Tử vi

Tiết 7: Luận Tật Ách

Tật chỉ bệnh tật, ách chỉ bất ngờ tai họa và lao ngục. v. v… Mệnh cung xem tai ách mang tính toàn diện, đặc biệt là việc sinh tử an nguy nhất định xem cung Mệnh. Việc phân tích tai họa bệnh tật quan trọng sẽ có luận thuật tỉ mỉ ở quyển hạ.

Cung Tật Ách luận bệnh tật, chỉ là tin tức của một phương diện mà không biết bệnh tật phát sinh nặng hay nhẹ, còn với bản cung và tam phương việc có hay không cát tinh, sự vượng suy của sao giải tai họa và sao đóng ở trong cung, ví dụ về hung cát tinh, hạn niên có quan hệ đến tình hình tăng tính khởi phát hung họa hay không. Trên mệnh bàn tiên thiên thì bệnh tật hiển thị chỉ là khuynh hướng bệnh tật mang tính bản chất, việc sẽ phát sinh hay không, còn cần xem hoàn cảnh tình hình khởi phát của tuế hạn. Ví dụ cung Tật Ách của mệnh cục gốc đã có sự ẩn tàng hung hiểm, cung Tật Ách của hạn niên lại gặp ác sát xung khắc, Hóa Kị dẫn động, sẽ dễ dàng gây nên bệnh tật; xem hạn niên, cũng lấy bản chất cung Tật Ách ở nguyên mệnh làm chủ, xem tổ hợp tinh diệu cung Tật Ách của Đại Tiểu hạn lưu niên, là mức độ tính chất bệnh tật tăng hay giảm nặng hay nhẹ, để định thời gian bệnh tật phát sinh.

★一、如何看疾病. Xem bệnh tật như thế nào

Bạn đang xem: Tiết 7: Luận Tật Ách

1, Xem sức khỏe và bệnh tật của con người, trước tiên cần xem xét sự miếu hãm và cát hung của các sao trong cung Mệnh ra sao, lại xem sự thiện ác, miếu hãm và cát hung của tinh diệu trong cung Tật Ách, và sự cát hung của cung Phụ Mẫu, để tiến hành tổng hợp phân tích luận đoán. Mệnh cung có cát tinh miếu vượng tọa thủ, tam phương tứ chính lại có nhiều cát tinh hội tụ mà không có hung tinh, cho dù cung Tật Ách nhiều hung tinh, thì cũng không thể cho rằng sức khỏe người này không tốt, hoặc dẫu có bệnh khí nhất thời cũng có thể nhanh chóng được chữa trị. Chủ tinh cung Mệnh thân thất hãm lại thêm ác diệu, tất có tai họa bệnh tật, nhưng các loại tai họa bệnh tật này bao gồm ở nhiều phương diện như sự nghiệp, tài vận, tai nạn bệnh tật, mà không nhất định chỉ là bệnh tật về thân thể, nếu như cung Tài Quan Di cát mà cung Tật Ách hung hoặc khi cung Tật Ách ở Hạn Niên hung là cuộc đời nhiều bệnh tật thương tai; Nếu như Tài Quan hung mà khi cung Tật Ách cát hoặc khi gặp cung Tài Quan ở Hạn Niên hung thì đa số sự nghiệp, tài vận sẽ xuất hiện vấn đề; Tuy nhiên, cho dù cung Tật Ách có cát tinh tọa thủ, cũng không thể cho rằng người này thân thể sức khỏe nhất định tốt, mà cần xem chủ tinh như thế nào mà định, có thể xem chương 8 và những luận thuật về bệnh tật có liên quan dưới đây. Người có Cung Mệnh cung Phúc tốt khi bị bệnh dễ có cứu, duy chỉ khi ở đại tiểu hanh gặp hung mới khó cứu.

Cung bệnh tật chủ yếu xem về bệnh lý, cung Phụ Mẫu xem về bệnh di truyền và phá tướng, cung Phúc Đức thì xem bệnh tâm lý (tâm bệnh), trạng thái tinh thần, cùng với chứng bệnh ảnh hưởng đến tinh thần và sự hưởng thụ, hung thì đa số dấy hiệu báo trước bệnh tật mang tính từ từ như tinh thần gặp trở ngại cùng với việc nó sẽ đi theo suốt cuộc đời

Mỗi một sao trong cung Tật Ách đại biểu cho một loại bệnh tật tai họa ẩn chứa bên trong, nhưng nên lấy chủ tinh làm bản chất chính cho bệnh tật, xem tổ hợp phụ tinh và chính tinh, là chứng bệnh mà chủ tinh đại biểu thêm mạnh hay yếu.

Tinh diệu trong Cung Tật ách, đặc biệt là tinh diệu thất hãm và Hóa Kị, đại biểu cho khí quan bạc nhược và nguồn bệnh tai họa ám tàng trong cơ thể. Chủ yếu từ ngũ hành âm dượng của tinh diệu mà cung nó tọa để tra ra tạng phủ tương ứng có bệnh và các loại bệnh tật khác. Ví dụ Tì Vị (lá lách và dạ dày) thuộc thổ, gan mật thuộc mộc, Phổi phủ tạng kinh thuộc kim, tim huyết quản thuộc hỏa, Thận và hệ thống tiết liệu thuộc thủy. Sự nặng nhẹ của bệnh tật, cần xem tình hình của Tứ Sát cùng thủ. Có Sát thì bệnh nặng, không có sát và tam phương có cát thì bệnh nhẹ. Nói chúng nếu thấy các tinh diệu như Sát Kị Hình Hao Hư là nhanh chóng có sự ứng nghiệm về bệnh tật, tức chủ sẽ sinh bệnh. Gặp Hóa Kị tinh, đặc biệt là sao Hóa Kị ở hạn niên, thì bệnh phát rất nhanh; không có cát tình mà gặp sát tinh hội tụ, thì nguy hiểm đến tính mạng là rất lớn.

Cung Nô Bộc có thể xem bệnh tật không rõ nguyên nhân, sợ gặp Phá Quân, đặc biệt là cung trở thành hung mà ở tại Tý Mão Thìn Ngọ Mùi thì họa sảy ra nhanh. Cung Nôn Bộc còn có thể xem về tai họa do con người, cung nô bộc hung thì dễ bị tiểu nhân hãm hại mà phải chuốc lấy tai họa.

2, Xem về bệnh tật khi cung Mệnh tọa ở 12 cung địa chi

Cung Tý: Thần kinh và Tim suy nhược, dễ quên tim đập mạnh. Cung Sửu: Phong thấp, bệnh ngoài da, bàn chân yếu vô lực. Cung Dần: Bệnh về chi dưới, chứng đờm, bệnh ung thư hoặc ung nhọt. Cung Mão: Sỏi thận, bệnh trĩ. Cung Thìn: Tì Vị lá lách thận yếu, hay quên, lưng xương sống mền yếu. Cung Tị: Tì Lá Lách, Thân yếu, mệt mỏi hay quên. Cung Ngọ: Tim không tốt, tim đập nhanh loạn nhịp, bệnh gan vàng da.

Cung Mùi: Bệnh đau dạ dày, tiêu hóa không tốt. Cung Thân: Bệnh phổi, ho khan. Cung Dậu: Viêm khí quản, tim không tốt. Cung Tuất: Trúng gió chóng mặt, tinh thần rối loạn, răng đau. Cung Hợi: Bệnh gút, tứ chi tê liệt.

3, Các tổ hợp ở các cung khác không tốt cũng là nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh tật (không giới hạn ở cung Tật, có một số có thể từ toàn bộ lá số để xem), như:

①, Kình Dương và Thái Âm đồng cung, hoặc ở cung xung chiếu với Thái Âm, dễ bị bệnh gan.

②, Tham Lang và Đà La đồng cung, Thận kém dương suy.

③, Thái Dương và Hỏa Tinh đồng cung, mắt có thương tật; Thái Dương và Dương Đà Linh Tinh đồng cung hoặc Thái Dương Hóa Kị, hai mắt đau nhiều bệnh.

④, Thiên Đồng thêm Đà La, mắt mù, hoặc bị bệnh phù thũng. Cùng Âm hội Dương Đà thì chủ về nhiều bệnh.

⑤, Cung Phụ Mẫu Hóa Kị, bị bệnh thì khi xấu khi tốt hoặc bệnh lao, bệnh kết hạch (cách gọi của Đông Y). Cung Phụ Mẫu gặp một trong những sao là Sát Phá thì đa số phá tướng, thêm sát tinh càng đúng.

⑥, Thái Âm tọa Mệnh thất hãm, dễ bị nội tiết trở ngại. Cung Mệnh thân hội Cự Dương Đà, thất hãm dễ mắc bệnh kín (bệnh khó nói) bám lấy thân.

⑦, Mệnh vô cát tinh, cung Tật ách có hai sao Nhật Nguyệt, chủ nhân mắt dễ bị mù và lưng gù, kèm theo tật bệnh kéo dài.

⑧, Mệnh cung có Hồng Hỷ, cung Tật Ách có Sát Phá Kình; hoặc trái lại, Mệnh cung Sát Phá Kình, cung Tật Ách có Hồng Hỉ, chủ về bị phẫu thuật, ngoại thương.

⑨, Nhật Nguyệt gặp Không vong, lưng gù mắt lác.

★二、伤灾及意外灾厄. Thương tai và tai họa bất ngờ

Nói chung luận về tổn thương tai họa phá tướng, thì lấy cung Mệnh thân và Phụ mẫu để xem, trong cung có hung sát tinh, báo hiệu tin tức có tổn thương tai họa phá tướng, Người mà cung mệnh thân có một trong những Tứ Sát tinh, đa số phá tướng. Cung mệnh thân độc tọa Hỏa tinh hoặc Linh tinh, thì trên cơ thể sẽ có vết thẹo. Đầu mặt khuyết hãm, như mắt mù mịt, sứt môi, vết đốm, vết sẹo… , cung Mệnh thân Phụ Mẫu gặp gặp hung sát tụ tập là do di truyền từ tiên thiên (bẩm sinh) gây nên, Cung Tật Di gặp sát tinh tụ tập là do hậu thiên tức do con người gây nên. ba Cung Mệnh Phụ Mẫu Tật Ách đều gặp Sát, tất bị phá tướng thương tàn. Họa bất ngờ do bên ngoài và xe cộ gây nên, lấy cung Thiên Di làm chủ, kiêm xem cùng cung Mệnh và Tật Ách.

Sao Kình Dương là sao đại biểu cho cảnh máu me, nhập Mệnh, tuế hạn hoặc thấy ở đối cung, thì cần phải cẩn thận bị thương tổn tai họa thủ thuật, dễ có tai họa thương tổn do vật nhọn. Mệnh cung có Kình Dương, Thân cung có Đà La, cuộc đời dễ có tai nạn máu me hoặc thủ thuật. Dương Đà kẹp Đại Hung; Dương Đà giáp Kị cực hung hiểm, cung Đại vận, Lưu niên Tiểu hạn cung nhập chủ về bản thân có hung hiểm, cung Lục Thân nhập thì lục thân hung.

Cung Mệnh Thân thấy các hung tinh giao hội như Vũ Khúc, Thất Sát, Thiên Hình, Thiên Hư, Thiên Khốc, Thiên Không, dễ đi vào con đường hắc đạo giang hồ, cũng dễ gặp thương tổn hoặc hình tai. Gặp Linh Xương Đà Vũ đồng cung, phòng nơi nước hiểm hoặc nhảy sông tự tử; lại gặp sao Hóa Kị, tai kiếp lớn mang tính kịch liệt.

Cự Môn Hỏa Linh tại cung Thiên Di, không có cát tất có họa về xe cộ, có Thiên Cơ đồng cung càng cần phải cẩn thận. Cự Môn Linh Tinh gặp hạn xấu, chết ở ngoài đường.

Cung Thiên di có các hung tinh như Kình Dương, Phi Liêm, Bạch Hổ, Phá Toái, Âm Sát, Địa Kiếp, Hóa Kị tụ hội, ra ngoài dễ sinh tai họa; lại giao hội với các sao giao thông như Cự Môn, Đà La, Thiên Mã, Thiên Cơ, dễ có họa về xe cô; lại giao hội với các Vũ Đẩu tinh như Vũ Khúc, Thất Sát, Thiên Hình, thì xuất ngoại dễ có hành vi đánh nhau hiểm ác, cũng dễ bị thương tật do hình vi hiểm ác của mình; Khi giao hội với các sao Đào Hoa như Hồng Loan, Thiên Hỉ, thì đi ra ngoài dễ có tai họa máu me, khi Hóa Kị của Can lưu niên nhập vào cung này, thì cần đặc biệt chú ý. (cung Mệnh thân, tiểu hanh có hung sát và Hồng Hỉ, lưu niên Hóa Kị đến đó, cũng hung, gặp Lưu Hồng Loan, Lưu Thiên Hi cũng đoán vậy). Gặp Hóa Kị thì tương đối cấp bách (nhanh), gặp Đà La thì tương đối chậm chạp, tam phương không có cát tinh cứu viện chủ hung vong.

Liêm Trinh cũng là sao địa biểu cho máu me, Liêm Sát, Liêm Phá tại cung Thiên di thêm Sát, dễ phát sinh tai nạn xe cộ ngoại thương.

Thiên Cơ, Cơ Cự ở Cung Thiên di thêm sát Hóa Kị, dễ phát sinh tai nạn xe cộ, lại thêm Thiên Mã Không Kiếp càng nghiêm trọng, mà cũng chủ về dễ có tai nạn hàng không phát sinh hoặc tổn thương do rơi từ trên cao.

Mệnh cung với Cự Môn và Hỏa Tinh, Kình Dương đồng cung phòng hung tai hoặc tự sát, thất hãm càng đúng.

Mệnh cung có các sao Tham Lang Xương Khúc, dễ có bất ngờ ngã té từ trên cao, thêm Không Kiếp rất nặng. Vận Hạn gặp Không Kiếp cũng dễ té ngã rơi, không nên di chuyển bằng máy bay.

Mệnh cung hoặc cung xung chiếu có Liêm Sát, Liêm Phá thêm cát tinh, phòng tai nạn xe cộ, đi xa gặp nạn, tự sát….

Cung Tật ách có Vũ Khúc Hóa Kị thêm Thiên Hình, Kình Dương, dễ phát sinh thương tàn.

Cung Mệnh Thân có Thất Sát và Kình dương đồng cung, nên tránh xa chỗ binh đao, không nên tham gia tác chiến quân đội, đề phòng thương vong bất ngờ.

Mệnh cung có Phá Quân và Văn Khúc Hóa Kị đồng cung, không nên gần những nơi có nước, dễ phát sinh thủy tai, lao đầu xuống sông.

Mệnh cung có Liên Hỏa cùng ở hãm cung, Thái Âm Văn Khúc cư ở hãm cung Hóa Kị, dễ có những suy nghĩ luẩn quẩn cực đoan, dễ tự sát, nữ mệnh càng nghiệm.

Mệnh cung có Liêm trinh hội thêm tứ sát hoặc Địa Kiếp chủ về ngoại thương, hoặc có bệnh về mặt tinh thần, Thai Âm thêm Không Kiếp cũng luận như vậy.

Phá Quân nhập mệnh hoặc Tật ách cùng Dương Đà đồng cung, chủ ngoại thương hoặc bị phẫu thuật.

Phá Toái ở Mệnh Tật đóng ở hai cung Tị Dậu gặp Phá Quân Địa Kiếp, có thể phát sinh việc máu me và phá tướng rất cao.

Thân cung có Sát Kỵ Hình, thân thể dễ bị tổn thương một cách nhanh chóng, hạn niên Hóa Kị xung động thì ứng tai họa, gặp Dương Đà kẹp Kị sẽ hung tử.

Tai họa về kiện cáo lao ngục.

Tai họa về kiện cáo lao tù lấy mệnh cung làm chủ, kiêm xem cung Quan Lộc. Dưới đây là các tin tức thông tin phạm tội cụ thể.

Dương Đà nhập mệnh, sinh ra là người hiếu thắng hiều chiến, phạm tội có ý thức, nếu hãm địa gia hội thêm Hỏa Linh Kị càng hung.

Hỏa Linh nhập mệnh, sinh ra là người nóng nảy dễ bị kích động, không lường trước hậu quả, hãm địa gia hội thêm Dương Đà Kị càng hung.

Không Kiếp nhập mệnh, hành vi ngạo mạn, là người xem thường phép nước kỷ cương, gia hội thêm tứ sát Kị càng hung.

Hóa Kị thủ mệnh, là người hẹp hòi ích kỷ, tư tưởng hồ đồ cố chấp mê muội, gia hội thêm lục sát càng hung.

Tứ Sát hỗn tạp, Dương Đà Hỏa Linh đồng cung tối hung, Dương Hỏa và Đà Linh do chế áp nhau mà có sự giảm bớt hung hiểm. Tứ Sát và Hóa Kị có hai cái trên thủ cung mệnh, thì khó tránh khỏi lao ngục; Ba nhóm sao gồm Tứ Sát, Hóa Kị, Thất Sát hội tụ ở mệnh cung, thì tỉ lệ phạm tội cũng rất cao; lại gia hội thêm Thiên Hình, dễ bị tử hình hoặc chết thảm.

Các sao Sát Phá Tham Liêm Vũ Cự cùng với Dương Đà thủ mệnh, là người lòng dạ độc ác, to gan lớn mật.

Thiên Cơ tọa mệnh, tam phương tụ họp tứ sát, là đồ trộm cướp.

Thiên Cơ cung Tị Hợi thủ mệnh, thêm Đà La, là kẻ đầu cơ trục lợi, âm mưu hại người.

Âm hoặc Dương hãm địa thủ mệnh, thêm Sát, Hóa Kị, thiếu sự giáo dưỡng, dễ phạm tội mà ngồi tù.

Vũ Khúc Đà La tại Thìn Tuất, Tị Hợi đồng cung thủ mệnh, là người gian xảo dối tra, có lòng tham không đáy. lừa bịp cướp giật.

Vũ Khúc với Hỏa hoặc Linh thủ mệnh, tam phương hội Dương Đà, là người vì lợi ích mà mê muội tâm can, sẵn sàng vì tiền mà cầm dao.

Đồng Âm cung Ngọ thủ mệnh, gia hội Hỏa Linh, là kẻ ám tối ác độc, giết người cướp bóc.

Liêm Tướng và Kình Dương đồng cung thủ mệnh, là kẻ du côn lưu manh, dẽ phạm phải kiện cáo ngục hình.

Liêm Phủ và Đà La đồng cung thủ mệnh, là kẻ có tâm tính tàn nhẫn, gặp Hóa Kị càng có tính ngược đãi xằng bậy.

Liêm Trinh thêm Bạch Hổ, khó thoát khỏi hình phạt bằng gậy. Liêm Trinh hãm địa thêm Thiên Hình hoặc Sát. Liêm Trinh tại Mão Dậu, Kình Dương tại Sửu Mùi. Liêm Trinh Tị Hợi, Kình Dương tại Mão Dậu.

Liêm Trinh cung Thân Hóa Kị thủ mệnh, thêm Tả Phụ Linh Tinh, buôn lậu phạm pháp.

Thái Dương hãm địa hội Thiên Hình; Thái Dương tại Mão, Kình Dương tại Dậu; Thái Dương Hóa Kị hội Thiên Hình, Bạch Hổ.

Thiên Đồng hội Kình Dương.

Phủ, Tướng, Lương tại Tị Hợi cùng Đà La đồng cung thủ mệnh, Cự Môn ở cung Tứ mộ Hóa Kị thủ mệnh, Cự Môn ở cung Dần Thân thủ mệnh thêm Đà Hỏa Linh, Tham Lang Hóa Kị thủ mệnh gia hội thêm Tứ Sát Thiên Hình, một trong những sao Thiên Hình và Tứ Sát thủ mệnh, một trong những sao Hóa Kị và Tứ Sát thủ mệnh, đều dễ có liên quan đến kiện tụng lao tù.

Cự Môn thủ mệnh thêm Tứ Sát, nếu không gặp kiện cáo thì nhất định có hình thương.

Thất Sát thủ mệnh them Tứ Sát, nếu không gặp kiện cáo thì nhất định có thương tàn.

Phá Quân thủ mệnh thêm Tứ Sát, là người cực đoan ích kỷ, có thói thích cờ bạc. Phá linh tại Thân thủ mệnh, cung Quan Lộc gặp Bạch Hổ. Phá Quân cư Dần Thân Tị Hợi thủ Mệnh thân, thêm Thiêm Mã và Sát Kị tinh, nhất định sẽ phạm pháp ngồi tù.

Mệnh cung có Tứ Sát thủ chiếu, lại gặp Xương Khúc Hóa Kị thủ chiếu.

Mệnh cung có Quan Phù, gặp Tứ Sát thủ chiếu.

Thất Sát thủ mệnh, gia hội thêm Dương Linh Bạch Hổ, là đầu sỏ băng đảng xã hội đen.

Tham Lang Dần Thân thủ mệnh, thêm Đà La, hoặc Tam phương có Dương Đà Thiên Hình hội hợp, vì sắc mà vong thân. Tham Lang hãm địa Hóa Kị thêm Thiên Hình.

Sát Phá Liêm Vũ Cự Cơ cùng Hóa Kị thủ mệnh, tam phương lại hội Tứ Sát.

Sát Phá Tham cùng Hóa Khoa thủ mệnh, lại gia hội chiếu Tứ Sát.

Mệnh Thân có Không Kiếp Kị, lại gia hội chiếu Tứ Sát.

Hỏa Linh kẹp mệnh, Mệnh cung hãm mà vô cát.

Dương Đà giáp mệnh, Mệnh cung có Hóa Kị hoặc Hỏa Linh.

Cung Quan Lộc có Liêm Trinh Hóa Kị, Liêm Trinh và Kình Dương đồng cung, Thất Sát và Kình Dương đồng cung, Vũ Sát và Kình Dương đồng cung, Thất Sát thêm thất sát thủ chiếu.

Cung Thiên Di có Thất Sát thêm Dương hoặc Đà, Thất sát thêm Quan Phù hoặc Lực Sỹ, Liêm Sát thêm Tứ Sát Hóa Kị, Vũ Sát thêm Tứ Sát Hóa Kị, Thất Sát thêm các sao như Tứ Sát, Hóa Kị, Thiên Hình, Quan Phù.

Cung Phu Thê có Thất Sát thêm tứ sát Thiên Hình, thì người phối ngẫu ngồi tù, không ly hôn thì hình khắc tử vong.

(Tử vi đẩu số tinh hoa tập thành – Nhóm Thiên Hỏa Đồng Nhân biên dịch)

Đăng bởi: Phật Giáo Việt Nam

Chuyên mục: Học tử vi

Xem thêm Tiết 7: Luận Tật Ách

Tật chỉ bệnh tật, ách chỉ bất ngờ tai họa và lao ngục. v. v… Mệnh cung xem tai ách mang tính toàn diện, đặc biệt là việc sinh tử an nguy nhất định xem cung Mệnh. Việc phân tích tai họa bệnh tật quan trọng sẽ có luận thuật tỉ mỉ ở quyển hạ.

Cung Tật Ách luận bệnh tật, chỉ là tin tức của một phương diện mà không biết bệnh tật phát sinh nặng hay nhẹ, còn với bản cung và tam phương việc có hay không cát tinh, sự vượng suy của sao giải tai họa và sao đóng ở trong cung, ví dụ về hung cát tinh, hạn niên có quan hệ đến tình hình tăng tính khởi phát hung họa hay không. Trên mệnh bàn tiên thiên thì bệnh tật hiển thị chỉ là khuynh hướng bệnh tật mang tính bản chất, việc sẽ phát sinh hay không, còn cần xem hoàn cảnh tình hình khởi phát của tuế hạn. Ví dụ cung Tật Ách của mệnh cục gốc đã có sự ẩn tàng hung hiểm, cung Tật Ách của hạn niên lại gặp ác sát xung khắc, Hóa Kị dẫn động, sẽ dễ dàng gây nên bệnh tật; xem hạn niên, cũng lấy bản chất cung Tật Ách ở nguyên mệnh làm chủ, xem tổ hợp tinh diệu cung Tật Ách của Đại Tiểu hạn lưu niên, là mức độ tính chất bệnh tật tăng hay giảm nặng hay nhẹ, để định thời gian bệnh tật phát sinh.

★一、如何看疾病. Xem bệnh tật như thế nào

1, Xem sức khỏe và bệnh tật của con người, trước tiên cần xem xét sự miếu hãm và cát hung của các sao trong cung Mệnh ra sao, lại xem sự thiện ác, miếu hãm và cát hung của tinh diệu trong cung Tật Ách, và sự cát hung của cung Phụ Mẫu, để tiến hành tổng hợp phân tích luận đoán. Mệnh cung có cát tinh miếu vượng tọa thủ, tam phương tứ chính lại có nhiều cát tinh hội tụ mà không có hung tinh, cho dù cung Tật Ách nhiều hung tinh, thì cũng không thể cho rằng sức khỏe người này không tốt, hoặc dẫu có bệnh khí nhất thời cũng có thể nhanh chóng được chữa trị. Chủ tinh cung Mệnh thân thất hãm lại thêm ác diệu, tất có tai họa bệnh tật, nhưng các loại tai họa bệnh tật này bao gồm ở nhiều phương diện như sự nghiệp, tài vận, tai nạn bệnh tật, mà không nhất định chỉ là bệnh tật về thân thể, nếu như cung Tài Quan Di cát mà cung Tật Ách hung hoặc khi cung Tật Ách ở Hạn Niên hung là cuộc đời nhiều bệnh tật thương tai; Nếu như Tài Quan hung mà khi cung Tật Ách cát hoặc khi gặp cung Tài Quan ở Hạn Niên hung thì đa số sự nghiệp, tài vận sẽ xuất hiện vấn đề; Tuy nhiên, cho dù cung Tật Ách có cát tinh tọa thủ, cũng không thể cho rằng người này thân thể sức khỏe nhất định tốt, mà cần xem chủ tinh như thế nào mà định, có thể xem chương 8 và những luận thuật về bệnh tật có liên quan dưới đây. Người có Cung Mệnh cung Phúc tốt khi bị bệnh dễ có cứu, duy chỉ khi ở đại tiểu hanh gặp hung mới khó cứu.

Cung bệnh tật chủ yếu xem về bệnh lý, cung Phụ Mẫu xem về bệnh di truyền và phá tướng, cung Phúc Đức thì xem bệnh tâm lý (tâm bệnh), trạng thái tinh thần, cùng với chứng bệnh ảnh hưởng đến tinh thần và sự hưởng thụ, hung thì đa số dấy hiệu báo trước bệnh tật mang tính từ từ như tinh thần gặp trở ngại cùng với việc nó sẽ đi theo suốt cuộc đời

Mỗi một sao trong cung Tật Ách đại biểu cho một loại bệnh tật tai họa ẩn chứa bên trong, nhưng nên lấy chủ tinh làm bản chất chính cho bệnh tật, xem tổ hợp phụ tinh và chính tinh, là chứng bệnh mà chủ tinh đại biểu thêm mạnh hay yếu.

Tinh diệu trong Cung Tật ách, đặc biệt là tinh diệu thất hãm và Hóa Kị, đại biểu cho khí quan bạc nhược và nguồn bệnh tai họa ám tàng trong cơ thể. Chủ yếu từ ngũ hành âm dượng của tinh diệu mà cung nó tọa để tra ra tạng phủ tương ứng có bệnh và các loại bệnh tật khác. Ví dụ Tì Vị (lá lách và dạ dày) thuộc thổ, gan mật thuộc mộc, Phổi phủ tạng kinh thuộc kim, tim huyết quản thuộc hỏa, Thận và hệ thống tiết liệu thuộc thủy. Sự nặng nhẹ của bệnh tật, cần xem tình hình của Tứ Sát cùng thủ. Có Sát thì bệnh nặng, không có sát và tam phương có cát thì bệnh nhẹ. Nói chúng nếu thấy các tinh diệu như Sát Kị Hình Hao Hư là nhanh chóng có sự ứng nghiệm về bệnh tật, tức chủ sẽ sinh bệnh. Gặp Hóa Kị tinh, đặc biệt là sao Hóa Kị ở hạn niên, thì bệnh phát rất nhanh; không có cát tình mà gặp sát tinh hội tụ, thì nguy hiểm đến tính mạng là rất lớn.

Cung Nô Bộc có thể xem bệnh tật không rõ nguyên nhân, sợ gặp Phá Quân, đặc biệt là cung trở thành hung mà ở tại Tý Mão Thìn Ngọ Mùi thì họa sảy ra nhanh. Cung Nôn Bộc còn có thể xem về tai họa do con người, cung nô bộc hung thì dễ bị tiểu nhân hãm hại mà phải chuốc lấy tai họa.

2, Xem về bệnh tật khi cung Mệnh tọa ở 12 cung địa chi

Cung Tý: Thần kinh và Tim suy nhược, dễ quên tim đập mạnh. Cung Sửu: Phong thấp, bệnh ngoài da, bàn chân yếu vô lực. Cung Dần: Bệnh về chi dưới, chứng đờm, bệnh ung thư hoặc ung nhọt. Cung Mão: Sỏi thận, bệnh trĩ. Cung Thìn: Tì Vị lá lách thận yếu, hay quên, lưng xương sống mền yếu. Cung Tị: Tì Lá Lách, Thân yếu, mệt mỏi hay quên. Cung Ngọ: Tim không tốt, tim đập nhanh loạn nhịp, bệnh gan vàng da.

Cung Mùi: Bệnh đau dạ dày, tiêu hóa không tốt. Cung Thân: Bệnh phổi, ho khan. Cung Dậu: Viêm khí quản, tim không tốt. Cung Tuất: Trúng gió chóng mặt, tinh thần rối loạn, răng đau. Cung Hợi: Bệnh gút, tứ chi tê liệt.

3, Các tổ hợp ở các cung khác không tốt cũng là nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh tật (không giới hạn ở cung Tật, có một số có thể từ toàn bộ lá số để xem), như:

①, Kình Dương và Thái Âm đồng cung, hoặc ở cung xung chiếu với Thái Âm, dễ bị bệnh gan.

②, Tham Lang và Đà La đồng cung, Thận kém dương suy.

③, Thái Dương và Hỏa Tinh đồng cung, mắt có thương tật; Thái Dương và Dương Đà Linh Tinh đồng cung hoặc Thái Dương Hóa Kị, hai mắt đau nhiều bệnh.

④, Thiên Đồng thêm Đà La, mắt mù, hoặc bị bệnh phù thũng. Cùng Âm hội Dương Đà thì chủ về nhiều bệnh.

⑤, Cung Phụ Mẫu Hóa Kị, bị bệnh thì khi xấu khi tốt hoặc bệnh lao, bệnh kết hạch (cách gọi của Đông Y). Cung Phụ Mẫu gặp một trong những sao là Sát Phá thì đa số phá tướng, thêm sát tinh càng đúng.

⑥, Thái Âm tọa Mệnh thất hãm, dễ bị nội tiết trở ngại. Cung Mệnh thân hội Cự Dương Đà, thất hãm dễ mắc bệnh kín (bệnh khó nói) bám lấy thân.

⑦, Mệnh vô cát tinh, cung Tật ách có hai sao Nhật Nguyệt, chủ nhân mắt dễ bị mù và lưng gù, kèm theo tật bệnh kéo dài.

⑧, Mệnh cung có Hồng Hỷ, cung Tật Ách có Sát Phá Kình; hoặc trái lại, Mệnh cung Sát Phá Kình, cung Tật Ách có Hồng Hỉ, chủ về bị phẫu thuật, ngoại thương.

⑨, Nhật Nguyệt gặp Không vong, lưng gù mắt lác.

★二、伤灾及意外灾厄. Thương tai và tai họa bất ngờ

Nói chung luận về tổn thương tai họa phá tướng, thì lấy cung Mệnh thân và Phụ mẫu để xem, trong cung có hung sát tinh, báo hiệu tin tức có tổn thương tai họa phá tướng, Người mà cung mệnh thân có một trong những Tứ Sát tinh, đa số phá tướng. Cung mệnh thân độc tọa Hỏa tinh hoặc Linh tinh, thì trên cơ thể sẽ có vết thẹo. Đầu mặt khuyết hãm, như mắt mù mịt, sứt môi, vết đốm, vết sẹo… , cung Mệnh thân Phụ Mẫu gặp gặp hung sát tụ tập là do di truyền từ tiên thiên (bẩm sinh) gây nên, Cung Tật Di gặp sát tinh tụ tập là do hậu thiên tức do con người gây nên. ba Cung Mệnh Phụ Mẫu Tật Ách đều gặp Sát, tất bị phá tướng thương tàn. Họa bất ngờ do bên ngoài và xe cộ gây nên, lấy cung Thiên Di làm chủ, kiêm xem cùng cung Mệnh và Tật Ách.

Sao Kình Dương là sao đại biểu cho cảnh máu me, nhập Mệnh, tuế hạn hoặc thấy ở đối cung, thì cần phải cẩn thận bị thương tổn tai họa thủ thuật, dễ có tai họa thương tổn do vật nhọn. Mệnh cung có Kình Dương, Thân cung có Đà La, cuộc đời dễ có tai nạn máu me hoặc thủ thuật. Dương Đà kẹp Đại Hung; Dương Đà giáp Kị cực hung hiểm, cung Đại vận, Lưu niên Tiểu hạn cung nhập chủ về bản thân có hung hiểm, cung Lục Thân nhập thì lục thân hung.

Cung Mệnh Thân thấy các hung tinh giao hội như Vũ Khúc, Thất Sát, Thiên Hình, Thiên Hư, Thiên Khốc, Thiên Không, dễ đi vào con đường hắc đạo giang hồ, cũng dễ gặp thương tổn hoặc hình tai. Gặp Linh Xương Đà Vũ đồng cung, phòng nơi nước hiểm hoặc nhảy sông tự tử; lại gặp sao Hóa Kị, tai kiếp lớn mang tính kịch liệt.

Cự Môn Hỏa Linh tại cung Thiên Di, không có cát tất có họa về xe cộ, có Thiên Cơ đồng cung càng cần phải cẩn thận. Cự Môn Linh Tinh gặp hạn xấu, chết ở ngoài đường.

Cung Thiên di có các hung tinh như Kình Dương, Phi Liêm, Bạch Hổ, Phá Toái, Âm Sát, Địa Kiếp, Hóa Kị tụ hội, ra ngoài dễ sinh tai họa; lại giao hội với các sao giao thông như Cự Môn, Đà La, Thiên Mã, Thiên Cơ, dễ có họa về xe cô; lại giao hội với các Vũ Đẩu tinh như Vũ Khúc, Thất Sát, Thiên Hình, thì xuất ngoại dễ có hành vi đánh nhau hiểm ác, cũng dễ bị thương tật do hình vi hiểm ác của mình; Khi giao hội với các sao Đào Hoa như Hồng Loan, Thiên Hỉ, thì đi ra ngoài dễ có tai họa máu me, khi Hóa Kị của Can lưu niên nhập vào cung này, thì cần đặc biệt chú ý. (cung Mệnh thân, tiểu hanh có hung sát và Hồng Hỉ, lưu niên Hóa Kị đến đó, cũng hung, gặp Lưu Hồng Loan, Lưu Thiên Hi cũng đoán vậy). Gặp Hóa Kị thì tương đối cấp bách (nhanh), gặp Đà La thì tương đối chậm chạp, tam phương không có cát tinh cứu viện chủ hung vong.

Liêm Trinh cũng là sao địa biểu cho máu me, Liêm Sát, Liêm Phá tại cung Thiên di thêm Sát, dễ phát sinh tai nạn xe cộ ngoại thương.

Thiên Cơ, Cơ Cự ở Cung Thiên di thêm sát Hóa Kị, dễ phát sinh tai nạn xe cộ, lại thêm Thiên Mã Không Kiếp càng nghiêm trọng, mà cũng chủ về dễ có tai nạn hàng không phát sinh hoặc tổn thương do rơi từ trên cao.

Mệnh cung với Cự Môn và Hỏa Tinh, Kình Dương đồng cung phòng hung tai hoặc tự sát, thất hãm càng đúng.

Mệnh cung có các sao Tham Lang Xương Khúc, dễ có bất ngờ ngã té từ trên cao, thêm Không Kiếp rất nặng. Vận Hạn gặp Không Kiếp cũng dễ té ngã rơi, không nên di chuyển bằng máy bay.

Mệnh cung hoặc cung xung chiếu có Liêm Sát, Liêm Phá thêm cát tinh, phòng tai nạn xe cộ, đi xa gặp nạn, tự sát….

Cung Tật ách có Vũ Khúc Hóa Kị thêm Thiên Hình, Kình Dương, dễ phát sinh thương tàn.

Cung Mệnh Thân có Thất Sát và Kình dương đồng cung, nên tránh xa chỗ binh đao, không nên tham gia tác chiến quân đội, đề phòng thương vong bất ngờ.

Mệnh cung có Phá Quân và Văn Khúc Hóa Kị đồng cung, không nên gần những nơi có nước, dễ phát sinh thủy tai, lao đầu xuống sông.

Mệnh cung có Liên Hỏa cùng ở hãm cung, Thái Âm Văn Khúc cư ở hãm cung Hóa Kị, dễ có những suy nghĩ luẩn quẩn cực đoan, dễ tự sát, nữ mệnh càng nghiệm.

Mệnh cung có Liêm trinh hội thêm tứ sát hoặc Địa Kiếp chủ về ngoại thương, hoặc có bệnh về mặt tinh thần, Thai Âm thêm Không Kiếp cũng luận như vậy.

Phá Quân nhập mệnh hoặc Tật ách cùng Dương Đà đồng cung, chủ ngoại thương hoặc bị phẫu thuật.

Phá Toái ở Mệnh Tật đóng ở hai cung Tị Dậu gặp Phá Quân Địa Kiếp, có thể phát sinh việc máu me và phá tướng rất cao.

Thân cung có Sát Kỵ Hình, thân thể dễ bị tổn thương một cách nhanh chóng, hạn niên Hóa Kị xung động thì ứng tai họa, gặp Dương Đà kẹp Kị sẽ hung tử.

Tai họa về kiện cáo lao ngục.

Tai họa về kiện cáo lao tù lấy mệnh cung làm chủ, kiêm xem cung Quan Lộc. Dưới đây là các tin tức thông tin phạm tội cụ thể.

Dương Đà nhập mệnh, sinh ra là người hiếu thắng hiều chiến, phạm tội có ý thức, nếu hãm địa gia hội thêm Hỏa Linh Kị càng hung.

Hỏa Linh nhập mệnh, sinh ra là người nóng nảy dễ bị kích động, không lường trước hậu quả, hãm địa gia hội thêm Dương Đà Kị càng hung.

Không Kiếp nhập mệnh, hành vi ngạo mạn, là người xem thường phép nước kỷ cương, gia hội thêm tứ sát Kị càng hung.

Hóa Kị thủ mệnh, là người hẹp hòi ích kỷ, tư tưởng hồ đồ cố chấp mê muội, gia hội thêm lục sát càng hung.

Tứ Sát hỗn tạp, Dương Đà Hỏa Linh đồng cung tối hung, Dương Hỏa và Đà Linh do chế áp nhau mà có sự giảm bớt hung hiểm. Tứ Sát và Hóa Kị có hai cái trên thủ cung mệnh, thì khó tránh khỏi lao ngục; Ba nhóm sao gồm Tứ Sát, Hóa Kị, Thất Sát hội tụ ở mệnh cung, thì tỉ lệ phạm tội cũng rất cao; lại gia hội thêm Thiên Hình, dễ bị tử hình hoặc chết thảm.

Các sao Sát Phá Tham Liêm Vũ Cự cùng với Dương Đà thủ mệnh, là người lòng dạ độc ác, to gan lớn mật.

Thiên Cơ tọa mệnh, tam phương tụ họp tứ sát, là đồ trộm cướp.

Thiên Cơ cung Tị Hợi thủ mệnh, thêm Đà La, là kẻ đầu cơ trục lợi, âm mưu hại người.

Âm hoặc Dương hãm địa thủ mệnh, thêm Sát, Hóa Kị, thiếu sự giáo dưỡng, dễ phạm tội mà ngồi tù.

Vũ Khúc Đà La tại Thìn Tuất, Tị Hợi đồng cung thủ mệnh, là người gian xảo dối tra, có lòng tham không đáy. lừa bịp cướp giật.

Vũ Khúc với Hỏa hoặc Linh thủ mệnh, tam phương hội Dương Đà, là người vì lợi ích mà mê muội tâm can, sẵn sàng vì tiền mà cầm dao.

Đồng Âm cung Ngọ thủ mệnh, gia hội Hỏa Linh, là kẻ ám tối ác độc, giết người cướp bóc.

Liêm Tướng và Kình Dương đồng cung thủ mệnh, là kẻ du côn lưu manh, dẽ phạm phải kiện cáo ngục hình.

Liêm Phủ và Đà La đồng cung thủ mệnh, là kẻ có tâm tính tàn nhẫn, gặp Hóa Kị càng có tính ngược đãi xằng bậy.

Liêm Trinh thêm Bạch Hổ, khó thoát khỏi hình phạt bằng gậy. Liêm Trinh hãm địa thêm Thiên Hình hoặc Sát. Liêm Trinh tại Mão Dậu, Kình Dương tại Sửu Mùi. Liêm Trinh Tị Hợi, Kình Dương tại Mão Dậu.

Liêm Trinh cung Thân Hóa Kị thủ mệnh, thêm Tả Phụ Linh Tinh, buôn lậu phạm pháp.

Thái Dương hãm địa hội Thiên Hình; Thái Dương tại Mão, Kình Dương tại Dậu; Thái Dương Hóa Kị hội Thiên Hình, Bạch Hổ.

Thiên Đồng hội Kình Dương.

Phủ, Tướng, Lương tại Tị Hợi cùng Đà La đồng cung thủ mệnh, Cự Môn ở cung Tứ mộ Hóa Kị thủ mệnh, Cự Môn ở cung Dần Thân thủ mệnh thêm Đà Hỏa Linh, Tham Lang Hóa Kị thủ mệnh gia hội thêm Tứ Sát Thiên Hình, một trong những sao Thiên Hình và Tứ Sát thủ mệnh, một trong những sao Hóa Kị và Tứ Sát thủ mệnh, đều dễ có liên quan đến kiện tụng lao tù.

Cự Môn thủ mệnh thêm Tứ Sát, nếu không gặp kiện cáo thì nhất định có hình thương.

Thất Sát thủ mệnh them Tứ Sát, nếu không gặp kiện cáo thì nhất định có thương tàn.

Phá Quân thủ mệnh thêm Tứ Sát, là người cực đoan ích kỷ, có thói thích cờ bạc. Phá linh tại Thân thủ mệnh, cung Quan Lộc gặp Bạch Hổ. Phá Quân cư Dần Thân Tị Hợi thủ Mệnh thân, thêm Thiêm Mã và Sát Kị tinh, nhất định sẽ phạm pháp ngồi tù.

Mệnh cung có Tứ Sát thủ chiếu, lại gặp Xương Khúc Hóa Kị thủ chiếu.

Mệnh cung có Quan Phù, gặp Tứ Sát thủ chiếu.

Thất Sát thủ mệnh, gia hội thêm Dương Linh Bạch Hổ, là đầu sỏ băng đảng xã hội đen.

Tham Lang Dần Thân thủ mệnh, thêm Đà La, hoặc Tam phương có Dương Đà Thiên Hình hội hợp, vì sắc mà vong thân. Tham Lang hãm địa Hóa Kị thêm Thiên Hình.

Sát Phá Liêm Vũ Cự Cơ cùng Hóa Kị thủ mệnh, tam phương lại hội Tứ Sát.

Sát Phá Tham cùng Hóa Khoa thủ mệnh, lại gia hội chiếu Tứ Sát.

Mệnh Thân có Không Kiếp Kị, lại gia hội chiếu Tứ Sát.

Hỏa Linh kẹp mệnh, Mệnh cung hãm mà vô cát.

Dương Đà giáp mệnh, Mệnh cung có Hóa Kị hoặc Hỏa Linh.

Cung Quan Lộc có Liêm Trinh Hóa Kị, Liêm Trinh và Kình Dương đồng cung, Thất Sát và Kình Dương đồng cung, Vũ Sát và Kình Dương đồng cung, Thất Sát thêm thất sát thủ chiếu.

Cung Thiên Di có Thất Sát thêm Dương hoặc Đà, Thất sát thêm Quan Phù hoặc Lực Sỹ, Liêm Sát thêm Tứ Sát Hóa Kị, Vũ Sát thêm Tứ Sát Hóa Kị, Thất Sát thêm các sao như Tứ Sát, Hóa Kị, Thiên Hình, Quan Phù.

Cung Phu Thê có Thất Sát thêm tứ sát Thiên Hình, thì người phối ngẫu ngồi tù, không ly hôn thì hình khắc tử vong.

(Tử vi đẩu số tinh hoa tập thành – Nhóm Thiên Hỏa Đồng Nhân biên dịch)

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button