Một cái nhìn về Tổ sư thiền

I. Tổ sư thiền

Tổ sư thiền còn có tên là thiền Nhất thừa[1], thiền Tối thượng thừa[2].

Sự xuất hiện của Tổ sư thiền được chư Tổ gắn với sự tích “Niêm hoa vi tiếu” như sau:

Một hôm đức Phật lên tòa thuyết pháp. Trái vớithông lệ, hôm nay đức Phật lên tòa mà không nói lời nào, chỉ cầm cành hoa đưa lên (niêm hoa). Đại chúng ngơ ngác không hiểu ý Phật, chỉ riêng ngài Ca-diếp là mĩm cười (vi tiếu). Đức Phật liền nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, nay trao truyền cho ngươi”. Nói rồi, đức Phật nhường nửa tòa ngồi cho ngài Ca-diếp. Do đây, ngài Ca-diếp được tôn là Tổ thứ nhất của Tổ sư thiền[3].

Sau khi xuất hiện, Tổ sư thiền được trao truyền tiếp nối qua các vị Tổ sư. Tổ thứ 28 ở Ấn độ là Bồ-đề Đạt-ma. Tổ Đạt-ma mang pháp thiền này truyền bá sang Trung Hoa và trở thành Sơ tổ của Tổ sư thiềnTrung Hoa. Sự xuất hiện của Tổ sư thiền ở Trung Hoa được gắn liền với 4 câu kệ: 

Bất lập văn tự

Giáo ngoại biệt truyền

Trực chỉ nhân tâm

Kiến tánh thành Phật.

Dịch :

Không lập văn tự

Truyền riêng ngoài giáo

Chỉ thẳng tâm người

Thấy tánh thành Phật

Sự tích “Niêm hoa vi tiếu” cùng với 4 câu kệ trên đều nhằm làm rõ ý chỉ của Tổ sư thiền.

Trong sự tích “Niêm hoa vi tiếu”, khi đức Phật đưa cành hoa lên, nếu có thể như ngài Ca-diếp ngay đó nhận ra (đốn ngộ) thì không cần nói thêm một lời nào nữa mà mọi việc hoàn toàn sáng tỏ. Lại nữa, nếu dùng ngôn từ để diễn tả thì không một lời nào thích hợp, vì đây là chỗ “đường ngôn ngữ dứt, bặt dấu tâm hành”[4].

Vì chưa được như ngài Ca-diếp, chúng ta vẫn còn ngơ ngác như Đại chúng trong pháp hội, nên ở đây tạm lấy ngôn từ làm phương tiện, nói rõ hơn ý chỉ của Tổ sư thiền, giúp người có duyên tăng trưởngniềm tin với Tổ sư thiền, giúp người chưa ngộ nắm rõ phương cách tu hành.

Vì Niết-bàn là chỗ cứu kính của người học Phật, nên khi đức Phật nói truyền trao “Niết- bàn diệu tâm”[5] là nhằm chỉ cho Đại chúng thấy rằng, ngài Ca-diếp đã thấu đến chỗ cứu kính, đã thấy như chư Phật thấy[6] và ngài cụ thể hóa điều này bằng cách nhường nửa tòa ngồi cho ngài Ca-diếp.

Việc lên tòa thuyết giảng mà không nói lời nào, là nhằm chỉ rằng chỗ Ngài chỉ dạy vốn vô ngôn. Niết-bàn diệu tâm vốn vô tướng[7] nên không lời có thể nói. Tâm vô tướng ấy mới thấu được thực tướng vô tướng của tất cả pháp. Dù không lời có thể nói, tâm ấy luôn đầy đủ, không hề thiếu vắng nơi mỗi chúng sinh, nên ngài Ca-diếp mới nhận ra (ngộ). Và chúng ta, ai cũng có khả năng nhận ra.

Dù không lời có thể nói, nhưng mọi động tác như thấy, nghe… đều là dụng của tâm ấy, nên việc đưa cành hoa lên cũng có thể là phương tiện khai ngộ cho người. Việc mĩm cười cũng hiển bày sự tỏ ngộ của ngài Ca-diếp, nên đức Phật mới ấn chứng.

Đây chúng ta cần lưu ý, cái ngộ của ngài Ca-diếp không ở nơi cánh tay cầm hoa đưa lên. Vì vậy tìm hiểu ý nghĩa của việc đưa cành hoa lên không dính gì đến thực nghĩa của “Niêm hoa vi tiếu”. Cũng không phải việc thấy được cành hoa đưa lên là ngộ. Vì toàn thể đại chúng ai cũng thấy mà chỉ riêng ngài Ca-diếp được ấn chứng. Nhưng cũng không ngoài cái thấy đó mà ngộ. Đối với nhiều người, đây là chỗ khó tin, khó hiểu của Tổ sư thiền, nên việc xuất hiện 4 câu kệ nhằm làm rõ hơn ý chỉ của Tổ sư thiền, tạo thêm phương tiện cho người tu hành.

Không lập văn tự, vì đây là chỗ văn tự không thể nói đến.

Truyền riêng ngoài giáo, vì giáo lý là văn tự. Đối với chỗ này, giáo lý được ví như ngón tay chỉ mặt trăng, không phải là chính mặt trăng (kinh Lăng Nghiêm). Người tu theo Tổ sư thiền, khi chưa ngộ thì nương theo ngón tay (giáo lý) để nhận ra mặt trăng (ngộ), không được xem giáo lý là mặt trăng, không xem việc hiểu được kinh luận là đã đạt đến chỗ cứu kính.

Giáo lý Tam thừa vốn được phát ra từ tâm Phật, nên mỗi mỗi đều có khả năng khai ngộ cho người. Nếu tu học theo Tiểu thừa mà ngộ thì Tiểu thừa là Nhất thừa. Trung thừa, Đại thừa cũng vậy. Tóm lại, nếu ngộ thì Tam thừa là Nhất thừa. Nếu chưa ngộ mà y cứ vào kinh để tu học và giáo hóa người sẽ làm an định cõi Nhân Thiên, giúp mình và người tiến dần lên các cấp bậc hiền thánh, hướng về phía giác ngộgiải thoát. Rõ ràng, việc y cứ vào kinh để tu học đem đến lợi ích vô cùng to lớn cho chúng sinh. Mặc dù thế, đối với người có chí nguyện “siêu phàm vượt thánh”, muốn thẳng đến chỗ cứu kính, phải xem kinh là phương tiện thì mới ngộ nhập được chỗ cứu kính. Ngộ nhập rồi mới thấy thánh, phàm, hiền, dữ, ngu, trí… đều là tướng dụng phát ra từ tâm thể, nên có thể tùy theo tâm ý của chúng sinh hóa hiện thân phàm, thân thánh, thân hiền, thân dữ… để độ chúng sinh.           

Chỉ thẳng tâm người, là chỉ cho mọi người thấy rằng tâm xưa nay vốn trong lặng. Kinh Pháp Hoa gọi tâm là diệu pháp. Thiền sư Minh Chánh, trong bài “Tổng nêu pháp dụ và đề mục kinh Pháp Hoa”[8] đã viết: “Diệu pháp chỉ cho thật pháp. Pháp tức là tâm, xưa nay trong sạch. Tâm ấy không sinh không diệt, không sạch không nhơ, không thêm không bớt... nơi phiền não mà không loạn động, trụ trần lao mà không nhiễm ô, nên nói tâm xưa nay trong sạch”.

Đến đây hẳn chúng ta sẽ hỏi nếu tâm xưa nay thường thanh tịnh, vì sao không ai thấy tâm mình thanh tịnh?

Thực tế trong tâm chúng ta luôn xuất hiện nhiều ý niệm. Niệm vui, niệm buồn, niệm đúng niệm sai, niệm về sự vật này, niệm về sự vật kia. Niệm này xuất hiện rồi biến mất nhường chỗ cho niệm khác xuất hiện, cứ thế nối tiếp nhau không ngừng nghỉ, tạo ra dòng tâm thức trên tâm mỗi người. Các ý niệm ấy, vốn là tướng huyễn hóa của tâm, vốn không. Do tác động của vô minh mà từ vô thủy, chúng ta đã cho rằng các ý niệm ấy là ta, của ta. Nên có ta buồn, ta vui… ta suy tư. Sự xuất hiện cái ta (chấp ngã) đã làm cho các ý niệm vốn hư giả trở thành như thật. Và ai cũng thấy buồn vui thương ghét xuất hiện nơi mình là thật có. Chính điều này đã làm cho các tưởng niệm có tác dụng che đậy (ấm) tâm, khiến chúng ta không còn thấy tâm thanh tịnh. Nếu chúng ta không chấp nhận các ý niệm ấy là thật, thường quay lại quán xét các niệm (phản quan tự kỷ), sẽ phá được cái chấp cho các niệm là thật có, thấy được sự huyễn hóa của niệm. Niệm không còn che đậy được tâm. Thấy tâm thường thanh tịnh.

Ở đây chúng ta cần lưu ý. Không phải chỉ khi diệt hết niệm, tâm mới trong lặng. Nếu thấy được sự huyễn hóa của niệm thì dù niệm đang hiện tiền, tâm vẫn trong lặng.

Nói cách khác, do chúng ta đang lầm nhận thức là tâm, quên mất tâm tánh, nên thấy tâm không trong lặng. Nếu ngộ tâm tánh thì thấy thức là dụng của tâm, tướng thức vốn tự không lặng, tâm xưa naythường trong lặng. Cũng trong bài “Tổng nêu pháp dụ và đề mục kinh Pháp Hoa”, thiền sư Minh Chánh còn viết: “Tâm này là bản nguyên của chư Phật, là Phật tánh của chúng sinh. Tròn đồng thái hư, lớn không bờ mé, linh linh lặng lặng, phô bày xưa nay, tức không, tức sắc, không thể dùng tâm thức suy lường mà biết được”.

Là chỗ vốn không lời, lại không thể dùng tâm thức suy lường mà biết được thì làm sao để chỉ bày? Sự chỉ bày của thiền sư (khai ngộ) phải làm sao để người đệ tử không được dùng tâm thức suy lường của mình mà hiểu. Vì sự suy lường và hiểu biết có tác dụng che đẩy tâm khiến ngộ không xuất hiện. Sự chỉ bày phải làm sao để người hỏi đạo tức thời trực tiếp nhận ra tâm (đốn ngộ). Vì làm cho người trực nhậntâm nên nói “Chỉ thẳng tâm người”. Vì tâm này là Phật tánh của chúng sinh, nên ngộ tâm cũng gọi là ngộ tánh, là thấy tánh. Thấy tánh rồi y cứ vào đó mà tu, là nhân tu để thành tựu quả Phật, nên nói “Thấy tánh thành Phật”.

 II. Tổ sư thiền với phương thức khai ngộ            

Các thiền sư thường sử dụng nhiều cách thức khác nhau để khai ngộ cho người. Ở đây lược nêu hai phương thức thường được sử dụng.

1/ Cắt đứt dòng tâm thức

1. Dùng động tác: Người thầy tạo ra một tác động nhằm cắt đứt dòng tâm thức đang vận hành trên tâm người hỏi đạo. Làm được điều này, thức tạm thời ngưng nghỉ, tâm tạm thời không bị che đậy, nếu người hỏi đạo có căn tánh phù hợp thì ngộ xuất hiện.

Để thực hiện phương thức này, các thiền sư có những hành động có vẻ kỳ lạ như đánh, hét… hoặc cực đoan hơn là đạp mạnh hay chèn nát chân người đệ tử.

* Thiền sư Đức Sơn hay đánh. Câu nói nổi tiếng của ngài: “Nói không được đánh 30 gậy. Nói được đánh 30 gậy”.

* Lâm Tế hay hét. Một tiếng hét xé nát càn khôn, khiến người tự ngộ.

* Hòa thượng Thủy Lão ở Hồng Châu cả đời nghiêm trì giới luật rất tinh tấn nhưng vẫn chưa ngộ, nên tìm đến Mã Tổ tham học. Trước Mã Tổ, Thủy Lão đứng chấp tay thưa hỏi:

- Ý Tổ sư sang Đông là gì?

Mã Tổ nói:

- Ngươi lại gần đây vái lạy đi.

Thủy lão đến gần quì xuống lạy, Mã Tổ liền tống cho một đạp thật mạnh, té lăn cù ra đất, và … đại ngộ. Thủy Lão lồm cồm bò dậy, vỗ tay cười lớn nói:

- Lạ thật! Lạ thật! Trăm ngàn tam muội, vô lượng diệu nghĩa chỉ ở trên đầu một sợi lông mà hiểu rõ căn nguyên.

Nói rồi vái lạy lui ra.

Về sau Thủy Lão thường bảo chúng:

- Ta từ buổi bị Mã đại sư đạp cho một đạp, đến nay cười mãi không thôi.

* Sư Văn Yển đến tham vấn ngài Trần Tôn Túc. Thấy Sư đến Tôn Túc đóng cửa. Sư gỏ cửa. Tôn Túchỏi:

- Ai?

Sư thưa:

- Con.

Tôn Túc hỏi:

- Làm gì?

Sư thưa:

- Việc mình chưa sáng xin Thầy chỉ dạy.

Tôn Túc mở cửa ra, thấy Sư liền đóng lại. Cứ như thế liên tiếp ba ngày. Ngày thứ ba, Tôn Túc mở cửa ra, Sư liền chen chân vào, Tôn Túc nắm áo Sư bảo:

- Nói, nói…              

Sư suy nghĩ. Tôn Túc liền xô ra nói:

- Đời Tần dùi xoay lâu.

Nói rồi đóng mạnh cửa, làm dập nát chân Sư. Sư đau thấu xương và ngộ.

2. Dùng ngôn từ:

Trong trường hợp dùng ngôn từ để trả lời câu hỏi của người học đạo, nhiều khi câu trả lời nghe như lạc đề, không dính gì đến câu hỏi.

Một Tăng hỏi Hòa thượng Đông Sơn:

- Phật là gì?

Sư đáp:

- Ba cân mè.

Cũng có trường hợp câu trả lời nghe rất ngược ngạo, trái với lẽ thường, người không hiểu tưởng là phỉ báng.

Một Tăng đến hỏi thiền sư Vân Môn:

- Phật là gi?

Sư đáp:

- Que chùi đít (càn thỉ quyết).

Ở đây chúng ta cần lưu ý, việc sử dụng phương cách nào, đối với ai, vào lúc nào … là sự cảm ứng của người thầy với căn cơ người đệ tử, không phải là một hành vi tùy tiện, cũng không lặp đi lặp lại một cách sáo rỗng. Nhiều người không hiểu, bắt chước theo các thiền sư một cách bừa bãi, khiến cho các hành động hay lời nói vốn có tác động cao quí, là khai ngộ cho người, trở thành những hành vi thô lỗdung tục.

2/ Ngay dụng nhận thể

Do sự thấy, nghe, cử động… là dụng của tâm. Do dụng không lìa thể nên có thể ngay nơi dụng mà nhận thể. Với phương thức này, các ngài có thể dùng những hành động bình thường để khai ngộ cho người, như Phật đưa cành hoa lên, ngài Câu-chi đưa một ngón tay v.v… Sự khai ngộ theo phương thức này có vẻ bình thường, không lạ lùng.

Một ông tăng hỏi thiền sư Triệu Châu:

- Tôi mới vào chùa mong ngài chỉ dạy.

Sư hỏi:

- Ăn cháo chưa?

Tăng đáp:

- Ăn cháo rồi.

Sư nói:

- Rửa bát đi.

Tăng liền ngộ.     

Câu chuyện dưới đây cho chúng ta một cái nhìn bao quát hơn về sự khai ngộ của các thiền sư.

Ngài Sùng Tín ở Long Đàm thưa với thiền sư Đạo Ngộ:

- Từ ngày con vào đây đến giờ chưa được Thầy chỉ dạy tâm yếu.

Đạo Ngộ đáp:

- Từ ngày ngươi tới đây, ta chưa từng chẳng chỉ dạy ngươi tâm yếu.

Sùng Tín hỏi:

- Chỉ dạy chỗ nào?

Đạo Ngộ nói:

- Ngươi dâng trà lên, ta vì ngươi mà tiếp. Ngươi bưng cơm lên, ta vì ngươi mà nhận. Ngươi xá lui ra, ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu.

Ngài Sùng Tín cúi đầu yên lặng giây lâu.

Đạo Ngộ bảo:

- Thấy thì thẳng đấy liền thấy, suy nghĩ liền sai.

Ngay câu nói này, Sùng Tín được khai ngộ.

III. Tổ sư thiền trong giáo lý nhà Phật.    

Với chủ trương không lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo, cùng với những hành động lời nói có vẻ lạ lùng ngược ngạo, khiến một số người cho rằng Tổ sư thiền là một thứ “quái thai” trong Phật giáo, không thuộc Phật pháp. Nói như vậy vì họ chưa hiểu được ý nghĩa các lời nói và hành động của chư vị thiền sư, cũng thiếu nghiên cứu đầy đủ về kinh điển, đặc biệt là các kinh Đại thừa liễu nghĩa.

Qua các diễn giải nói trên, chúng ta thấy các hành động và lời nói của chư thiền sư trong một số trường hợp nhằm tạo ra tác động loại bỏ sự che đậy của thức. Khi tâm không bị thức che đậy, ngộ xuất hiện. Hiểu như thế, chúng ta dễ dàng nhận ra sự tương hợp giữa Tổ sư thiền và giáo lý năm uẩn.

Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành và thức uẩn. Năm uẩn là những thành phần tạo nên một chúng sinhhữu tình nói chung, tạo nên một con người nói riêng. Nói một cách gần gũi và dễ hiểu (dù chưa đầy đủ) thì năm uẩn là thân tâm của mỗi người. Trong đó sắc là phần thân xác, thọ, tưởng, hành, thức là phần vô sắc thuộc về tâm.

Vốn bàng bạc khắp các kinh điển nhà Phật, giáo lý năm uẩn nói rằng: Chơn tánh (tâm tánh) của chúng ta đang bị năm uẩn che đậy, nên giác ngộ không xuất hiện. Nếu loại trừ được sự che đậy này, giác ngộxuất hiện. Do có tác động che đậy chơn tánh mà năm uẩn còn được gọi là năm ấm (uẩn là tích tụ, ấm là che đậy).

Do đâu mà năm uẩn biến thành năm ấm?

Ấm xuất hiện khi trong tâm có sự chấp thủ. Chấp thủ có nghĩa là nắm giữ. Tâm có sự chấp thủ, gọi là tâm chúng sinh, vì nó làm phát sinh nhiều cái thấy biết sai khác. Có rất nhiều thứ để chấp thủ, nhưng có thể qui tất cả vào hai loại là chấp ngã và chấp pháp.

Chấp ngã là cho rằng ta là chủ thể của năm ấm, tức cho ta là chủ thể của thân tâm mình, ta là thực có. Nếu cho hoàn toàn không có ngã cũng gọi là chấp ngã.

Chấp pháp là cho rằng pháp là thực có. Nếu cho hoàn toàn không có pháp cũng gọi là chấp pháp.

Ngã và pháp vốn không có cũng không không, nên khi cho rằng ngã và pháp là có hay là không đều gọi là chấp thủ.

Với những người bình thường như chúng ta, ai cũng còn chấp ngã chấp pháp, nên năm uẩn cũng là năm ấm.

Tổ Vĩnh Gia, tác giả cuốn Chứng đạo ca, nói: “Biết rõ trong một niệm có đủ năm ấm. Rành mạch phân minh là thức ấm. Thu lãnh nơi tâm là thọ ấm. Tâm duyên theo lý là tưởng ấm. Hành dụng theo lý là hành ấm. Làm dơ chơn tánh là sắc ấm. Năm ấm này toàn thể là một niệm. Một niệm khởi lên toàn thể là năm ấm. Rõ biết trong một niệm không có gì là chủ thể, là huệ nhân không. Thấy như huyễn hóa, là huệ pháp không”. Năm ấm là nội dung của niệm, nên niệm nào cũng có tác động che đậy tâm. Hiện nay trong tâm mỗi người, niệm niệm sinh diệt tiếp nối không dừng nghỉ, nên tâm luôn bị che đậy. Một trong những phương cách loại trừ sự che đậy này là diệt niệm. Diệt niệm là diệt thức. Đây là lý do để các kinh, đặc biệt là các kinh Tiểu thừa, thường nhấn mạnh đến việc diệt thức để đạt được giác ngộ. Đây cũng là chỗ tương hợp giữa Tổ sư thiền và giáo lý. Vì một trong các phương thức khai ngộ của thiền sưlà tạo ra một tác động cắt đứt dòng tâm thức, tương đương với việc diệt thức, tạo điều kiện cho ngộ xuất hiện.

Chỗ khác nhau giữa Tổ sư thiền và giáo lý Nguyên thủy là trong kinh thường chủ trương việc tiêu trừnăm ấm, dần diễn ra theo thứ lớp (tiệm tu), tâm dần sáng (tiệm ngộ). Tổ sư thiền dù không bỏ qua phần tiệm tu, nhưng lại chủ trương ngộ tức thời xuất hiện (tiệm tu đốn ngộ) hoặc chủ trương vọng niệm chóng trừ, ngộ tức thời xuất hiện (đốn tu đốn ngộ) hoặc chủ trương đốn ngộ tiệm tu (kiến tánh khởi tu). Trong cuốn Đốn ngộ nhập đạo yếu môn, thiền sư Huệ Hải viết: “Thế nào là đốn ngộ? Đốn là chóng trừ vọng niệm. Ngộ là ngộ chỗ không được”.  

Chúng ta có thể nhận ra một cách tổng quát hai chủ trương đốn tiệm qua hai bài kệ, một là của Tổ sưThần Tú đại diện cho tiệm môn, một là của Tổ sư Huệ Năng đại diện cho đốn môn.

Kệ của ngài Thần Tú                      

Thân là cây Bồ-đề                        

Tâm như đài gương sáng              

Luôn luôn phải lau chùi                          

Chớ để dính bụi bậm          

Kệ của ngài Huệ Năng

Bồ-đề vốn không cây

Gương sáng cũng chẳng đài

Xưa nay không một vật

Chỗ nào dính bụi bậm

Bài kệ của ngài Thần Tú nói rằng, nếu tinh tấn tu hành thì thân năm uẩn là nơi để cây bồ-đề lớn mạnh. Gương tâm vốn sáng nhưng không phát sáng vì thường bị các niệm tưởng (dụ như bụi) che bám. Vì thế phải thường xuyên công phu, tiêu trừ các niệm tưởng (dụ như phủi bụi) để gương tâm thường sáng, trí Bồ-đề tăng trưởng.

Bài kệ của ngài Huệ Năng nói lên tinh thần đốn giáo[9]. Bồ-đề không lớn không nhỏ nên không thể dùng cây để dụ. Tâm vốn vô tướng không thể dùng gương để dụ. Tâm xưa nay vốn không là vật thì bụi bám vào đâu? Tâm xưa nay vẫn thế đâu cần phải nhọc công lau chùi.

Sẵn đây, chúng ta làm rõ hai câu cuối của đoạn văn trên.

- “Rõ ràng trong một niệm không có gì làm chủ tể, là huệ nhân không”. Thấy trong một niệm (tức năm ấm) không có chủ tể là trí tuệ thân chứng ngã không.

- “Rõ ràng thấy như huyễn hóa là huệ pháp không”. Thấy niệm như huyễn hóa là trí tuệ thân chứngpháp không.

Nếu trong tâm còn chấp đủ ngã pháp – đây là trường hợp của chúng ta – thì năm ấm là hữu lậu, vì có khả năng lôi chúng sinh vào trong tam giới, luân hồi trong tam giới, chịu cái khổ Phần đoạn sinh tử.

Nếu trong tâm chỉ còn chấp pháp, không còn chấp ngã – Đây là trường hợp của chư vị Nhị thừa đã chứng thánh quả – thì năm ấm là vô lậu, vì không còn khả năng lôi chúng sinh vào trong tam giới, không phải lãnh thọ thân Phân đoạn sinh tử, trừ trường hợp phát nguyện thọ thân Phần đoạn để độ sinh (Đây là trường hợp của chư vị Nhị thừa đã chứng thánh quả hồi tâm về Đại thừa).

Trên đây chỉ mới nói lên sự tương hợp giữa Tổ sư thiền và kinh điển một cách sơ lược. Muốn nhận rasự tương hợp một cách đầy đủ và chi tiết, chúng ta cần tìm đến các kinh Đại thừa liễu nghĩa như Hoa nghiêm, Pháp hoa, Lăng nghiêm, Đại bát Niết-bàn, Lăng-già, Thắng-man, Viên giác...

Cụ thể như kinh Lăng nghiêm. Trong kinh, Phật chỉ cho ngài A-nan, đại diện cho chúng sinh, thấy thế nào là mê lầm, thế nào là chân tâm, thế nào là vọng tưởng và vọng thức, thế nào là đang lầm thức là tâm, thế nào là nghĩa căn bản của sinh diệt, thế nào là nghia căn bản của Niết-bàn không sinh không diệt, thế nào là thấy tánh, thế nào là tánh thấy (tánh của cái thấy). Chúng ta do đang mê lầm mà chịu sự luân chuyển, cái thấy biết trở thành hạn cuộc, các căn bị ngăn cách. Muốn thoát khỏi sự hạn cuộc, phá sự ngăn cách của các căn, thân chứng chỗ viên thông thì phải ngay nơi căn mà tu hành. Từ đó chỉ ra các phương pháp tu hành để ngộ chỗ viên thông. Trong kinh cũng chỉ cho chúng ta thấy sự che đậytánh Bồ-đề của năm ấm, từ cạn tới sâu, từ thô tới tế. Tóm lại, kinh Lăng nghiêm cho thấy sự tương hợpgiữ Tổ sư thiền và giáo lý một cách chi tiết, tinh tế. Nếu trích dẫn thì khá dài nên đây chỉ nói lược.

Việc tìm hiểu các kinh cho chúng ta thấy chỗ lập tông, lập giáo cùng pháp hành mà các Tổ sư đã chỉ dạy đều y kinh mà lập. Như pháp tham thoại đầu vốn y cứ vào pháp “Phản văn văn tự tánh” được nói trong kinh Lăng nghiêm mà lập ra.

Muốn nhìn thấy sự tương hợp giữa thiền và giáo một cách đầy đủ. Bạn đọc có thể tìm đọc tác phẩm Nguồn thiền của Đại sư Khuê Phong Tông Mật. Ngài Khuê Phong đã xếp tất cả các pháp mônthiền vào ba tông, xếp tất cả các kinh mà đức Bổn sư đã dạy vào ba loại giáo. Từ đó dễ dàng chỉ ra sự tương hợp giữa ba tông thiền với ba giáo.

Các dẫn giải trên muốn nói rằng Tổ sư thiền không hề lìa ngoài giáo lý mà riêng có, Tổ sư thiền là pháp trong Phật pháp.

IV. Tổ sư thiền với văn tự 

Hỏi : Tại sao với chủ trương “không lập văn tự” mà số luận và lục do chư vị thiền sư lập ra lại rất nhiều, nhiều hơn số kinh mà Phật đã nói? Phải chăng đây là một mâu thuẫn trong thiền Tổ sư?

Đáp : Thấy mâu thuẫn vì đã có sự lẫn lộn giữa phương tiện và cứu cánh. Nếu biện biệt một cách rõ rànggiữa phương tiện và cứu cánh, chúng ta sẽ thấy không có sự mâu thuẫn.

Mục tiêu của Tổ sư thiền là ngộ nhập Phật tâm[10], đây là chỗ không lời. Nếu thật ngộ thì nói tâm, nói Phật, nói ngộ đều dư thừa, còn dư thừa thì còn che đậy, còn che đậy thì chưa thật ngộ, đây là chỗ cứu kính. Y cứ vào đây để đề ra chủ trương “Không lập văn tự” là hoàn toàn phù hợp. Nhiệm vụ còn lại của các thiền sư là nhổ đinh tháo chốt, phá chấp cho người tự ngộ chớ không lập ra một pháp nào cả.

Trên thực tế, rất nhiều người khi đến với Tổ sư thiền, dù được thiền sư dùng nhiều cách “chỉ thẳng” vẫn không thể ngộ. Lúc này cần có phương tiện. Cõi này, ngôn từ là phương tiện rất hiệu quả. Đây là lý dođể các Tổ lập ra luận và lục.

Đối với những người đã ngộ, nếu nghiệp chướng nhẹ mỏng, có thể tu Nhất hạnh tam muội, thì tự họ có thể đảm đương lấy, không cần đến kinh kuận.

Đối với người chưa ngộ, luận và lục và nơi để họ nương tựa mà tu học, nhằm chuyển hóa tâm thức cho phù hợp với bản tâm, tạo điều kiện cho ngộ xuất hiện.

Đối với người dù đã ngộ, nhưng do nghiệp chướng sâu dày, chưa thể tu Nhất hạnh tam muội, chưa thể tự mình đảm đương lấy thì cần nương vào kinh luận mà tu hành để thể nhập. Đây là trường hợp “Đốn ngộ, tiệm tu”.

Kinh, là khuôn phép cho muôn đời nên lý phải hiển bày, thu nhiếp được nhiều căn cơ, trong nhiều đời.

Luận, thì nhắm vào việc độ thoát cho những căn cơ cụ thể, trong những vùng miền cụ thể. Vì thế, kinh thì mênh mang. Mênh mang thênh thang thì khó nương tựa, khó vận dụng. Luận vì cụ thể hợp cơ nên dễ nương tựa, dễ vận dụng. Vì thế dù ý luận không vượt ngoài ý kinh mà vẫn lập luận để lợi ích cho người đời.

Do tánh khá phổ quát của kinh nên có những bộ kinh rất dài, như kinh  Đại Bát-nhã Đại bửu tích Hoa nghiêm … Còn luận do nhắm vào các căn cơ cụ thể nên thường không dài. Vì người đời căn cơ mỗi mỗi sai khác, nên số luận và lục cần phải nhiều để thích ứng. Thế nên, số luận lục nhiều hơn số kinh là đều đương nhiên.      


 [1] Gọi là thiền Nhất thừa, vì pháp thiền này lấy nhất tâm làm thể và để phân biệt với thiền của Tam thừa (Thiền Tiểu thừa, Trung thừa và Đại thừa).

[2] Gọi là thiền Tối thượng thừa, vì pháp thiền này đưa hành giả đến quả vị cao nhất, là quả vị Phật.

[3] Liên Đăng Hội Yếu 1 (Vạn Tục 136, 221 thượng).

[4] Ngôn ngữ đạo đoạn. Tâm hành xứ diệt.

[5] Niết-bàn diệu tâm, còn gọi là Đại Niết-bàn, để phân biệt với Niết-bàn của chư vị Thanh văn. Niết bàncủa chư Thanh văn chưa được gọi là “diệu”.

[6] Đốn ngộ đồng chư Phật.

[7] Vô tướng là không tướng có cũng không tướng không, không tướng phàm không tướng thánh, không thường không đoạn…

[8] Pháp Hoa Đề Cương – Thiền sư Minh Chánh – HT. Nhật Quang dịch và chú. 

[9] Nói đủ là Đại thừa đốn giáo. Chư Tổ Trung Hoa phân giáo của Phật thành 5 loại: Tiểu thừa giáo, Đại thừa Thủy giáo, Đại thừa Chung giáo, Đại thừa Đốn giáo và Đại thừa Viên giáo.

[10] Phật tâm là Tri kiến Phật, tên khác của Niết-bàn diệu tâm.

TVHS

www.hoangphaphanoi.com
Từ khóa:
Ý kiến phản hồi


 Refresh

Các tin khác

Từ khóa tìm kiếm