Tử vi

Chương 8: Toán Bức Hoành Phi Ở Chùa Tây Lâm

TOÁN BỨC HOÀNH PHI Ở CHÙA TÂY LÂM

(Đếm nét chữ viết mà toán)

Tiên sinh thoảng thấy bức hoành phi ở chùa Tây Lâm, có đề hai chữ Tây Lâm 西 林 vì chữ Lâm không có 2 nét đá, nhân đó Tiên sinh bèn toán quẻ.

Bạn đang xem: Chương 8: Toán Bức Hoành Phi Ở Chùa Tây Lâm

Tiên sinh lấy chữ Tây 西, có 7 nét là quẻ Cấn, làm Thượng quái, và chữ Lâm 林, có 8 nét là Khôn, làm Hạ quái, cả hai số nét cộng lại được 15 nét, trừ (2 lần 6 là 12) còn lại 3, được quẻ Sơn Địa Bác, động hào 3 biến thành quẻ Cấn, Hổ thấy Trùng Khôn.

CÁCH BỐ QUẺ

Chánh quái

Tên là Sơn Địa Bác

(gọi tắt là Bác-quái)

chữ Tây 7 nét thuộc

Cấn Thổ

Hào 6 _____

Hào 5 __ __

Hào 4 __ __

Chữ Lâm 8 nét thuộc

Khôn Thổ

Hào 3 __ __

Hào 2 __ __

Hào 1 __ __

Hổ quái

Khôn Thổ

Hào 6 __ __

Hào 5 __ __

Hào 4 __ __

Khôn Thổ

Hào 3 __ __

Hào 2 __ __

Hào 1 __ __

Biến quái

Cấn Mộc

Hào 3 _____

Hào 2 __ __

Hào 1 __ __

7 nét + 8 nét = 15; 15 – (2 x 6 = 12) = 3 tức là hào 3 động.

Tiên sinh đoán rằng: Chùa tất phải toàn thể trụ trì là đàn ông; mà nay quẻ lại cho biết toàn âm, tức có đàn bà (Trùng Khôn thuộc âm), ắt là có triệu chia rẽ, lấn áp của đàn bà. Tiên sinh dò hỏi ra, quả nhiên có hoạ đó. Tiên sinh bèn bảo với Sư ông trụ trì trong chùa: “Sao chữ Lâm không thêm 2 nét đá, (đúng chữ Lâm thì cuối đường kéo thẳng xuống rồi đá qua bên trái – máy không thể viết chữ có nét đá này) nếu thêm hai nét đá nữa, thì ắt trong chùa không có đàn bà, tất nhiên trong chùa không xãy ra sự lộn xộn nào hết”. Sư ông tin lời, bèn cho thêm vào chữ Lâm 2 nét đá nữa, quả nhiên trong chùa được vô sự.

Đoán rằng: Chùa ở phải toàn dương, mà quẻ lại cho biết biết toàn âm cho nên quẻ không tốt, vì có nghĩa là quần âm bác dương (đàn bà lấn áp, chia rẽ đàn ông). Nếu thêm vào chữ Lâm hai nét đá nữa, thành ra 10 nét:

10 – (1 x 8) = 2

2 tức là Đoài, hợp với qua ẻ Cấn ở Thượng quái, thì được Sơn Trạch Tổn đệ ngũ hào động, (7 + 8 – 12 (2 lần 6 là 12) = 5) Biến quái thì được Phong Trạch Trung Phu, Hổ thì thấy Khôn, Chấn. Tổn giả ích chi (Tổn là có lợi). Dụng quái, và quẻ Hổ của Dụng đều sinh Thể cả (Cấn và Khôn thuộc Thổ sinh Thể Kim), là quẻ tốt, ắt được yên ổn.

CÁCH BỐ QUẺ

Chánh quái

Tên là Sơn Trạch Tổn

(gọi tắt là Tổn-quái)

chữ Tây 7 nét thuộc

Cấn Thổ

Hào 6 _____ * Dụng

Hào 5 __ __

Hào 4 __ __

Chữ Lâm 10 nét thuộc

Đoài Kim

Hào 3 __ __ Thể

Hào 2 _____

Hào 1 _____

Hổ quái

Khôn Thổ

Hào 6 __ __

Hào 5 __ __

Hào 4 __ __

Chấn Mộc

Hào 3 __ __

Hào 2 __ __

Hào 1 _____

Biến quái

Tên là Phong Trạch Trung

(gọi tắt là Trung-phu)

Tốn Mộc

Hào 6 _____

Hào 5 _____

Hào 4 __ __

Đoài Kim

Hào 3 __ __

Hào 2 _____

Hào 1 _____

7 + 10 = 17; 17 – (2 x 6 = 12) = 5; 5 là hào 5 động.

Lưu ý: Từ toán Quan Mai cho tới toán Tây Lâm Tự đều thuộc về số Tiên Thiên, nghĩa là trước tiên dùng số, lấy số đó mà lập ra quái, cho nên gọi là Tiên Thiên Số.

(Dẫn theo trang huyenhocvadoisong.com)

Đăng bởi: Phật Giáo Việt Nam

Chuyên mục: Học tử vi

Xem thêm Chương 8: Toán Bức Hoành Phi Ở Chùa Tây Lâm

TOÁN BỨC HOÀNH PHI Ở CHÙA TÂY LÂM

(Đếm nét chữ viết mà toán)

Tiên sinh thoảng thấy bức hoành phi ở chùa Tây Lâm, có đề hai chữ Tây Lâm 西 林 vì chữ Lâm không có 2 nét đá, nhân đó Tiên sinh bèn toán quẻ.

Tiên sinh lấy chữ Tây 西, có 7 nét là quẻ Cấn, làm Thượng quái, và chữ Lâm 林, có 8 nét là Khôn, làm Hạ quái, cả hai số nét cộng lại được 15 nét, trừ (2 lần 6 là 12) còn lại 3, được quẻ Sơn Địa Bác, động hào 3 biến thành quẻ Cấn, Hổ thấy Trùng Khôn.

CÁCH BỐ QUẺ

Chánh quái

Tên là Sơn Địa Bác

(gọi tắt là Bác-quái)

chữ Tây 7 nét thuộc

Cấn Thổ

Hào 6 _____

Hào 5 __ __

Hào 4 __ __

Chữ Lâm 8 nét thuộc

Khôn Thổ

Hào 3 __ __

Hào 2 __ __

Hào 1 __ __

Hổ quái

Khôn Thổ

Hào 6 __ __

Hào 5 __ __

Hào 4 __ __

Khôn Thổ

Hào 3 __ __

Hào 2 __ __

Hào 1 __ __

Biến quái

Cấn Mộc

Hào 3 _____

Hào 2 __ __

Hào 1 __ __

7 nét + 8 nét = 15; 15 – (2 x 6 = 12) = 3 tức là hào 3 động.

Tiên sinh đoán rằng: Chùa tất phải toàn thể trụ trì là đàn ông; mà nay quẻ lại cho biết toàn âm, tức có đàn bà (Trùng Khôn thuộc âm), ắt là có triệu chia rẽ, lấn áp của đàn bà. Tiên sinh dò hỏi ra, quả nhiên có hoạ đó. Tiên sinh bèn bảo với Sư ông trụ trì trong chùa: “Sao chữ Lâm không thêm 2 nét đá, (đúng chữ Lâm thì cuối đường kéo thẳng xuống rồi đá qua bên trái – máy không thể viết chữ có nét đá này) nếu thêm hai nét đá nữa, thì ắt trong chùa không có đàn bà, tất nhiên trong chùa không xãy ra sự lộn xộn nào hết”. Sư ông tin lời, bèn cho thêm vào chữ Lâm 2 nét đá nữa, quả nhiên trong chùa được vô sự.

Đoán rằng: Chùa ở phải toàn dương, mà quẻ lại cho biết biết toàn âm cho nên quẻ không tốt, vì có nghĩa là quần âm bác dương (đàn bà lấn áp, chia rẽ đàn ông). Nếu thêm vào chữ Lâm hai nét đá nữa, thành ra 10 nét:

10 – (1 x 8) = 2

2 tức là Đoài, hợp với qua ẻ Cấn ở Thượng quái, thì được Sơn Trạch Tổn đệ ngũ hào động, (7 + 8 – 12 (2 lần 6 là 12) = 5) Biến quái thì được Phong Trạch Trung Phu, Hổ thì thấy Khôn, Chấn. Tổn giả ích chi (Tổn là có lợi). Dụng quái, và quẻ Hổ của Dụng đều sinh Thể cả (Cấn và Khôn thuộc Thổ sinh Thể Kim), là quẻ tốt, ắt được yên ổn.

CÁCH BỐ QUẺ

Chánh quái

Tên là Sơn Trạch Tổn

(gọi tắt là Tổn-quái)

chữ Tây 7 nét thuộc

Cấn Thổ

Hào 6 _____ * Dụng

Hào 5 __ __

Hào 4 __ __

Chữ Lâm 10 nét thuộc

Đoài Kim

Hào 3 __ __ Thể

Hào 2 _____

Hào 1 _____

Hổ quái

Khôn Thổ

Hào 6 __ __

Hào 5 __ __

Hào 4 __ __

Chấn Mộc

Hào 3 __ __

Hào 2 __ __

Hào 1 _____

Biến quái

Tên là Phong Trạch Trung

(gọi tắt là Trung-phu)

Tốn Mộc

Hào 6 _____

Hào 5 _____

Hào 4 __ __

Đoài Kim

Hào 3 __ __

Hào 2 _____

Hào 1 _____

7 + 10 = 17; 17 – (2 x 6 = 12) = 5; 5 là hào 5 động.

Lưu ý: Từ toán Quan Mai cho tới toán Tây Lâm Tự đều thuộc về số Tiên Thiên, nghĩa là trước tiên dùng số, lấy số đó mà lập ra quái, cho nên gọi là Tiên Thiên Số.

(Dẫn theo trang huyenhocvadoisong.com)

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button