Tử vi

Tiết 6: Luận Tài vận

Cung Tài bạch đại biểu biểu cho phương thức mưu cầu tiên tài, đại biểu cho tiền tài và tình hình sử dụng tiền tài, chủ yếu cần xem tình hình chi phối tiền mặt và năng lực và cơ hội kiếm tiền, định mực kiếm tiền cao nhất. Xem tài vận, nên lấy cung Tài Bạch gốc và cung Tài Bạch của vận hạn là chủ để xem. Cung Tài bạch tốt, không nhất định rất là giàu có, nhưng việc sử dụng tiền tài không bị thiếu, vận dung sử dụng tiền tài được tốt, duy chỉ khó tránh khỏi việc gian lao vất vả mà thôi.

Các loại như lãnh lương, làm thuê khi xem tài vận thì lấy cung Mệnh Quan làm chủ, cung Sự Nghiệp tốt tự nhiên tài vận tốt, cung Sự Nghiệp xâu thì tài vận kém. Các ngành nghề như Ngoại vụ, mở rộng tiêu thụ (chào hàng), tài xế, lưu động khi xem tài vận thì lấy cung Thiên Di làm chủ, cung Thiên Di tốt thì tài vận tốt, cung Thiên Di xâu thì tài vận kém.

Xem mức độ giàu có, tương đối phức tạp, cần cùng lúc xem kiêm luận cả các ung Mệnh thân, Phúc Đức, Tài Bạch, Điền Trạch, Sự Nghiêp. Có người cung Tài bạch hung mà người này vẫn giàu có, đây được cho là các cung Mệnh, Di, Quan Lộc tụ tập nhiều cát tinh, tọa cát hóa cát. Có Quan thì có Tài, khi có chút Quan chức là phát khởi tài còn lợi hại hơn kinh doanh (đương nhiên không phải là vị quan tốt), cho nên cung Mệnh cung Quan có ảnh hưởng lớn đến tài vận. Trái lại, cung Tài Bạch cũng giống vậy nó có thể ảnh hưởng đến Sự Nghiệp. Có một mệnh lệ, Mệnh cung Liêm Trinh Hóa Kị, cung Quan chẳng ra gì, cung Tài Bạc tổ thành Hỏa Tham cách vô Sát mà có Tả Phụ và Hóa Quyền, trước năm 2003 sự nghiệp không có tiếng tăm gì, năm 2013 đột nhiên số đỏ ập đến, thăng chức, thăng quan, phát tài, danh lợi cùng đến, đúng là vận đến sát cũng biến thành vàng vậy.

Bạn đang xem: Tiết 6: Luận Tài vận

Tài Phúc xung chiếu, ảnh hưởng lẫn nhau, có thể xem cùng với nhau, từ cung Tài Bach có thể xem sự ảnh hưởng của cung Phúc Đức, là sự khó dễ của việc làm ra tiền tài, nguồn tài sung túc hay là thiếu thốn, là không phải vất vả mà có tiền hay là lao tâm khổ tứ vì tiền; Từ Phúc Đức xem cung Tài bạch, rồi sự hưởng thụ đối với tiền tài, có hay không có tài lực trợ giúp hưởng thụ sao cho lý tưởng, hoặc có tài mà không thể hưởng thụ được, hoặc là muốn được hưởng thụ nhưng lại không có tiền tài, hoặc là vô tài mà thỏa mãn với những lạc thù bình thường. Cung Phúc Đức là sự báo ứng của nhân quả kiếp trước, cung Phúc Đức tốt, thì được phúc báo, có cách thức kiếm tiền nhiều, không phải cưỡng cầu, tự nhiên mà có, dễ có được mà không phải lao tâm khổ tứ, tốt nhât khi đầu tư nên để người khác thay mình kinh doanh; cung Phúc Đức không tốt, thì phúc bạc, nguồn tài ít, cho dù cung Tài Bạch tốt, nó chỉ chủ về có kế hoạch sử dụng tiền tài hợp lý, nhưng khi cầu tài có làm nhiều mà vẫn vất vả cực nhọc, không tụ tài, thu lợi ít, hoặc chỉ có lợi trong thời gian ngắn.

Cung Sự Nghiệp là phương thức và nghề nghiệp kiếm tiền. Cung Tài Bạch mạnh hơn cung Sự Nghiệp, thì sự nghiệp không khởi sắc, chức vụ không cao, không nên can thiệp ra mặt, kết hội phường, chung vốn và làm chính trị, nhưng lợi về kiếm tiền, hợp với làm kinh doanh, ngành nghề bán lẻ. Cung Sự Nghiệp mạnh hơn cung Tài Bạch, hợp với công chức hoặc hùn vốn làm ăn.

Cung Tài bạch biểu hiện mức độ tốt xấu, giàu có của Tài vận, cung Mệnh thân biểu thị sự trợ lực tự nhiên, và năng lực hưởng thụ tài phú, thành tựu quý khí, là cơ sở của phú quý. Mối quan hệ giữa Mệnh cung và cung Tài Bạch, với quan hệ giữa cung mệnh và cung Sự nghiệp giống nhau, có thể tham khảo thêm. Mệnh cung còn để xem thái độ tiêu tiền, ví dụ, Tham Lang là vua tiêu sài, muốn tiêu thì tiêu, muốn chơi thì chơi, không hề tiết chế, bất kể hữu dụng hay không, trong nhà có hay không, đến nữa là Phá Quân, để theo đuổi cái mới, thì tiêu không cần biết số tiền đó là bao nhiêu, cùng thường xuyên hội họp làm tổn hại đồ dùng cần bổ sung mà làm hao phí tiền của, rồi ngay cả Tử Vi thích nhờ vả, kết thân với những người có địa vị cao hơn mình, lời nói lại phô trương, thích sống xa hoa tiêu sài hàng hiệu, cho nên tiêu tiền đương nhiên rất là hào phóng; Thái Dương chính là hào phóng trong việc tiêu tiền, mua sắm không cần mặc cả, đa số là ăn tiêu vay muộn bừa bãi, mượn một đồng tiêu hai đồng, ra mặt trả tiền, thì cũng dễ bị lừa gạt mà hao tốn tiền của.

Mệnh Thân tốt, đại biểu cho việc kiếm tiên mà không mất sức lực, tự nhiên mà được, nếu ở trong thời kỳ hoạnh phát, nhưng để thu được tiền tài nhiều ít, còn cần xem cung Tài Bạch, số tiền bao nhiêu cần lấy cục ngũ hành của cung mà xác định. Cung Mệnh thân không tốt, mà cung Tài Phúc tốt, thì có bí quyết kiếm được tiền nhiều, sử dụng tiền tài hợp lý, nhưng thường hay gặp nhiều trắc trở, cần phải trải quan gian khổ phấn đấu thì tiền tài mới đến tay, nếu như có thể nỗ lực vật lộn cũng có thể giàu có.

Cung Điền Trạch là thương khố của tiền tài, đại biểu cho bất động sản, cho nên khi xem tài vận cũng có thể xem cung Điền Trạch, cung Tài Quan là tiền mặt và cách sử dung chi tiêu tiền tài, có hay không việc tích lũy tiền của thì xem cung Điền Trạch, nếu hãm mà gặp Sát Kị thủ chiếu, dù cung Tài tốt cung khó giữ, ám hao tán nhiều. Cung Tài Quan không tốt mà cung Điền Trạch tốt, có thể xây dựng sự nghiệp để tụ họp và tích lũy tiền tài, có thể lấy buôn bán nhỏ để mưu sinh, bởi cung Điền Trạch cũng đại biểu cho của hàng kinh doanh. Cung Tài Bạch cát hung hỗn tạp, sẽ có khuynh hướng hoạnh phát hoạng phá, nếu cung Điền Trạch tốt có thể thiết lập sự nghiệp làm bí quyết để hóa giải. Cung Điền Trạch có sao Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền đồng cung, sẽ có rất nhiều bất động sản như ở chỗ hào phú, biệt thự, cất giữ báu vật, mà số bất động sản này đa số có thể là di sản của tổ tiên để lại đồng thời làm rạng rỡ truyền thống. Người mà cung Điền Trạch có sao Hóa Kị, sẽ cất giấu tiền của làm vốn riêng, nhưng đại tài lại khó tụ.

Chúng ta có thề lấy cung Tài Bạch ví như làm Thủy Khố (kho nước), cung Mệnh thân ví làm Vũ thủy (nước mưa), cung Phúc Đức ví làm Nguyên Lưu (nguồn nước chảy, đầu nguồn), cung Tài Bach ví làm Thủy Cừ (mương nước), cung Sự Nghiệp ví làm Thủy Khố (kho nước) các cung này như những người quản lý (tức là công dụng để tích trữ và dẫn nước). Trời mưa nhiều, thủy khủy khố tích nước dễ dàng, nguồn nước nhiều mà dài, thủy khố tích nước cũng được nhiều; Thủy khố lớn, trữ nước được nhiều, thời gian sử dụng tương đối là dài, nếu trời hạn hán lâu, nguồn nước ít, thì thủy khố cũng sẽ khô cạn; nếu thủy khố nhỏ hoặc bị hư hỏng không thể đủ sức chịu đựng, thì lượng nước tích trũ có hạn, thì thời gian sử dụng sẽ không dài; Nếu như trời mưa nhiều, nguồn nước dồi dào, thủy khố cung to, nhưng mương dẫn nước nhỏ hoặc ngắn, thì không thể phát huy đầy đủ vai trò, lại nếu như mương nước bị hư hỏng không được tu sửa, thì nước chảy lung tung khắp nơi, cũng sẽ lãng phí nguồn nước một cách vô ích.

Cho nên, từ hoạt động của hệ thống thủy khố có thể xem ra, bất kể là xem Tài Bạch hay là Sự Nghiệp, đều là mọi vấn đề, chúng có liên hệ với nhau, tất cả quán trình vận hành cần hài hòa với nhau, mới có thể phát huy tác dụng một cách đầy đủ.

Xem sự mạnh yếu của tài vận, thì cần xem sự cường nhược của cung Tài Bạch thế nào, còn cần xem có hay không sao Tài (các sao Vũ Âm Phủ Lộc là sao chính tài, mạnh nhất là Vũ Khúc Hóa Lộc) nhập vào bản cung và Tam phương tứ chính. Cung Tài Bạch cường, mà lại có Tài Lộc tinh, lại không có các sao như Không Vong Kiếp Đại Hao, thì cuộc đời có nguồn tài thông thuận, tiền tài phong hậu, trái lại thì không giàu có. Người Cung Tài Bạch có sao Hóa Lộc, Hóa Quyền, thì họ có năng lực kiếm tiền rất mạnh, cuộc đời sẽ biết nắm bắt thời cơ kiếm tiền, dễ dàng phát tài làm giàu. Cung Tài Bạch mạnh mà không có sát Kị, thì cuộc đời không phải nợ nần, thu nợ dễ dàng; Cung Tài Bạch yếu hoặc có Sát Kị, tài vận cả đời bếp bênh, tụ tán bất thời, tiền đến tiền lại đi, lại chủ về vất vả kiếm tiền hoặc có tranh chấp, đòi nợ gặp trở ngại.

Cung Tài Bạch ở nguyên cục và đại vận có Hỏa Tham, Hỏa Âm và không có hung sát tinh, thường gặp cơ hội bạo phát, có cát tinh mà không có các sao hung sát, cũng dễ bạo phát, nhưng nếu có hung sát tinh thì sẽ bạo bại. Người mà Cung Tài Bạch có sao Hóa Kị, liệu mạng đi truy cầu tiền tài, có thể “trong loạn mà kiếm được tiền”, hoặc là trong thị phi kiếm được tiền, người có tổ hợp tốt cũng có cơ hội hoạnh phát.

Cung Tài bạch và Tài tinh, chính tinh lấy đơn thủ là phù hợp, lại thêm cát tinh phù trợ, tam phương có cát tinh hội chiếu là tốt đẹp; Nếu có hai chính tinh cùng thủ, có sảy ra tranh chấp về tiền bạc, cung Tài Bạch và tài tinh kị gặp sao Không Vong như Tuần Không, Triệt Không, Thiên Không.

Cung Tài ở nguyên mệnh chỉ đại biểu cho việc kiếm tiền ở phương diện nào đó, cung Tài Bạch ở đại hạn và lưu niên thì địa biều cho tài vận và việc kiếm tiền, thời gian phá bại ở đại hạn lưu đó.

Sao Thiên Lương tọa mệnh cùng bản mệnh hoặc tuế hạn có song Lộc cùng đến, đều dễ dàng có cơ hội trúng thưởng hoặc có được tài bất ngờ.

Sát Phá Tham nhập miếu địa, Vũ Khúc nhập miếu địa cùng với Thiên Phủ tọa mệnh khởi phát tài đến rất mạnh.

Thái Dương và Tả Hữu đồng cung, Thiên Mã hội Lộc Tồn, lợi cho xuất ngoại phát tài.

Lộc Tồn tại cung Tài bạch, chính tinh nhập miếu, chủ về có thể tụ tài; Nếu hội thêm Tả Hữu, sẽ không làm mà hưởng, nếu hội thêm tứ sát Không Kiếp, phải gian lao vất vả mới kiếm được tiền, cần phải từ từ tích góp thì mới được một chút tiền, gặp Không Vong thì trước phú hậu bần, Lộc Mã giao hội mới chủ sinh tài và lưu thông.

Lấy tinh diệu xem, Vũ Khúc là sao Chính Tài, có thiên hướng nặng về tính thực chất và hành động, như đầu tư kinh doanh buôn bán… , bận rộn kiếm tiến. Thái Dương là sao Chính Tài, có thiên hướng nặng nặng về kề hoạch quản lý tiền tài, với các loại hình như đại lý môi giới, quản lý tiền thù lao, tiền công, âm thầm kiếm tiền, việc kiếm tiền tương đối nhàn hạ. Thiên Phủ thiên về quản lý tiền tài, tích góp tiền của, mà không nhất định phải kiếm tiến. Liêm Tham cũng là Tài tinh, nhưng nhất thiết phải Hóa Lộc, hoặc đồng cung với Lộc Tồn, hoặc tổ thành Hỏa Tham Linh Tham cách, mà phần nhiều có thu nhập bất ngờ hoặc đầu tư được tài. Ngoài ra tinh điệu nhập cung Tài Bạc cũng có Tài, ví dụ như: Tử Vi không tính là chính tài tinh, chỉ chủ về nguồn tài sung túc; Tài của Dương Đà cuối cung không phải là chân chính, lại chỉ chủ về nhất thời mà tài đến tài đến tài lại đi, tụ tán vô thường, hoạnh phát hoạnh phá; Kình Dương chủ về cạnh tranh, miếu vượng thêm cát có thể tranh đoạt được, thất hãm thì tranh giành mà không được; Đà La chủ về trì hoãn, dây dưa không thể lập tức đắc tài sinh lợi, nếu miếu vượng thêm cát mới có thể được, thất hãm thì không; Tài của Xương Khúc là danh dự, thành tự đạt được mà đắc tài sinh lợi là do văn học nghệ thuật, hoặc biểu diễn văn nghệ; Khôi Việt là Tài của cơ hội, lợi ích nếu được ở các phương diện như điển chương, chế độ, văn vật; Tài của Phá Quân, qua đi thì tất bại; Tài của Hỏa Linh, tiền đến tay mà thành không (Tham Lang đồng cung mà không có Dương Đà Không Kiếp thì loại trừ); Tài của Hồng Hỉ, đến thì bất tồn; Tài của Cự Nhật Lương, đa số do khẩu thiệt tranh giành mà được, Hàm Trì thủ cung Tài, gặp Tài rồi sau đó Đào Hoa, được rồi mà tiêu sài nhiều ở ca vũ tửu sắc; các sao Cô Quản Hình khắc nhập cung Tài, tất chủ tài đến tài lại đi.

Người Cung Huynh đệ có Hóa Lộc, cũng là người có tiền chân chính, đặc biệt là chi tiêu sinh hoạt không thiếu, nhưng tốt nhất không nên cho người mượn tiền, nếu không thì có thể sẽ có mượn mà không có trả.

Phương pháp xem phá tài, lấy cung Tài Bach làm chủ, kiêm xem luôn cung Mệnh, cung Điền Trạch, cung Phúc Đức:

⑴ Người có cung Tài Điền Phúc có Liêm Nhật Cơ Vũ Tham Cự Xương Khúc Âm Hóa Kị dễ có việc phá tài, Liêm Cự Hóa Kị còn dễ có hình phạt kiện tụng.

⑵ Lộc Tồn lạc hãm hoặc độc thủ mà hội Không Kiếp.

⑶ Hóa Kị hội Tứ Sát Kiếp Không, phá tài rất ghê gớm.

⑷ Chính tinh cung mệnh bình hòa hoặc hãm, hoặc không có chính tinh, lại còn cung Tài không tốt, cung Điền Trạch cũng không tốt, thì cũng sẽ phát tài rất nhanh.

⑸ Mệnh cung Vũ Sát và cung Tài gặp Sát.

⑹ Xem phá Tài, cần đặc biệt chú ý hai sao Không Kiếp, Không là xuất Không, được mà lại mất; Kiếp là cướp giật, biểu tượng là thường bị hao tổn; Nếu mệnh cung có Vũ Phá, Vũ Sát và cung Tài Bạch gặp Không Kiếp, cung Tài Bach có Liêm Trinh gặp Không Kiếp.

⑺ Cung Tài bạch có Vũ Phá hội Sát.

⑻Khi Chính tinh cung Mệnh hãm hoặc chính diệu, mà cung Tài cung Điền cũng không tốt, cũng chủ về dễ phá Tài. (thời gian chính thức phá tài, xem lý tính sao và Tứ Hóa của hạn năm tháng ngày giờ).

Cung Tài bạch không tốt, có tín hiệu phá tài, lúc này cũng cần xem đầy đủ toàn bộ lá số, nếu cung Tât Ách hung, sẽ do bệnh tất mà phá tài; cung Tử Tức hung, sẽ do việc Đào hoa của con cái mà phá tài; cung Nô Bộc hung, thì bạn bè, người giúp việc, việc hùn hạp, góp vốn có thể là bì lừa, bị trộm cắp tiền bạc mà phá tài…

Phương thức đầu tư mà do người khác kinh doanh, lấy cung Phúc Đức để xem

Phương pháp lấy Tứ Hóa luận tài vận mời xem chương tiết 10 chương 14 quyển hạ.

(Tử vi đẩu số tinh hoa tập thành – Nhóm Thiên Hỏa Đồng Nhân biên dịch)

Đăng bởi: Phật Giáo Việt Nam

Chuyên mục: Học tử vi

Xem thêm Tiết 6: Luận Tài vận

Cung Tài bạch đại biểu biểu cho phương thức mưu cầu tiên tài, đại biểu cho tiền tài và tình hình sử dụng tiền tài, chủ yếu cần xem tình hình chi phối tiền mặt và năng lực và cơ hội kiếm tiền, định mực kiếm tiền cao nhất. Xem tài vận, nên lấy cung Tài Bạch gốc và cung Tài Bạch của vận hạn là chủ để xem. Cung Tài bạch tốt, không nhất định rất là giàu có, nhưng việc sử dụng tiền tài không bị thiếu, vận dung sử dụng tiền tài được tốt, duy chỉ khó tránh khỏi việc gian lao vất vả mà thôi.

Các loại như lãnh lương, làm thuê khi xem tài vận thì lấy cung Mệnh Quan làm chủ, cung Sự Nghiệp tốt tự nhiên tài vận tốt, cung Sự Nghiệp xâu thì tài vận kém. Các ngành nghề như Ngoại vụ, mở rộng tiêu thụ (chào hàng), tài xế, lưu động khi xem tài vận thì lấy cung Thiên Di làm chủ, cung Thiên Di tốt thì tài vận tốt, cung Thiên Di xâu thì tài vận kém.

Xem mức độ giàu có, tương đối phức tạp, cần cùng lúc xem kiêm luận cả các ung Mệnh thân, Phúc Đức, Tài Bạch, Điền Trạch, Sự Nghiêp. Có người cung Tài bạch hung mà người này vẫn giàu có, đây được cho là các cung Mệnh, Di, Quan Lộc tụ tập nhiều cát tinh, tọa cát hóa cát. Có Quan thì có Tài, khi có chút Quan chức là phát khởi tài còn lợi hại hơn kinh doanh (đương nhiên không phải là vị quan tốt), cho nên cung Mệnh cung Quan có ảnh hưởng lớn đến tài vận. Trái lại, cung Tài Bạch cũng giống vậy nó có thể ảnh hưởng đến Sự Nghiệp. Có một mệnh lệ, Mệnh cung Liêm Trinh Hóa Kị, cung Quan chẳng ra gì, cung Tài Bạc tổ thành Hỏa Tham cách vô Sát mà có Tả Phụ và Hóa Quyền, trước năm 2003 sự nghiệp không có tiếng tăm gì, năm 2013 đột nhiên số đỏ ập đến, thăng chức, thăng quan, phát tài, danh lợi cùng đến, đúng là vận đến sát cũng biến thành vàng vậy.

Tài Phúc xung chiếu, ảnh hưởng lẫn nhau, có thể xem cùng với nhau, từ cung Tài Bach có thể xem sự ảnh hưởng của cung Phúc Đức, là sự khó dễ của việc làm ra tiền tài, nguồn tài sung túc hay là thiếu thốn, là không phải vất vả mà có tiền hay là lao tâm khổ tứ vì tiền; Từ Phúc Đức xem cung Tài bạch, rồi sự hưởng thụ đối với tiền tài, có hay không có tài lực trợ giúp hưởng thụ sao cho lý tưởng, hoặc có tài mà không thể hưởng thụ được, hoặc là muốn được hưởng thụ nhưng lại không có tiền tài, hoặc là vô tài mà thỏa mãn với những lạc thù bình thường. Cung Phúc Đức là sự báo ứng của nhân quả kiếp trước, cung Phúc Đức tốt, thì được phúc báo, có cách thức kiếm tiền nhiều, không phải cưỡng cầu, tự nhiên mà có, dễ có được mà không phải lao tâm khổ tứ, tốt nhât khi đầu tư nên để người khác thay mình kinh doanh; cung Phúc Đức không tốt, thì phúc bạc, nguồn tài ít, cho dù cung Tài Bạch tốt, nó chỉ chủ về có kế hoạch sử dụng tiền tài hợp lý, nhưng khi cầu tài có làm nhiều mà vẫn vất vả cực nhọc, không tụ tài, thu lợi ít, hoặc chỉ có lợi trong thời gian ngắn.

Cung Sự Nghiệp là phương thức và nghề nghiệp kiếm tiền. Cung Tài Bạch mạnh hơn cung Sự Nghiệp, thì sự nghiệp không khởi sắc, chức vụ không cao, không nên can thiệp ra mặt, kết hội phường, chung vốn và làm chính trị, nhưng lợi về kiếm tiền, hợp với làm kinh doanh, ngành nghề bán lẻ. Cung Sự Nghiệp mạnh hơn cung Tài Bạch, hợp với công chức hoặc hùn vốn làm ăn.

Cung Tài bạch biểu hiện mức độ tốt xấu, giàu có của Tài vận, cung Mệnh thân biểu thị sự trợ lực tự nhiên, và năng lực hưởng thụ tài phú, thành tựu quý khí, là cơ sở của phú quý. Mối quan hệ giữa Mệnh cung và cung Tài Bạch, với quan hệ giữa cung mệnh và cung Sự nghiệp giống nhau, có thể tham khảo thêm. Mệnh cung còn để xem thái độ tiêu tiền, ví dụ, Tham Lang là vua tiêu sài, muốn tiêu thì tiêu, muốn chơi thì chơi, không hề tiết chế, bất kể hữu dụng hay không, trong nhà có hay không, đến nữa là Phá Quân, để theo đuổi cái mới, thì tiêu không cần biết số tiền đó là bao nhiêu, cùng thường xuyên hội họp làm tổn hại đồ dùng cần bổ sung mà làm hao phí tiền của, rồi ngay cả Tử Vi thích nhờ vả, kết thân với những người có địa vị cao hơn mình, lời nói lại phô trương, thích sống xa hoa tiêu sài hàng hiệu, cho nên tiêu tiền đương nhiên rất là hào phóng; Thái Dương chính là hào phóng trong việc tiêu tiền, mua sắm không cần mặc cả, đa số là ăn tiêu vay muộn bừa bãi, mượn một đồng tiêu hai đồng, ra mặt trả tiền, thì cũng dễ bị lừa gạt mà hao tốn tiền của.

Mệnh Thân tốt, đại biểu cho việc kiếm tiên mà không mất sức lực, tự nhiên mà được, nếu ở trong thời kỳ hoạnh phát, nhưng để thu được tiền tài nhiều ít, còn cần xem cung Tài Bạch, số tiền bao nhiêu cần lấy cục ngũ hành của cung mà xác định. Cung Mệnh thân không tốt, mà cung Tài Phúc tốt, thì có bí quyết kiếm được tiền nhiều, sử dụng tiền tài hợp lý, nhưng thường hay gặp nhiều trắc trở, cần phải trải quan gian khổ phấn đấu thì tiền tài mới đến tay, nếu như có thể nỗ lực vật lộn cũng có thể giàu có.

Cung Điền Trạch là thương khố của tiền tài, đại biểu cho bất động sản, cho nên khi xem tài vận cũng có thể xem cung Điền Trạch, cung Tài Quan là tiền mặt và cách sử dung chi tiêu tiền tài, có hay không việc tích lũy tiền của thì xem cung Điền Trạch, nếu hãm mà gặp Sát Kị thủ chiếu, dù cung Tài tốt cung khó giữ, ám hao tán nhiều. Cung Tài Quan không tốt mà cung Điền Trạch tốt, có thể xây dựng sự nghiệp để tụ họp và tích lũy tiền tài, có thể lấy buôn bán nhỏ để mưu sinh, bởi cung Điền Trạch cũng đại biểu cho của hàng kinh doanh. Cung Tài Bạch cát hung hỗn tạp, sẽ có khuynh hướng hoạnh phát hoạng phá, nếu cung Điền Trạch tốt có thể thiết lập sự nghiệp làm bí quyết để hóa giải. Cung Điền Trạch có sao Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền đồng cung, sẽ có rất nhiều bất động sản như ở chỗ hào phú, biệt thự, cất giữ báu vật, mà số bất động sản này đa số có thể là di sản của tổ tiên để lại đồng thời làm rạng rỡ truyền thống. Người mà cung Điền Trạch có sao Hóa Kị, sẽ cất giấu tiền của làm vốn riêng, nhưng đại tài lại khó tụ.

Chúng ta có thề lấy cung Tài Bạch ví như làm Thủy Khố (kho nước), cung Mệnh thân ví làm Vũ thủy (nước mưa), cung Phúc Đức ví làm Nguyên Lưu (nguồn nước chảy, đầu nguồn), cung Tài Bach ví làm Thủy Cừ (mương nước), cung Sự Nghiệp ví làm Thủy Khố (kho nước) các cung này như những người quản lý (tức là công dụng để tích trữ và dẫn nước). Trời mưa nhiều, thủy khủy khố tích nước dễ dàng, nguồn nước nhiều mà dài, thủy khố tích nước cũng được nhiều; Thủy khố lớn, trữ nước được nhiều, thời gian sử dụng tương đối là dài, nếu trời hạn hán lâu, nguồn nước ít, thì thủy khố cũng sẽ khô cạn; nếu thủy khố nhỏ hoặc bị hư hỏng không thể đủ sức chịu đựng, thì lượng nước tích trũ có hạn, thì thời gian sử dụng sẽ không dài; Nếu như trời mưa nhiều, nguồn nước dồi dào, thủy khố cung to, nhưng mương dẫn nước nhỏ hoặc ngắn, thì không thể phát huy đầy đủ vai trò, lại nếu như mương nước bị hư hỏng không được tu sửa, thì nước chảy lung tung khắp nơi, cũng sẽ lãng phí nguồn nước một cách vô ích.

Cho nên, từ hoạt động của hệ thống thủy khố có thể xem ra, bất kể là xem Tài Bạch hay là Sự Nghiệp, đều là mọi vấn đề, chúng có liên hệ với nhau, tất cả quán trình vận hành cần hài hòa với nhau, mới có thể phát huy tác dụng một cách đầy đủ.

Xem sự mạnh yếu của tài vận, thì cần xem sự cường nhược của cung Tài Bạch thế nào, còn cần xem có hay không sao Tài (các sao Vũ Âm Phủ Lộc là sao chính tài, mạnh nhất là Vũ Khúc Hóa Lộc) nhập vào bản cung và Tam phương tứ chính. Cung Tài Bạch cường, mà lại có Tài Lộc tinh, lại không có các sao như Không Vong Kiếp Đại Hao, thì cuộc đời có nguồn tài thông thuận, tiền tài phong hậu, trái lại thì không giàu có. Người Cung Tài Bạch có sao Hóa Lộc, Hóa Quyền, thì họ có năng lực kiếm tiền rất mạnh, cuộc đời sẽ biết nắm bắt thời cơ kiếm tiền, dễ dàng phát tài làm giàu. Cung Tài Bạch mạnh mà không có sát Kị, thì cuộc đời không phải nợ nần, thu nợ dễ dàng; Cung Tài Bạch yếu hoặc có Sát Kị, tài vận cả đời bếp bênh, tụ tán bất thời, tiền đến tiền lại đi, lại chủ về vất vả kiếm tiền hoặc có tranh chấp, đòi nợ gặp trở ngại.

Cung Tài Bạch ở nguyên cục và đại vận có Hỏa Tham, Hỏa Âm và không có hung sát tinh, thường gặp cơ hội bạo phát, có cát tinh mà không có các sao hung sát, cũng dễ bạo phát, nhưng nếu có hung sát tinh thì sẽ bạo bại. Người mà Cung Tài Bạch có sao Hóa Kị, liệu mạng đi truy cầu tiền tài, có thể “trong loạn mà kiếm được tiền”, hoặc là trong thị phi kiếm được tiền, người có tổ hợp tốt cũng có cơ hội hoạnh phát.

Cung Tài bạch và Tài tinh, chính tinh lấy đơn thủ là phù hợp, lại thêm cát tinh phù trợ, tam phương có cát tinh hội chiếu là tốt đẹp; Nếu có hai chính tinh cùng thủ, có sảy ra tranh chấp về tiền bạc, cung Tài Bạch và tài tinh kị gặp sao Không Vong như Tuần Không, Triệt Không, Thiên Không.

Cung Tài ở nguyên mệnh chỉ đại biểu cho việc kiếm tiền ở phương diện nào đó, cung Tài Bạch ở đại hạn và lưu niên thì địa biều cho tài vận và việc kiếm tiền, thời gian phá bại ở đại hạn lưu đó.

Sao Thiên Lương tọa mệnh cùng bản mệnh hoặc tuế hạn có song Lộc cùng đến, đều dễ dàng có cơ hội trúng thưởng hoặc có được tài bất ngờ.

Sát Phá Tham nhập miếu địa, Vũ Khúc nhập miếu địa cùng với Thiên Phủ tọa mệnh khởi phát tài đến rất mạnh.

Thái Dương và Tả Hữu đồng cung, Thiên Mã hội Lộc Tồn, lợi cho xuất ngoại phát tài.

Lộc Tồn tại cung Tài bạch, chính tinh nhập miếu, chủ về có thể tụ tài; Nếu hội thêm Tả Hữu, sẽ không làm mà hưởng, nếu hội thêm tứ sát Không Kiếp, phải gian lao vất vả mới kiếm được tiền, cần phải từ từ tích góp thì mới được một chút tiền, gặp Không Vong thì trước phú hậu bần, Lộc Mã giao hội mới chủ sinh tài và lưu thông.

Lấy tinh diệu xem, Vũ Khúc là sao Chính Tài, có thiên hướng nặng về tính thực chất và hành động, như đầu tư kinh doanh buôn bán… , bận rộn kiếm tiến. Thái Dương là sao Chính Tài, có thiên hướng nặng nặng về kề hoạch quản lý tiền tài, với các loại hình như đại lý môi giới, quản lý tiền thù lao, tiền công, âm thầm kiếm tiền, việc kiếm tiền tương đối nhàn hạ. Thiên Phủ thiên về quản lý tiền tài, tích góp tiền của, mà không nhất định phải kiếm tiến. Liêm Tham cũng là Tài tinh, nhưng nhất thiết phải Hóa Lộc, hoặc đồng cung với Lộc Tồn, hoặc tổ thành Hỏa Tham Linh Tham cách, mà phần nhiều có thu nhập bất ngờ hoặc đầu tư được tài. Ngoài ra tinh điệu nhập cung Tài Bạc cũng có Tài, ví dụ như: Tử Vi không tính là chính tài tinh, chỉ chủ về nguồn tài sung túc; Tài của Dương Đà cuối cung không phải là chân chính, lại chỉ chủ về nhất thời mà tài đến tài đến tài lại đi, tụ tán vô thường, hoạnh phát hoạnh phá; Kình Dương chủ về cạnh tranh, miếu vượng thêm cát có thể tranh đoạt được, thất hãm thì tranh giành mà không được; Đà La chủ về trì hoãn, dây dưa không thể lập tức đắc tài sinh lợi, nếu miếu vượng thêm cát mới có thể được, thất hãm thì không; Tài của Xương Khúc là danh dự, thành tự đạt được mà đắc tài sinh lợi là do văn học nghệ thuật, hoặc biểu diễn văn nghệ; Khôi Việt là Tài của cơ hội, lợi ích nếu được ở các phương diện như điển chương, chế độ, văn vật; Tài của Phá Quân, qua đi thì tất bại; Tài của Hỏa Linh, tiền đến tay mà thành không (Tham Lang đồng cung mà không có Dương Đà Không Kiếp thì loại trừ); Tài của Hồng Hỉ, đến thì bất tồn; Tài của Cự Nhật Lương, đa số do khẩu thiệt tranh giành mà được, Hàm Trì thủ cung Tài, gặp Tài rồi sau đó Đào Hoa, được rồi mà tiêu sài nhiều ở ca vũ tửu sắc; các sao Cô Quản Hình khắc nhập cung Tài, tất chủ tài đến tài lại đi.

Người Cung Huynh đệ có Hóa Lộc, cũng là người có tiền chân chính, đặc biệt là chi tiêu sinh hoạt không thiếu, nhưng tốt nhất không nên cho người mượn tiền, nếu không thì có thể sẽ có mượn mà không có trả.

Phương pháp xem phá tài, lấy cung Tài Bach làm chủ, kiêm xem luôn cung Mệnh, cung Điền Trạch, cung Phúc Đức:

⑴ Người có cung Tài Điền Phúc có Liêm Nhật Cơ Vũ Tham Cự Xương Khúc Âm Hóa Kị dễ có việc phá tài, Liêm Cự Hóa Kị còn dễ có hình phạt kiện tụng.

⑵ Lộc Tồn lạc hãm hoặc độc thủ mà hội Không Kiếp.

⑶ Hóa Kị hội Tứ Sát Kiếp Không, phá tài rất ghê gớm.

⑷ Chính tinh cung mệnh bình hòa hoặc hãm, hoặc không có chính tinh, lại còn cung Tài không tốt, cung Điền Trạch cũng không tốt, thì cũng sẽ phát tài rất nhanh.

⑸ Mệnh cung Vũ Sát và cung Tài gặp Sát.

⑹ Xem phá Tài, cần đặc biệt chú ý hai sao Không Kiếp, Không là xuất Không, được mà lại mất; Kiếp là cướp giật, biểu tượng là thường bị hao tổn; Nếu mệnh cung có Vũ Phá, Vũ Sát và cung Tài Bạch gặp Không Kiếp, cung Tài Bach có Liêm Trinh gặp Không Kiếp.

⑺ Cung Tài bạch có Vũ Phá hội Sát.

⑻Khi Chính tinh cung Mệnh hãm hoặc chính diệu, mà cung Tài cung Điền cũng không tốt, cũng chủ về dễ phá Tài. (thời gian chính thức phá tài, xem lý tính sao và Tứ Hóa của hạn năm tháng ngày giờ).

Cung Tài bạch không tốt, có tín hiệu phá tài, lúc này cũng cần xem đầy đủ toàn bộ lá số, nếu cung Tât Ách hung, sẽ do bệnh tất mà phá tài; cung Tử Tức hung, sẽ do việc Đào hoa của con cái mà phá tài; cung Nô Bộc hung, thì bạn bè, người giúp việc, việc hùn hạp, góp vốn có thể là bì lừa, bị trộm cắp tiền bạc mà phá tài…

Phương thức đầu tư mà do người khác kinh doanh, lấy cung Phúc Đức để xem

Phương pháp lấy Tứ Hóa luận tài vận mời xem chương tiết 10 chương 14 quyển hạ.

(Tử vi đẩu số tinh hoa tập thành – Nhóm Thiên Hỏa Đồng Nhân biên dịch)

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button