viết: Đối cung định cát hung, tam hợp xem phú quý. Cho nên nếu luận cát hung thuộc phương diện tai họa, thì lấy sự tốt xấu của cung Thiên Di mà phân tích; luận phú quý thì lấy cung Tài Bạch và cung Quan lộc để phân tích, nhưng vẫn nên kết hợp với cung mệnh để xem).

Cách cục luận mệnh rất trọng yếu, luận mệnh đầu tiên xem mệnh bàn tổ thành cách cục gì, lại luận lý tính của sao, sự cát hung của cách cục chỉ có ở hạn niên và Tứ Hóa Hóa dẫn động mới có thể ứng nghiệm. Nói chung cát cách phùng cát hóa (Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, lấy Hóa Lộc làm chủ) khi dẫn động, thì nhất định sẽ có thành tựu ở phương diện nào đó, Hóa Lộc ở chỗ nào, thì thành tự theo đó mà xuất hiện ở chỗ đó, hạn niên lại gặp Hóa Lộc thì việc cát phát đạt. Nguy cơ của hung cách ẩn phục tứ bề, ác cách tai nạn liên tiếp, khi gặp Hóa Kị dẫn động, tất có tai nạn ở phương diện này, hạn niên lại phùng Kị xung thì hung sự phát sinh. Đối với hung cách, có thể ngược lại cứ theo đường đó mà đi (khi xử lý với các nghề nghiệp có tính tổn hại này hoặc hành nghiệp như tôn giáo, triết học), thì có thể sống với nhau bình an vô sự, hành vận nếu được cát hóa hoặc cát phụ tinh, Lộc tinh đến thì cũng có thể có thành tựu.

Đối với ảnh hưởng cao thấp lớn nhất đối với mệnh vận bản thân là cung Mệnh và cung tam phương tứ chính, còn lại cung độ có ảnh hưởng tương đối kém với mệnh cách (Khi Tả Hữu giáp cung chỉ ở hình thành cách cục và tam giáp hung, lục cát giáp, Tài ấm giáp Ân, Nhật Nguyệt giáp thì lực ảnh hưởng lớn, nếu không thì có ảnh hưởng nhỏ, có thể không cần xem).

Thân cung chỉ là thân thể hư cấu, ngoài nhập hai cung Tài Quan ra, thì tác dụng của nó không hề thiết thực, nó chỉ biểu thị thuận theo cung mà nó ký gửi mà chú trọng thân tâm của mình ở một phương diện nào đó, tình hình nỗ lực của hậu thiên chủ yếu quyết định bởi hạn niên, vận thế sau trung niên đặc biệt trọng yếu.

Khi luận mệnh vận của bản thân, lấy Mệnh cung làm chủ làm nhân tố bên trong, cung tam phương tứ chính là phụ là nhân tố bên ngoài, xem tình hình mạnh yếu của nhân tố nội ngoại, thì lấy tầng thứ cao nhất mà thành tự quý khí của cả đời quyết định, sự cao thấp của mệnh vận một đời, cũng là sự cao thấp của mệnh số tiên thiên. Sự mạnh yếu của nhân tố nội ngoại không những có liên quan với sự vượng suy của tinh diệu

ở các cung Tam phương tứ chính, còn các tổ hợp giữa các tinh dieuj (tức cách cục) có quan hệ rất lớn, giữa các tinh diệu có thể thông quan sinh khắc chế hóa để ảnh hưởng và tăng giảm lực lượng toàn bộ cách cục, cũng chính là sự “liên quan giữa các tinh diệu với nhau” mà trong sách đẩu số thường nói.

Cung mệnh nếu được chính tinh cát diệu miếng vượng thủ trực, tam phương lại được nhiều cát tinh miếu vượng củng chiếu, mà lại vô sát hoặc các sao như Không Kiếp Kị Hao Hình Sát Phá Liêm Tham thủ hợp xung chiếu giáp kẹp, bất kể mệnh cung tọa lạc ở cung nào, đều có thể luận là đẹp. Lại gặp 3 cung Tài Di Quan cũng có nhiều cát tinh tề tựu, thì người này nhất định có nền tảng đại phú đại quý; trong đó gặp cung Quan Lộc tốt hơn cung Tài Bạch thì luận đoán là quý (nên đi cầu danh, theo con đường chính trị, nhưng cung Quan gặp sao chủ về quý khí mới có thể thật chân quý; Mệnh cung tuy có quý, mà cung Quan Lộc hung cũng không thể chân quý được), nếu cung Tài Bạch tốt hơn cung Quan Lộc thì có thể đoán là giàu có (Nên đi buôn bán, nhất thiết cung Tài Bạch gặp sao chủ về tài phú thì mới có thể có tài phú thật sự), hai cung Tài Quan đều cát thì luận là phú quý đều song toàn. Nhưng mệnh phú quý song toàn, thì mệnh này nhất định nhập cách cục phú quý, như Tam kì gia hội cách, Tướng tinh đắc địa cách, Minh châu xuất hải cách, Nhật chiếu lôi môn cách, Tử Phủ Đồng Cung cách… , nếu không thì không thể toàn mĩ. Không nhập cách cục phú quý, mà Tam phương có một hai sát tinh xung phá, tuy có phú quý mà cũng nhiều gian lao vất vả. Nếu mệnh cục thành Cách cục phú quý, lại được cát củng và cát kẹp, càng đẹp, thực là đẹp nhất. Nhập cách cục phú quý mà gặp một hai sát tinh, nếu được hạn phù trợ, mà còn trải quan nỗ lực đấu tranh, thì có thành tựu cũng lớn, đây chính gọi là “có bệnh mới là quý, không thương tổn không phải là kỳ diệu”, có bệnh được thuốc tốt, có thể chữa trị bệnh khỏi, xung phá là cửa ải khó khăn, thì cũng là quang minh ở ngay trước mặt.

Mệnh cung gặp cát diệu thất hãm cũng bình thường, nhưng nếu thành cát cách thì vẫn có tiền đồ lớn, ví như Thái Dương khi ở cung Hợi Tuất tổ thành Tam kì gia hội cách, thì người này cũng có thành tựu phi phàm. Gặp ác tinh thất hãm, nói chung đa số là không đẹp, tuy gặp đại hạn cực đẹp thì cũng khó cao quý, thêm Sát Kị càng kém, những cũng cần xem tình hình tổ hợp giữa bản cung và tam phương tứ chính mà định.

Người mà Mệnh cung vô Sát, có điểm là khí chất thiếu dũng mãnh, đẹp nhất là hành đến hạn có chút sát tinh để khích lệ. Mệnh cung có chút sát tinh, tam phương vô sát mà cát nhiều, chỉ chủ về gian lao vất vả trở ngại mà thôi, nếu như có thể cố gắng mà lại được hạn phù trợ thì cũng có thể đại phú đại quý. Một người có Mệnh cung găp Lục sát tinh, phần đa gian lao vất vả, nếu chính tinh miếu vượng thêm sát, thì chủ nhân có uy nghiêm, dũng mãnh có sức khỏe, có cát tinh củng chiếu, có thể vất vả mà có thành công, có phú quý, có quyền thế thậm chí người vô sát còn mạnh hơn; Nếu chính tinh thất hãm hoặc Hóa Kị hoặc không có cát tinh củng chiếu mà thêm sát tinh, thì vất vả mà vô công. Bốn ác sát tinh là Dương Đà Hỏa Linh, trong đó bất kỳ một sao nào thủ chiếu mệnh hoặc cung Đại Hạn, nói chung phần đa có bất lợi một mặt nào đó, (Tình hình đặc thù ngoại lệ, ví dụ Tham Lang hỷ gặp Hỏa Linh). Khi chính tinh Mệnh cung hãm hoặc vô chính tinh mà có hai sát tinh trở lên, sinh ra mang hai họ, nếu không thì phá tướng. Trong tứ sát tinh, Dương Hỏa chủ về nội cương, Đà Linh chủ về bên trong độc ác; Tai họa của Dương Đà đa số thiên về tổn hại vật chất, thương tai, tai họa của Hỏa Linh đa số thiên vể tinh thần phiền phức, bệnh tai. Người mà Mệnh tọa Hóa Kị, cả đời tương đối phiền lòng, đa nghi, không vui vẻ, rất vất vả, nhưng không nhất định hung, thường thường đối với một mặt nào đó sẽ tương đối đặc biệt cố chập mà liều mạng, nếu mệnh cung miếu vượng vô sát, tam phương Hóa Cát hoặc đắc lực, được vận hạn phù giúp thì cũng dễ thu được thành công; Thủy tinh Hóa Kị có tác dụng hóa giải, Hóa Kị tinh nhập khố, ví dụ thủy tinh nhập cung Thìn Hóa Kị tức là nhập khố Hóa Kị, trái lại chủ về xung động và phát dụng; cung Mệnh của Mao Trạch Đông Hóa Kị, tạo phản tinh đấu tranh cực kỳ mạnh, đây bởi vì giành được giang sơn mà liều mạng, sau khi đoạt được giang sơn vẫn lấy giai cấp đấu tranh làm cương lĩnh, có sự hoài nghi cực nặng.

Mệnh cung cát nhiều mà gặp Không Kiếp và Sát tinh, thì trong cái đẹp vẫn còn chỗ khiếm khuyết, hoặc phú quý không bền, hoặc bôn ba gian lao vất vả, hoặc nhiều bệnh tật tai họa phá tướng, hoặc tính khí không tốt, hoặc hôn nhân không thuận lợi… Mệnh cung nếu có sao Lộc Mã mà lạc Không Vong và Không Kiếp thì cũng không cát. Mệnh gặp Không Kiếp thủ củng xung, cho dù mệnh cục nhập phú quý cách, thì cũng chủ về hư danh hư lợi (ý là bề ngoài là phong quang, mà thực tế là không có thực quyền thực lợi), khó có thành tự lớn; Hai sao đồng thử cung Mệnh, chủ về người này nói năng bừa bãi, trăm sự bất thành; hai sao đồng cung xung mệnh, sẽ có tai họa lớn không bình thường, được nhiều sao cát củng hợp có thể giải; Không Kiếp kẹp Mệnh, cả đời khó toại ý, thiếu niên nhiều tai họa. Hai sao nhập chư cung đều chủ bất lợi, gặp chính tinh miếu vượng họa nhẹ, thất hãm họa nặng.

Tam phương của Mệnh cung không hỉ gặp Sát, Mệnh cung cát mà các sao ở tam phương cát hung hỗn tạp, thì giản sự tốt đẹp, thì người này chỉ hào nhoáng bên ngoài, hữu danh vô thực lợi, hoặc chỉ quý không phú, hoặc chỉ phú không quý. Trong đó cung Tài Bạch mã mà có Sát thì không phú; cung Quan Lộc hãm mà có Sát thì không quý, bình sinh công danh sự nghiệp nhiều trở ngại, cho dù làm quan cũng vất vả, mà không bền, cung Di hãm mà có Sát thì ra ngoài không thuận hoặc hoạt động xã hội, mà xã hội không trợ giúp cho mình; cung Quan cát mà cung Tài không đủ đẹp, cũng chủ có bổng lộc công tư, không phải lo lắng về việc ăn mặc; cung Tài Bạch cát mà cung Quan không đủ cát, tay nghề buôn bán phát tài; cung Tài Quan đều cát mà cung Thiên Di không đủ đẹp, thì có thể phú quý, duy chỉ là cuộc đời vất vả buôn ba, khó sống chung với người khác, là người thường thì không dễ thịnh vượng, quan lại thì không dễ lên chức mà thôi; Nếu 3 cung Tài Quan Di đều không đủ đẹp, cho dù mệnh thân tốt đẹp, thì chỉ là anh hùng không có đất dụng võ, cũng khó có chỗ sở dụng. Nếu tam phương gặp 4 ác diệu Sát phá Liêm Tham mà vô Sát, thì gặp tại họa so với tứ Sát thì nhẹ hơn, đa số chủ cá tính cương cường, ý trí kiên định, đối với những người theo nghiệp trái lại chủ cát lợi.

Mệnh cung hung hoặc cát hung hỗn tạp hoặc cách cục không cao, nếu Tam phương cát nhiều, chủ thiếu niên gian khổ hoặc nhiều bệnh tật, hoặc trong lòng nhiều muộn phiền, nội bộ có trở lực lớn mà tinh lực chuyến hướng đến sự nghiệp và tài lợi, dựa vào sự nỗ lực của hậu thiên thì có thể phú quý, nhưng mức độ phú quý cũng không được cao, mà tính tình của người này không ổn định, không khéo léo; Mà khi gặp đại hạn cát thì có thể giành được phúc. Nếu tam phương lại cát ít hung nhiều, thì trong ngời khó khăn liên tiếp, là mệnh bần tiện nhiều bệnh; hạn vận tốt cũng chủ về y thực không thiếu; hạn vận không tốt, thì cuộc đời khèo khổ cao độ. Trong hung gặp Tả Hữu Khôi Việt, thì trong cảnh nguy hiểm dễ gặp được trời giúp người cứu mà thoát hiểm.

Nam mệnh lấy 6 cung là Mệnh Tài Quan Di Phúc Điền làm cường cung, 6 cung còn lại là Huynh Phu Tử Nô Tật Phụ làm nhược cung, là cơ sở của phú quý, 6 cường cung đặc biệt là 4 cung mạnh nhất có cát nhiều hội tụ, thì đa số thuộc mệnh tốt, cho dù 6 nhược cung hung tinh tụ tập, thì vẫn là người phú quý. Nếu như

6 cường cung vô cát mà hung tinh lại tụ tập, cho dù 6 nhược cung cát nhiều, thì vẫn xem là mệnh xấu, đa số thuộc người bần tiện, khó có phú quý, danh lợi và địa vị. 6 cường cung đa số là suy xét từ sự nghiệp tài vận mà ra, mà trong thực tế luận mệnh, sự ảnh hưởng của hai cung Tật Phụ không thể xem thường, đặc biệt có ảnh hưởng đối với tai ách rất lớn, nếu hai cung Tật Phu hung thì tai ách đầy người, tuy phú quý còn có tác dụng gì sao? Cung Phụ mẫu là chỗ dựa vững chắc, “Hộ Quan Phù (bảo hộ cho ấn tin quan chức)”, đối với ảnh hưởng của cách cục phú quý có lúc còn lớn hơn nhân tố của bản thân, trong “hảo hán anh hùng Lão Tử của Trung Quốc đại lục” sự ảnh hưởng của nó rất là lớn, hơn nữa bạn muốn thăng quan phát tài, không có “Hộ Quan Phù” là không được. Ta phá hiện có một số cách cục của một số người rất tốt, nhưng lại không phát được, với cung Phụ Mẫu không tốt thì có quan hệ rất lớn. Cho nên hai cung Phụ Tật cũng rất là trọng yếu. 8 cung kể trên đều có các hung tinh Dương Đà Không Kiếp Phá Liêm Tuyệt Tử Cô Quả Triệt Không Tuần Không thủ hội chiếu, chủ về cuộc đời nhiều trục trặc trở ngại, nhiều khó khăn vấp váp, nhiều tật bệnh tai họa. Sự cát hung của các cung độ còn lại đối với sự ảnh hưởng của nhân sinh cũng không thể không chú ý, cung hung nói chung sẽ có khuyết hãm ở phương nào đó. Nhưng vì, nhân vô thập toàn, mệnh thập toàn thập mĩ chỉ là số cực ít mà thôi, tóm lại có mặt tootsm, thì cũng có mặt xấu.

Mệnh cung là Tiên Thiên còn chủ về phúc họa, thọ số của cuộc đời con người, Thân cung là hậu thiên chủ về phúc lộc, cung Phụ Mẫu chủ về phúc ấm, quan lộc ở tuổi niên thiếu, cung Tài Bạch chủ thành bại được mất ở tuổi trung niên, cung Phúc Đực chủ về phúc lộc hưởng thụ khi về già.

Phàm Mệnh cung được Trường Sinh Đế Vượng Lâm Quan, lại được quần cát tinh thủ chiếu, đương nhiên phát đạt (tinh diệu cát đắc cách chủ quý, cung lâm Trường Sinh Đế Vượng Lâm Quan hoặc chính tinh được cung sinhg là đắc số cách chủ phú).

Mệnh nhân viên vũ chức gặp Bác Sĩ, Thanh Long, Tướng Quân đồng thủ Mệnh Thân, không có Thất SÁt xung phá kẹp nắm, tất nhiên xuất chúng tài hoa.

Dương nam âm nữ và người sinh phương Đông, phương Nam thì hỉ Nam Đẩu tinh, gặp Nam đẩu Sát tinh thì cũng chủ tai họa nhẹ, gặp Bắc đẩu Sát tinh thì tai họa nặng, dáng người và đặc điểm tính tình thì theo Nam đẩu tinh trong cung mà luận; Am nam dương nữ và người dinh phương Tây, phương Bắc thì hỉ Bắc đẩu tinh, gặp Bắc đẩu Sát tinh thì tai họa nhẹ, gặp Nam đẩu sát tinh thì tai họa nặng, dáng vóc và đặc điểm tính tình thì theo Nam đẩu tinh trong cung mà luận. Ví dụ như, Tử Phủ đồng cung, người sinh phương Bắc thiên hướng về sao Tử Vi, người sinh phương Nam thiên hướng về sao Thiên Phủ.

Tham Liêm Phá là ác diệu, Sát Dương Đà là hung tinh (Mệnh thân và tam phương có 6 ác diệu này thủ chiếu lại có cả Hóa Kị, không gặp cát tinh thì nhất định chủ dâm tà phá bại, hoặc chủ về hình khắc, nếu miếu vượng mà hội cát hóa cát thì vẫn có thành tựu). Nam mệnh phùng Sát phá Liêm Tham thủ hội cung hợp Mệnh Thân, cho dù không gặp Sát, cũng chủ về gian lao vất vả, thành bại lật lọng nhiều lần biến đổi; gặp Sát thì cuộc đời lo âu, tai họa liên miên, lại gặp Hóa Kị hoặc các ác diệu Không Kiếp Đại Hao Tử Tuyệt, nhất định gắn liền với cuộc sống lang thang nay đây mai đó không nơi nương tựa, là người phiêu bạt 4 phương. Nếu là Vũ Phá Liêm Tham xung hợp, không thấy Thất Sát và Tứ Sát giao hội, lại có các cát tinh Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt Tử Phủ thủ chiếu, nam có thể là thượng cách mà phú quý, nữ có thể là người kiên trinh đức hạnh tài năng, thông minh tài trí, vượng phu ích tử. Mệnh Thân phùng Sát Phá Tham, người này có thương tổn về tinh thần, hiện trạng bất an, nhiều thay đổ ít an định, gặp nhiều tình cảnh nguy nan, thành công thường thường gian lao vất vả hơn người thường, dễ làm công việc mang tính sản xuất và kỹ thuật. Cung Mệnh Thân Phúc của nam nữ đều không nên gặp Thất Sát độc thủ, nếu gặp gặp nó, dù không có Sát xung hợp giao hội cũng chủ về tính tình quái gở, hại người mà làm lợi cho mình, thương tai phá tướng; nếu có Sát giao hội thì chủ về bần tiện cô quả, gian trá xảo quyệt xằng bậy kiêu ngạo, bất hòa với mọi người, cuộc đời không được phát đạt, tai họa u ám liên miên; Thất Sát xung mệnh, suốt đời không được hiển đạt, ra ngời thích tranh đấu, việc gì cũng xét nét so đo, không được nhân duyên, mưu cầu khó toại; Thủ Phúc Đưc thì phúc bạc phúc mỏng, mờ ám hèn mọn, làm bại hoại thuần phong mỹ tục, cũng chủ một đời hèn hạ tầm thường, một chút chí lớn cũng không có, nữ giới nếu gặp Thất Sát thủ mệnh, ngoài nơi sinh ra mà miếu vượng vô Sát hội hợp ra, thì đều chủ cô đơn lạnh lẽo khó hoà hợp mà gàn bướng, dẫu có nam trí và làm việc có phương pháp, cũng chủ hình khắc rât nặng; nhập cung Thân là họa hơi nhẹ, song chủ một đời lao khổ và thân thể dị thường; cư Thiên Di thì nhiều chuyện tranh giành, luôn luôn đối địch với người khác, gây ra oán hận; Đặc biệt không nên đóng ở cung Phúc Đức, không là hầu gãi thì cũng chủ về dâm dục, có hình phu khắc tử, có suy nghĩ tư thông với người khác. Sát Phá đóng ở cung Phụ Mẫu, đa số chủ về phá tướng.

Mệnh cung có Thất Sát và Liêm Trinh hợp thủ, chớ luận nó cư ở đất nào, nam nữ đếu không phải là tốt, các cung Mệnh, Thân có Sát Liêm phân chia ra thủ cũng như vậy. Mệnh Thân có Tham Lang Liêm Trinh đồng thủ, hoặc các cucng Mệnh Thân phân trực một sao, nam đều chủ đa dâm. Liêm Trinh độc thủ Mệnh Thân so vớ Tham Lang độc thì cát hơn.

Tử Phá đồng thủ mệnh thì đa số là người nhiều dâm dục, Cơ Lương đồng thủ mệnh phần đa là người nhiều so đo tính toán, Đồng Lương đồng thủ mệnh đa số là người nhiều gian trá giả dối, Cự Nhật đồng thủ mệnh là người thích đua tranh, Liêm Tham đồng thủ mệnh phần nhiều là người nhiều tranh luận hiếu thắng, Vũ Phá đồng thủ mệnh đa số là người thích đầu cơ mạo hiểm.

Mệnh gặp Vũ Tham Hỏa Linh ở vào cung miếu vượng, không có các ác tinh giao hội như Không Kiếp Dương Đà Thiên Hình Đại Hao Liêm Phá Hóa Kị, chủ có cơ hội hoạnh phát, nam chủ vũ chức vinh hiên, nữ chủ thay quyền chồng, tài trí song mĩ, trí hơn nam tử.

Cự Môn là sao thị phi ám muội, trực Mệnh Thân cần miếu vượng hoặc gặp Thái Dương miếu vượng, thủ ở đất hãm cho dù gặp Thái Dương miếu vượng cũng chủ kém tốt đẹp, rất kị lại trùng gặp Sát Kị cung phá, tất chủ về vô cớ sinh sự, tam phương lại gặp hung tinh, thì cả đời không thể có triển vọng. Nữ mệnh gặp nó ở cung thất hãm, đa số chủ phạm chồng khắc con, phá sạch gia sản, sinh nhiều thị phi; gặp Cự Nhật thủ cung Phu, thì chủ về thị phi khẩu thiệt, cướp đoạt phu quyền. Cự Môn Hóa Kị, Mệnh Thân hành hạn đều kị gặp (Miếu vượng hoặc người sinh năm Tân, người mệnh thủy không quá kị, tái phùng Thái Tuế Quan Phù, tất có kiện cáo khẩu thiệt, tái gặp Tang Môn, Bạch Hổ, Điếu Khách, tất có tai Bệnh hoặc tang phục.

Hai sao Cự Nhật đồng cung hoặc xung chiếu nhau, đều là tổ hợp đi nước ngoài (bao gồm khác họ, xa hương), rơi vào cung nào, nhân sự của cung đó thì có thể qua lại nước ngoài, tha hương, có quan hệ với họ tộc khác. Hạn niên gặp nó cũng luận như vậy.

Mệnh thân gặp không vong, cát không hiện phúc, hung không thấy họa. Thê cung gặp không vong, một thê khó đến già. Nô bộc tọa không vong, ông chủ kiêm làm công. Phụ Mẫu tọa không vong, thiếu niên Ly Phụ Mẫu. Tiền tài gặp không vong, tài vật Hư Hao. Quan hóa lộc nhập không vong, chỉ có khát vọng, có tài nhưng không gặp thời. Nhưng “Kim không tắc hưởng, hỏa không tắc phát”, cũng có thể thành tựu; Mệnh thân có sát may mắn gặp không, phản cát. Lưu niên gặp sát may mắn gặp không (không vong tinh hoặc Thái Tuế không), phản hung thành lành. Cát tinh Lộc Mã gặp không, phản cát là hung.

Mệnh thân cung nhược chủ tinh lại yếu (cơ âm Đồng Lương), hành hạn lại nhập nhược cung, lưu niên vừa thấy cường cát tinh, ngược lại chủ không thể được lợi mà đại hung. Mệnh cung Tật có hung sát tinh, một nhóm sát niên hạn lại sát tinh cường vượng, thì dễ bị bệnh tật.

Mệnh thân cung không tốt mà có cái hưởng thụ, có thể là cung lục thân cát mà được lục thân chăm sóc, hoặc là hạn vận nâng đỡ mà tạm thời được phúc, vận qua vẫn như cũ. Nếu là cung phụ mẫu cát là được phúc ấm từ cha mẹ, Phụ Mẫu không ở phía sau thì liền lụi bại.

Người mà cung Mệnh Thân không tốt, thì xem có cung cát hóa và cát hóa có nhập cung Mệnh Thân có cường vượng không, nếu cường vượng thì có thể tích cực tìm những người phát triển hoặc người thân, thuộc tính hướng về cung này trợ giúp, để tìm lành tránh dữ.

Coi người có tài trí thiên phú hay không, thì xem Mệnh thân có hay không gặp cả Xương Khúc Khôi Việt, tốt nhất bốn sao đều đắc, gặp một hai sao chỉ chủ thông minh mà thôi. Xương Khúc Khôi Việt thủ chiếu mệnh thân, cần xem có hay không Tứ Sát xung phá, thậm chí những thứ khác sinh khắc như thế nào.

Thông thường bị sát Hình hoặc gặp khắc, thì văn tinh bị hại, đa phần không có thực học, ngược lại chủ một thân điêu ngoa xảo trá, đố kỵ ghen ghét phản phúc vô thường vậy.

Lấy cung mệnh luận Tài Quan phú quý, hôn nhân, cha mẹ, tử nữ các loại nhân sự vật, chỉ là chỉ ra điềm báo cùng tính khuynh hướng, cụ thể còn muốn xem thêm tương quan nhân sự cung cùng đại hạn, lưu niên, tại cung Mệnh, nhân sự cung, đại hạn, lưu niên bốn cái tính chất tương đồng thời là cát hung người sự tình mới có thể xác thực đoán. Cụ thể luận nhân sự thì, lấy bản cung bản cung tam phương tứ chính cung làm chủ, nhưng vì cầu được toàn diện thông tin, tỉ mỉ phân tích còn muốn toàn bộ kiêm xem, tỷ như luận sự nghiệp, cung tật ách là công việc địa điểm, đối công tác cũng có ảnh hưởng; cung phúc đức là tư tưởng cung, đúng sự tình nghiệp cũng có ảnh hưởng. Có chút tinh diệu cũng có thể toàn bộ để xem, không giới hạn lạc cung vị nào. Tỷ như, Thái Dương làm quan lộc chủ cùng phụ thân tinh, bất luận tại Mệnh Bàn cung nào, nó vượng suy cùng hóa cát Hóa Kỵ đồng đều có thể ảnh hưởng sự nghiệp thành bại cùng vận mệnh của phụ thân; Thái Âm là Tài tinh cùng mẫu thân tinh, vượng suy cùng hóa cát Hóa Kỵ đồng đều có thể ảnh hưởng tài phú được mất cùng mệnh vận của mẫu thân.

Mệnh lý dự đoán nhất định phải lấy nguyên Mệnh cục làm cơ sở, làm điểm xuất phát. Cách cục của nguyên mệnh cục tuy có cao thấp, có cát có hung, nhưng vô luận cát hoặc hung, cũng chỉ là một loại tính khuynh hướng, là cơ sở của cát hung tồn tại cùng điểm xuất phát, tại Mùi tiến vào hạn vận trước đều ở vào tương đối thăng bằng cục diện mà cát hung không hiển hiện, không phát sinh. Tuế vận tham gia về sau, nếu như tuế vận không gia tăng cát hoặc hung, tức không hung cũng không cát, thì vẫn duy trì ban đầu cách cục tương đối cân bằng, nhân sự vật đều sẽ khá bình ổn phát triển, sẽ không bạo phát bạo tàn; nếu như tuế vận tăng cát giảm hung, thì phá vỡ ban đầu cách cục cân bằng, hướng cát phương hướng phát triển, nguyên cục hung người giảm hung mà chuyển biến tốt đẹp, cát người càng cát, hạn niên này đại cát đại lợi; nếu như tuế vận tăng hung giảm cát, thì phá vỡ ban đầu cách cục cân bằng, nguyên cục cát người giảm cát mà lui bước, hung người thêm hung, hạn niên này hung tai phát sinh. Tựa như bờ đê chống lũ, cho dù lỗ thủng nhiều, nếu không phát sinh hồng thủy hoặc hồng thủy thấm không đến chỗ lỗ thủng, liền sẽ không làm hại; như hồng thủy lớn lại thấm qua chỗ lỗ thủng, thì tai hại tất nhiên phát sinh. Nhưng nhân sinh là rất phức tạp, vừa ra đời sẽ tiến vào tuế vận, chắc chắn sẽ có phương diện nào đó nhân sự vật tăng cát hoặc tăng hung, không có khả năng mọi thứ đều ở vào ban đầu tương đối thăng bằng cục diện, tăng cát người liền may mắn, tăng hung người liền lui bước có lẽ có tai hại.

Năm sinh ra địa chi chỗ ở cung tinh đối nhân sinh ảnh hưởng cũng không thể coi thường, tác dụng chừng tương đương cung thân

Đấu sổ danh xưng của tinh diệu rất nhiều hình tượng, từ danh xưng của tinh diệu thì có thể biết đại ý của nó. Nếu Tử Vi biểu cao quý, thủ lĩnh. Tham Lang biểu lòng tham, tham lam. Cự Môn tượng đại môn, là cùng không phải đều có thể tiến vào Lộc Tồn biểu ăn lộc, bổng lộc. Xương Khúc biểu văn học nghệ thuật, khoa danh. Liêm Trinh tượng công đường, công đường làm quan, Đường Hạ là tù phạm. Phá Quân biểu phá hao tổn, phá bại. Thiên Phủ ý là quan phủ nhà kho. Thiên Lương như cái xà nhà, biểu ấm thọ của phúc. Thiên đồng cùng trời cùng vui, chủ thiên nhiên hưởng lạc của phúc. Thiên Tướng tượng Tể tướng, chủ quyền quý của phúc. Thiên Cơ biểu cơ mưu. Thất Sát tượng chiến tướng sát thủ. Tả phụ hữu bật tượng phụ tá đại thần. Thái Âm là nguyệt lượng. Thái Dương là quang minh. Thiên Khốc biểu thút thít. Thiên Hư biểu Hư Hao. Thiên Phúc biểu thiên nhiên có phúc khí. Thiên Quan biểu trời ban quan chức. Thiên Quý biểu trời ban quý khí. Ân quang biểu cho người mượn ánh sáng. Long Trì biểu ao nước. Phượng Các biểu cao lầu. Trên đây chỉ dựa vào bề ngoài mà nói, trên thực tế mỗi một ngôi sao diệu đều có nhiều loại ý nghĩa, đại biểu cho nhiều loại nhân sự vật, bọn chúng tại bất đồng cung vị, tứ hóa thời gian, liền không có cùng hình tượng cùng ý nghĩa, tỷ như Cự Môn tại cung phụ mẫu đại biểu miệng trên mặt, tại phu thê cung đại biểu cãi lộn, đấu mồm, Cự Môn xung Tài cung có ám hao tổn hoặc bị ăn trộm, Cự Môn xung Quan trong công tác có tổn thất cùng can dự miệng có liên quan ngành nghề, Cự Môn tại cung thìn là nhập thủy khố, Cự Môn tại Tuất Mùi cung là bị quản chế; Thiên Cơ tại cung Thiên di là cỗ xe, Thái Âm tại cung hợi là hồ biển, Vũ Khúc lâm Tài cung có thể gia tăng tài lực, Phá Quân lâm Tài cung thì giảm tài lực.

Sự kiện phát sinh, bình thường đều trải qua nguyên nhân gây ra, phát triển, kết quả ba cái giai đoạn. Từ Mệnh Bàn xem, nguyên Mệnh Bàn là nguyên nhân gây ra, đại hạn bàn là phát triển, lưu niên, Lưu Nguyệt, lưu nhật, lưu thời là kết quả. Từ mười hai cung xem, bản cung (chỉ ứng sự tình, xảy ra sự cố của cung) cung phụ mẫu là sự kiện khởi xướng sơ kỳ, hoặc nguyên nhân gây ra của cung; bản cung là sự tình đã phát sinh, tức hiện trạng của cung; bản cung cung Huynh đệ là kết quả, hoặc sự kiện kết thúc, tức tương lai của cung, cung Huynh đệ tốt xấu là tình hình dấu hiệu biến tốt thành xấu. Từ Tứ hóa xem, gây nên Tứ hóa của thiên can chỗ cung cung tinh là nguyên nhân gây ra, Tứ hóa nhập, chiếu, xung cung là xảy ra sự cố của cung, niên hạn Tứ hóa là kết quả, ứng kỳ, tức niên hạn Tứ hóa chồng lên nhau niên hạn là ứng kỳ, hoặc niên hạn đưa đến Tứ hóa nhập, chiếu, Trùng chi cung là ứng kỳ.

Tư tưởng của một người phẩm đức, sinh hoạt hưởng thụ phương diện tư duy, tâm tính, lấy tinh diệu của cung phúc đức làm chủ để xem, cát thì tư tưởng phẩm đức, tư duy, tâm tính các loại đều là tốt đẹp cao cấp, tâm tính ổn định tỉnh táo, hung thì tư tưởng phẩm đức, tư duy, tâm tính không tốt, tâm tính không ổn định tỉnh táo, cụ thể yêu thích cùng tâm tính xem tinh tình biểu ý. Nhưng nếu cung Mệnh chung quanh, tức tam phương tứ chính Tả Hữu giáp cung của sao bầy đàn tụ họp cùng nhau, thì lại lấy loại tụ họp tinh tình biểu ý để xem, tỷ như, Đào Hoa tinh loại cùng nhau, thì yêu thích, tư duy, phẩm đức, tâm tính các loại, đều cùng Đào Hoa sắc tình, khiêu vũ có quan hệ, gặp chuyện nhiều trọng cảm tình, xử trí theo cảm tính; nếu có cơ, đồng, cự, tham, lương, xương, khúc, Hoa Cái, thiên vu, Thiên Hình, Bạch Hổ, Tang môn các loại ngũ thuật tinh loại tụ, thì yêu thích, tư duy, phẩm đức, tâm tính các loại, đều cùng ngũ thuật có quan hệ; như văn học nghệ thuật tinh loại tụ, thì yêu thích, tư duy, phẩm đức, tâm tính các loại, đều cùng văn học nghệ thuật có quan hệ.

Một người trí lực, trình độ văn hóa, văn nghệ tu dưỡng cùng tinh tính của cung mệnh và cung phụ mẫu có quan hệ, hai cung này có cơ âm phủ tướng Xương Khúc Khôi Việt Hóa Khoa các loại trí năng tinh thì trí lực tốt, trình độ văn hóa và văn nghệ tu dưỡng cơ sở tốt. Nhưng nếu kể trên trí năng sao hóa kỵ thêm sát, nhất là Kình Đà giáp kị lúc, lại có nhược trí khả năng.

Luận Mệnh phải chú ý xã hội cái này là đại cục, cá nhân tiểu cục bị đại cục quy định, bởi vì cái gọi là “Thời thế tạo anh hùng” là vậy. Tỷ như phú quý nghèo hèn trình độ, tại bất đồng thời đại cùng bất đồng quốc gia, địa khu không hoàn toàn giống nhau, tại Trung Quốc đại lục, 70 niên đại trước cực ít trăm vạn phú ông, làm quan người tương đối liêm chính, chênh lệch giàu nghèo không lớn; mà thập kỷ 90 sau trăm vạn phú ông liền chỗ nào cũng có, ngàn vạn, ức vạn phú ông đều có, xuất không ít mục nát tham ô phần tử, giàu nghèo chênh lệch cách xa. Đồng dạng phú quý Mệnh cục, tại thập kỷ 90 trước sau cùng không đồng địa khu liền không có cùng kết luận. Đồng thời số lớn người gặp nạn cũng không phải là một người vận mệnh vấn đề, mà là quốc vận cùng xã hội, hoàn cảnh đại cục vấn đề

Tại trong đẩu số, nông thôn người phú quý cách cục cao thấp là tương đối khó coi chuẩn, đây cũng là bị hoàn cảnh cùng xã hội đại cục ảnh hưởng vấn đề, bình thường cùng một người có cách cục phú quý phú quý trình độ muốn so người thành thị chênh lệch lớn, riêng lẻ vài người ngoại trừ. Còn nữa, nông thôn người hôn nhân cùng rất nhiều tình huống khác biệt cũng rất lớn. Cho nên, dự đoán thì phải xem nơi sinh, tốt nhất nói rõ là nông thôn hay là thành thị.

Trong sách ngôn ngữ là theo thực tế xuất phát, có chút ngôn ngữ thường thường quá kích, đối với một ít người tương đối nhạy cảm khả năng khó mà tiếp nhận, cho nên lúc xem mệnh cho người thì nói chuyện nên uyển chuyện một chút, có đại hung tai thông tin thì cũng nên áp dụng ám chỉ pháp, không thể cứng nhắc, để tránh tạo thành phiền toái không cần thiết.

(Tử vi đẩu số tinh hoa tập thành – Nhóm Thiên Hỏa Đồng Nhân biên dịch)

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button