Nghiên cứu

Tiểu sử thầy Thích Huyền Diệu là ai? Người từ chối nhận giải Nobel vì Hòa Bình

Thượng tọa, sư thầy Thích Huyền Diệu là cái tên không hề xa lạ trong giới Tăng lữ hiện nay, được rất nhiều người biết đến. Ngài là người khởi công xây dựng ngôi chùa Việt Nam Phật Quốc Tự trên xứ người, có nhiều đóng góp to lớn cho nền Phật giáo Việt Nam. 

Tiểu sử sư Thầy Thích Huyền Diệu là ai?

thích huyền diệu

Thượng tọa, hòa thượng Thích Huyền Diệu có tục danh là Lâm Trung Quốc, ngài sinh năm 1946, tại Ba Tri, thuộc tỉnh Bến Tre ngày nay. Thầy sinh ra trong một gia đình nghèo ở tỉnh Bến Tre, ngay từ thời còn niên thiếu, thầy Thích Huyền Diệu đã xuất gia tu học với trưởng lão Hòa thượng Thích Hoằng Nhơn ở chùa Mai Sơn, Tịnh Biên (thuộc tỉnh An Giang). Đây chính là cơ duyên đã giúp thay đổi hoàn toàn cuộc đời của thầy về sau này.

Bạn đang xem: Tiểu sử thầy Thích Huyền Diệu là ai? Người từ chối nhận giải Nobel vì Hòa Bình

Quá trình hoạt động và đạo nghiệp của thầy Thích Huyền Diệu

Năm 1969, khi thầy vẫn còn đang là sinh viên theo học tại Đại học Nantes và Sorbonne của Pháp, thầy Thích Huyền Diệu đặt chân đến Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ. Quỳ dưới Kim Cang tọa, trong lòng thầy bỗng trào dâng một niềm xúc động vô bờ, bởi ước nguyện của cuộc đời thầy dường như đã thành sự thật. Khi được chứng kiến các ngôi chùa của các nước phát triển hiện hữu trên thánh địa Phật giáo, thầy không khỏi chạnh lòng khi chưa thấy được ngôi chùa của Việt Nam xuất hiện tại đây. Mặc dù đạo Phật đã đến Việt Nam trên 2.000 năm.

Dành dụm từng đồng tiền mà thầy kiếm được khi đi dạy học và nhận được sự ủng hộ tích cực của các học trò Âu – Mỹ. Vào năm 1987, trải qua bao khó khăn trắc trở, thầy Thích Huyền Diệu đã mua được miếng đất chỉ rộng vẻn vẹn 450m2, trong khi ngôi chùa của các nước khác rộng đến hàng ngàn mét do nhận được sự hỗ trợ rất lớn của Chính phủ các nước.

Việt Nam vào những năm đầu của thập niên 80, tình hình trong nước sau 2 cuộc chiến tranh vẫn còn rất đói nghèo. Phật giáo vào giai đoạn này chưa được chấn hưng, cộng đồng người Việt ở Bồ Đề Đạo Tràng Ấn Độ khi đó chỉ có một mình thầy Thích Huyền Diệu, cho nên việc xây chùa gặp phải tình trạng khó khăn chưa từng có. Tuy nhiên thầy lại gặp cơ duyên không ngờ tới, khi mà lần lượt những chủ đất xung quanh vùng đã đồng ý bán lại cho thầy các mảnh đất. Dần dần tích tiểu thành đại, diện tích đất để xây dựng nên ngôi chùa Việt đầu tiên ở Ấn Độ đã lên đến 30.000 m2.

thích huyền diệu

Vì thầy Thích Huyền Diệu là người nước ngoài đầu tiên được phép cấp đất xây chùa tại nơi đức Phật đản sinh. Do đó mà vào năm 1993, vua Nepal đã cho một chiếc máy bay đặc biệt đưa thầy xuống tận vùng Lumbini để chọn đất nhằm xây nên ngôi chùa thứ 2. Ngồi trên máy bay lựa chọn kỹ lưỡng, thế nhưng khi đứng trước khu đất, thầy lại cảm thấy thất vọng não nề. Đó là bởi vùng đất khi đó là một vũng trùng sình lầy và toàn ao hồ, điều này sẽ khiến cho việc xây dựng chùa trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Khi này trong túi của thầy chỉ còn đúng 60 USD, không đủ để mua sắm thứ gì quá to tát.

Không ngại gian khó, thầy Thích Huyền Diệu đã tự tay bẻ sắt, đúc móng làm chùa rồi tự tay trồng những bông sen, bông súng, tự tay đóng những vật dụng sinh hoạt trong chùa. Thầy lấy sự giản dị, đơn sơ làm điều an vui cho cuộc đời mình. Chính sự giản dị ấy đã làm nên linh hồn cho ngôi chùa An Việt Nam Phật Quốc Tự thứ 2 giữa muôn vàn kiến trúc chùa chiền khác nhau tại thánh địa Lumbini.

Năm 2002, tại Nepal diễn ra vụ thảm sát hoàng gia, điều đó khiến cho đất nước này lâm vào cuộc nội chiến triền miên. Và khi chiến tranh Nepal nổ ra, trong lòng của thầy Thích Huyền Diệu đã hình thành nên một tình yêu cao cả, giúp thầy thực hiện một sứ mệnh vĩ đại nhằm góp phần chấm dứt cuộc nội chiến đẫm máu khiến hơn 14.000 người thiệt mạng.

Năm 2005, Thầy Thích Huyền Diệu đã gửi thư cho nhà Vua Nepal cùng ban lãnh đạo các đảng phái chính trị khác nhau, đề nghị kiến lập hòa bình cho khu vực Lumbini nói riêng và toàn bộ đất nước Nepal nói chung. Lá thư tâm huyết của thầy đã có một tiếng vang vô cùng lớn trong dư luận. Điều này một lần nữa đã giúp hình ảnh của Việt Nam được đề cao trong giới Phật giáo quốc tế. 

Về sau này, khi cuộc nội chiến ở Nepal kết thúc, thầy Thích Huyền Diệu đã được quốc gia này đề cử nhận giải Nobel vì Hòa bình. Thế nhưng thầy đã từ chối, với mong muốn được an bình nhằm có thể góp phần xây dựng và giới thiệu cho bạn bè gần xa biết đến ngôi chùa của người Việt nhiều hơn nữa.

thích huyền diệu

Một số chức vụ, thành tựu mà thầy Thích Huyền Diệu đã trải qua

– Nguyên chủ nhiệm tờ Nhật báo Gió Nam (nhưng chỉ một năm sau do tố cáo tội ác Mỹ Sơn, Mỹ Lai trước toà án Hoa Kỳ, phiên xử 21-12-1969 ủy quyền cho luật sư Paul Martin King đại diện quyền lợi nạn nhân bị đình bản).

– Tiến sĩ khoa thần học tại Đại học Sorbonne, Pháp.

– Khai sơn và trụ trì Việt Nam Phật Quốc tự, Ấn Độ.

– Khai sơn và trụ trì Việt Nam Phật Quốc tự, Lumbini (Lâm Tỳ Ni), Nepal

–  Chủ tịch Liên đoàn Phật giáo quốc tế Lâm Tỳ Ni.

– Từng được Nepal đề cử giải Nobel Hòa bình nhưng thầy Thích Huyền Diệu đã từ chối.

– Người khởi xướng đầu tiên, kêu gọi cộng đồng Phật giáo thế giới, khôi phục các thánh tích Phật giáo tại Nepal và Ấn Độ.

– Người có công đầu trong việc thuyết phục phe du kích quân Maoist và chính phủ Nepal ngồi vào bàn đàm phán, ký kết hiệp ước hòa bình, chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài 10 năm, làm hơn 14.000 người thiệt mạng.

Đăng bởi: Phật Giáo Việt Nam

Chuyên mục: Nghiên cứu

Xem thêm Tiểu sử thầy Thích Huyền Diệu là ai? Người từ chối nhận giải Nobel vì Hòa Bình

Thượng tọa, sư thầy Thích Huyền Diệu là cái tên không hề xa lạ trong giới Tăng lữ hiện nay, được rất nhiều người biết đến. Ngài là người khởi công xây dựng ngôi chùa Việt Nam Phật Quốc Tự trên xứ người, có nhiều đóng góp to lớn cho nền Phật giáo Việt Nam. 

Tiểu sử sư Thầy Thích Huyền Diệu là ai?

thích huyền diệu

Thượng tọa, hòa thượng Thích Huyền Diệu có tục danh là Lâm Trung Quốc, ngài sinh năm 1946, tại Ba Tri, thuộc tỉnh Bến Tre ngày nay. Thầy sinh ra trong một gia đình nghèo ở tỉnh Bến Tre, ngay từ thời còn niên thiếu, thầy Thích Huyền Diệu đã xuất gia tu học với trưởng lão Hòa thượng Thích Hoằng Nhơn ở chùa Mai Sơn, Tịnh Biên (thuộc tỉnh An Giang). Đây chính là cơ duyên đã giúp thay đổi hoàn toàn cuộc đời của thầy về sau này.

Quá trình hoạt động và đạo nghiệp của thầy Thích Huyền Diệu

Năm 1969, khi thầy vẫn còn đang là sinh viên theo học tại Đại học Nantes và Sorbonne của Pháp, thầy Thích Huyền Diệu đặt chân đến Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ. Quỳ dưới Kim Cang tọa, trong lòng thầy bỗng trào dâng một niềm xúc động vô bờ, bởi ước nguyện của cuộc đời thầy dường như đã thành sự thật. Khi được chứng kiến các ngôi chùa của các nước phát triển hiện hữu trên thánh địa Phật giáo, thầy không khỏi chạnh lòng khi chưa thấy được ngôi chùa của Việt Nam xuất hiện tại đây. Mặc dù đạo Phật đã đến Việt Nam trên 2.000 năm.

Dành dụm từng đồng tiền mà thầy kiếm được khi đi dạy học và nhận được sự ủng hộ tích cực của các học trò Âu – Mỹ. Vào năm 1987, trải qua bao khó khăn trắc trở, thầy Thích Huyền Diệu đã mua được miếng đất chỉ rộng vẻn vẹn 450m2, trong khi ngôi chùa của các nước khác rộng đến hàng ngàn mét do nhận được sự hỗ trợ rất lớn của Chính phủ các nước.

Việt Nam vào những năm đầu của thập niên 80, tình hình trong nước sau 2 cuộc chiến tranh vẫn còn rất đói nghèo. Phật giáo vào giai đoạn này chưa được chấn hưng, cộng đồng người Việt ở Bồ Đề Đạo Tràng Ấn Độ khi đó chỉ có một mình thầy Thích Huyền Diệu, cho nên việc xây chùa gặp phải tình trạng khó khăn chưa từng có. Tuy nhiên thầy lại gặp cơ duyên không ngờ tới, khi mà lần lượt những chủ đất xung quanh vùng đã đồng ý bán lại cho thầy các mảnh đất. Dần dần tích tiểu thành đại, diện tích đất để xây dựng nên ngôi chùa Việt đầu tiên ở Ấn Độ đã lên đến 30.000 m2.

thích huyền diệu

Vì thầy Thích Huyền Diệu là người nước ngoài đầu tiên được phép cấp đất xây chùa tại nơi đức Phật đản sinh. Do đó mà vào năm 1993, vua Nepal đã cho một chiếc máy bay đặc biệt đưa thầy xuống tận vùng Lumbini để chọn đất nhằm xây nên ngôi chùa thứ 2. Ngồi trên máy bay lựa chọn kỹ lưỡng, thế nhưng khi đứng trước khu đất, thầy lại cảm thấy thất vọng não nề. Đó là bởi vùng đất khi đó là một vũng trùng sình lầy và toàn ao hồ, điều này sẽ khiến cho việc xây dựng chùa trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Khi này trong túi của thầy chỉ còn đúng 60 USD, không đủ để mua sắm thứ gì quá to tát.

Không ngại gian khó, thầy Thích Huyền Diệu đã tự tay bẻ sắt, đúc móng làm chùa rồi tự tay trồng những bông sen, bông súng, tự tay đóng những vật dụng sinh hoạt trong chùa. Thầy lấy sự giản dị, đơn sơ làm điều an vui cho cuộc đời mình. Chính sự giản dị ấy đã làm nên linh hồn cho ngôi chùa An Việt Nam Phật Quốc Tự thứ 2 giữa muôn vàn kiến trúc chùa chiền khác nhau tại thánh địa Lumbini.

Năm 2002, tại Nepal diễn ra vụ thảm sát hoàng gia, điều đó khiến cho đất nước này lâm vào cuộc nội chiến triền miên. Và khi chiến tranh Nepal nổ ra, trong lòng của thầy Thích Huyền Diệu đã hình thành nên một tình yêu cao cả, giúp thầy thực hiện một sứ mệnh vĩ đại nhằm góp phần chấm dứt cuộc nội chiến đẫm máu khiến hơn 14.000 người thiệt mạng.

Năm 2005, Thầy Thích Huyền Diệu đã gửi thư cho nhà Vua Nepal cùng ban lãnh đạo các đảng phái chính trị khác nhau, đề nghị kiến lập hòa bình cho khu vực Lumbini nói riêng và toàn bộ đất nước Nepal nói chung. Lá thư tâm huyết của thầy đã có một tiếng vang vô cùng lớn trong dư luận. Điều này một lần nữa đã giúp hình ảnh của Việt Nam được đề cao trong giới Phật giáo quốc tế. 

Về sau này, khi cuộc nội chiến ở Nepal kết thúc, thầy Thích Huyền Diệu đã được quốc gia này đề cử nhận giải Nobel vì Hòa bình. Thế nhưng thầy đã từ chối, với mong muốn được an bình nhằm có thể góp phần xây dựng và giới thiệu cho bạn bè gần xa biết đến ngôi chùa của người Việt nhiều hơn nữa.

thích huyền diệu

Một số chức vụ, thành tựu mà thầy Thích Huyền Diệu đã trải qua

– Nguyên chủ nhiệm tờ Nhật báo Gió Nam (nhưng chỉ một năm sau do tố cáo tội ác Mỹ Sơn, Mỹ Lai trước toà án Hoa Kỳ, phiên xử 21-12-1969 ủy quyền cho luật sư Paul Martin King đại diện quyền lợi nạn nhân bị đình bản).

– Tiến sĩ khoa thần học tại Đại học Sorbonne, Pháp.

– Khai sơn và trụ trì Việt Nam Phật Quốc tự, Ấn Độ.

– Khai sơn và trụ trì Việt Nam Phật Quốc tự, Lumbini (Lâm Tỳ Ni), Nepal

–  Chủ tịch Liên đoàn Phật giáo quốc tế Lâm Tỳ Ni.

– Từng được Nepal đề cử giải Nobel Hòa bình nhưng thầy Thích Huyền Diệu đã từ chối.

– Người khởi xướng đầu tiên, kêu gọi cộng đồng Phật giáo thế giới, khôi phục các thánh tích Phật giáo tại Nepal và Ấn Độ.

– Người có công đầu trong việc thuyết phục phe du kích quân Maoist và chính phủ Nepal ngồi vào bàn đàm phán, ký kết hiệp ước hòa bình, chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài 10 năm, làm hơn 14.000 người thiệt mạng.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button